Thursday, November 20, 2025

 


Lý thuyết Dân tộc Sanh tồn của Trương Tử Anh –

Lý thuyết Duy Dân của Lý Đông A

A-   Dân tộc Sanh tồn của Trương Tử Anh

A person in a suit and tie

AI-generated content may be incorrect.Dưới đây là tóm lược về cá nhân Trương Tử Anh và về học thuyết Dân tộc Sanh tồn, từ đó chúng ta có thể bàn tới ý nghĩa của nó và cách nhìn phê phán.

1. Tiểu sử và bối cảnh

Trương Tử Anh (1914 - 1946) tên thật Trương Kháng, người Phú Yên, tham gia hoạt động cách mạng từ những năm 1930 tại Hà Nội. Ngày 10 tháng 12 năm 1938, ông công bố hệ thống tư tưởng mang tên “Chủ nghĩa Dân tộc Sanh tồn”. Năm 1939, ông thành lập Đại Việt Quốc Dân Đảng (ĐVQDĐ) và lấy chủ nghĩa này làm nền tảng lý thuyết cho đường lối chính trị của đảng.  Học thuyết và hoạt động của ông diễn ra trong bối cảnh Việt Nam bị thực dân Pháp thống trị, và các phong trào quốc gia, dân tộc đang nảy sinh mạnh mẽ.

2. Cốt lõi của học thuyết “Dân tộc sanh tồn”

Từ các nguồn tài liệu hiện có, có thể tóm tắt những nguyên lý chính như sau:

  • Ông cho rằng các lý thuyết chính trị, triết học đương thời như chủ nghĩa cộng sản quốc tế không phù hợp với hoàn cảnh dân tộc Việt Nam vì thiếu tính liên kết với bản sắc dân tộc, xoá bỏ thực thể dân tộc. 
  • Học thuyết của ông đặt “sanh tồn” của dân tộc lên vị trí trung tâm, dân tộc muốn trường tồn phải có năng lực cạnh tranh, phải mạnh mẽ, kỷ luật và đứng vững trước các dân tộc khác. Ông từng nhận định:“Con người gồm những bản năng cơ bản là Vị kỷ, Tình dục và Xã hội … để bản năng mạnh mẽ cần có Sức mạnh, Biến cải và Hợp quần. … mỗi dân tộc, muốn sanh tồn phải có được ưu thế tương tranh để vượt lên được dân tộc khác.” 
  • Ông phân tích con người là một tổng thể “thể xác + tâm hồn”, có bản năng, và qua đó lý giải về xã hội, quốc gia:”“Con người… có trí thông minh, có tình cảm, có năng khiếu thẩm mỹ và có đức tin… giữa những hoạt động tâm sinh lý của người có một tương quan chặt chẽ.” 
  • Ông nhấn mạnh yếu tố kỷ luật và lãnh đạo mạnh: Một dân tộc muốn sanh tồn mạnh phải có nhà lãnh đạo có quyền uy, đoàn kết chặt chẽ, nghiêm túc. Ông từng phát biểu:“Theo cái nhìn này … Dân tộc nào mà muốn hùng mạnh phải có kỷ luật mạnh, và phải theo một nhà lãnh đạo có đầy đủ quyền uy mà thôi.” 

Học thuyết được coi là có tính cách “quốc gia và khoa học” vì trong phần văn bản của ông, lý thuyết chính trị phải có độ hệ thống, có phương pháp, chứ không chỉ là chủ nghĩa đơn thuần. 

3. Ý nghĩa và mục đích

Về mục đích rõ ràng: Cần bảo vệ sự tồn vong của dân tộc Việt Nam trước áp lực thực dân, trước chiến tranh, trước các trào lưu quốc tế (như chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa quốc tế vô sản) mà ông cho là xâm nhập và làm suy yếu bản sắc dân tộc. Học thuyết này tạo nền tảng lý luận cho ĐVQDĐ và các phong trào quốc gia trong những năm 1930‑1940 nhằm thúc đẩy việc xây dựng một “nước Việt Nam độc lập, tự do, dân chủ, phú cường” như trong các bài kỷ niệm của Đảng. 

Về mặt tư tưởng, chủ nghĩa “dân tộc sanh tồn” phản ảnh một dòng dân tộc chủ nghĩa cách mạng , trong đó dân tộc được đặt lên trước và quyền lực quốc gia mạnh là điều kiện tiên quyết.

          4. Nhận xét phê phán những điểm cần lưu ý

Vì đặt mạnh yếu tố dân tộc, quyền lực, kỷ luật, học thuyết có thể bị gắn với những tư tưởng dân tộc chủ nghĩa mạnh mẽ, thậm chí có phần chính quyền tập trunglãnh đạo cá nhân quyền uy, dễ dẫn đến nguy cơ độc đoán. Ví dụ một bài viết phê phán cho rằng học thuyết này “chủ yếu lấy lại một cách sơ sài … vài ý chính của chủ thuyết Không gian sinh tồn (Lebensraum) được Hitler khai thác”. 

Tính “sanh tồn” ở đây được hiểu theo nghĩa cạnh tranh giữa dân tộc với dân tộc, có phần thiên về logic quyền lực. Học thuyết này được phát triển trong hoàn cảnh lịch sử đặc thù, Việt Nam dưới ách thực dân, chuẩn bị cho giải phóng, nên nhiều luận điểm có tính thời đại. Nhưng nếu áp dụng “nguyên gốc” trong bối cảnh hiện nay có thể thiếu linh hoạt với yêu cầu hợp tác, phát triển bền vững, đa phương.

Vì là lý thuyết chính trị‑dân tộc chủ nghĩa, nên cần cân nhắc, một khi chuyển thành chính sách hoặc đường lối, phải tránh rơi vào chủ nghĩa dân tộc hẹp hoặc bài ngoại, và phải bổ sung bởi các nguyên tắc dân chủ, nhân quyền, phát triển bền vững, môi trường … vốn là những vấn đề bạn đang quan tâm lâu nay.

5. Liên đới với bối cảnh hiện tại

Chúng ta có thể áp dụng học thuyết của Trương Tử Anh như một thí dụ lịch sử cho việc làm thế nào một phong trào dân tộc chủ nghĩa đặt yếu tố sanh tồn của dân tộc lên trước và dẫn tới việc cố gắng xây dựng cả hệ thống chính trị mới, từ đó xem lại trong thời đại hiện nay, “sanh tồn” của dân tộc được hiểu như thế nào, ngoài độc lập, kháng cự mà còn … phải phát triển, hòa nhập, nâng cao năng lực quốc gia, nhứt là về giáo dục, y tế, và môi trường.

Nếu so sánh học thuyết này qua việc tạo nên một quyền lực quốc gia mạnh, kỷ luật, trong lúc đó, đất nước cần phát triển bền vững ứng hợp và cân bằng với việc bảo vệ môi trường, chúng ta có thể đặt câu hỏi: “Liệu quyền lực mạnh có phải là cách duy nhứt để cho dân tộc được sanh tồn?”

A-   Thuyết Duy Dân của Lý Đông A

1.Tiểu sử và bối cảnh

A portrait of a person

AI-generated content may be incorrect.Lý Đông A (thường còn có bút hiệu “Thái Dịch”), tên thật được ghi là Nguyễn Hữu Thanh (có tài liệu ghi là Nguyễn Văn Thanh…), sinh khoảng năm 1920 (có nguồn ghi 1921) tại làng Bối Cầu, xã Yên Tập, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Ông xuất thân trong hoàn cảnh học tập tự nhiên, học chữ Nho, học Pháp‑Việt, tự học tiếng Pháp, tiếng Anh, đọc thư viện ở Hà Nội. Từ những năm đầu 1940, Lý Đông A tham gia hoạt động cách mạng dân tộc, sáng lập và hoạt động với tổ chức Đại Việt Duy Dân Đảng (ĐVDĐ) với tư tưởng “Duy Dân”. Cuộc đời của ông tương đối ngắn và nhiều phần có tính cách huyền thoại, có tài liệu nói ông mất tích vào khoảng năm 1946 sau thất bại chiến khu tại Hòa Bình. 

1.     Cốt lõi lý thuyết “Duy Dân”

Lý Đông A xây dựng một hệ thống tư tưởng tương đối toàn diện dưới tên “Duy Dân” (hay “Nhân Chủ – Duy Dân”, hoặc “Chủ nghĩa Duy Dân”) với một số điểm nổi bật như sau:

a)    Quan niệm về con người – dân tộc – nhân loại

Ông đặt con người và dân tộc làm trung tâm. Một trong các nguồn viết:“con người là căn bản … theo đó, ba thành phần biện chứng tạo nên quan điểm thống nhất, đại đồng, chân xác về con người là vũ trụ (duy nhiên, vô nguyên), nhân loại (duy nhân, nhất nguyên) và dân tộc (duy dân, đa nguyên tương đối).” 

Theo ông, các lý thuyết chính trị như các triết học đương thời như duy vật, duy tâm, chủ nghĩa ngoại lai chưa đủ hoặc chưa phù hợp với hoàn cảnh dân tộc Việt Nam, nên cần một học thuyết lấy dân tộc + nhân bản làm mốc.

b)    Sứ mệnh lịch sử – văn hóa của dân tộc Việt

Trong “Tuyển tập Lý Đông A”, lời dẫn viết:“Trong bối cảnh vô cùng nguy nan của nước nòi Việt … khi thế giới đi vào bế tắc … thì DUY DÂN ra đời.”  Ông cho rằng dân tộc Việt cần phục hồi một “sinh mệnh thể hệ” (identity) riêng, một nền văn hóa – tư tưởng – chính trị vừa phù hợp với bản sắc Việt, vừa đủ mạnh để đứng vững giữa các dân tộc lớn. 

c)    Giá trị nhân bản và tổ chức xã hội

Ông nhận định rằng ngoài việc giải phóng dân tộc khỏi sự đô hộ, cần xây dựng một xã hội nhân bản, trong đó con người được học hành, được sống tự do tư tưởng, có đời sống kinh tế tốt. Ví dụ: “theo Lý Đông A thì chín mươi phần trăm người Việt Nam hiện nay sống dưới mức nghèo đói là một điều không thể chấp nhận được…” 

Về tổ chức: ông nhấn mạnh nhà lãnh đạo cách mạng phải đồng thời là nhà lý luận, nhà hành động, nhà tổ chức. 

d)    Triết học tổng thể gắn kết Đông & Tây

Học thuyết Duy Dân có tham vọng là một triết học tổng thể, kết hợp được các dòng triết học Đông Tây, từ Dịch học, Phật học, Nho học, đến triết học hiện đại. Ví dụ, một bài viết ghi rằng ông “phối hợp văn hóa và truyền thống dân tộc, lấy con người làm trục, xét trên ba bình diện: vũ trụ, nhân loại và dân tộc.” 

Học thuyết cũng có chi tiết về nguyên lý phát triển của xã hội, ví dụ phân chia các “thời kỳ” (thời Duy Nhiên, Duy Nhân, Duy Dân) như một lộ trình phát triển nhân loại.     

3.     Những văn bản và tác phẩm tiêu biểu

Ông viết nhiều tác phẩm, trong đó có các bộ như: Đại Việt Duy Dân Quốc SáchDuy Nhân Cương Thường, Thiết GiáoHuyết HoaĐạo Trường Ngâm

Các tập được sao chép, phát tán theo phương thức thủ công vì hoàn cảnh chiến tranh và theo hoạt động cách mạng. 

4-    Ý nghĩa và ứng dụng

Học thuyết Duy Dân đại diện cho một hướng tiếp cận dân tộc chủ nghĩa nhưng hòa nhập với yêu cầu nhân bản và hiện đại, điều này có thể giúp phân tích việc xây dựng bản sắc quốc gia, phát triển văn hóa, giáo dục và chính trị ở Việt Nam.

Chúng ta có thể khai thác học thuyết Duy Dân như nguồn tư liệu lịch sử lý luận để so sánh với các mô hình phát triển khác như chủ nghĩa dân tộc Nhật, Hàn, hoặc mô hình đa quốc gia về phát triển, giáo dục, môi trường.

5. Phê phán và những điều cần lưu ý

Vì mang tính dân tộc chủ nghĩa và quyền lực tập trung cùng với ý tưởng về lãnh đạo mạnh, tổ chức kỷ luật, nên học thuyết có thể gặp nguy cơ bị diễn giải theo hướng chính quyền tập trung, thiếu tính dân chủ.

Học thuyết của Lý Đông A ra đời trong bối cảnh cách mạng Việt Nam những năm 1940, có nhiều giả định lý luận có phần thời đại, khó áp dụng trực tiếp trong bối cảnh toàn cầu hóa, đa phương hiện nay. Một số phần lý thuyết như “thời kỳ Duy Nhiên - Duy Nhân - Duy Dân” mang tính hệ thống và hơi trừu tượng khi ứng dụng vào phân tích hiện thực, chúng ta cần thận trọng, tránh biến thành ngụy biện lịch sử hoặc chủ nghĩa huyền thoại.

B-   So sánh “Dân tộc Sanh tồn” và “Duy Dân”

Việc so sánh giữa lý thuyết “Dân tộc Sinh tồn” của Trương Tử Anh và lý thuyết “Duy Dân” của Lý Đông A dựa trên các nguồn lịch sử và triết học đã có qua việc phân tích các khía cạnh khác nhau như bối cảnh, mục tiêu, quan niệm về con người và dân tộc, phương thức tổ chức và lãnh đạo, và sau cùng dựa theo phương cách và giá trị trong việc áp dụng.

1.     Bối cảnh và xuất phát điểm

Về yếu tố thời gian và không gian: Dân tộc Sanh tồn xuất hiện vào khoảng 1930 -1940 tại Bắc Ký, VN, trong thời kỳ Pháp thuộc, trong một hoàn cảnh chánh trị Việt Nam dưới ách thực dân, phong trào quốc gia, chuẩn bị chiến tranh giải phóng. Sanh tồn của dân tộc tức là dân tộc phải mạnh, có kỷ luật, quyền lực tập trung để cạnh tranh với dân tộc khác. Dân tộc muốn sanh tồn phải có ưu thế tương tranh, lãnh đạo mạnh, đoàn kết kỷ luật. Tóm lại, phương châm hành động cần ưu tiên quyền lực, kỷ luật, và lãnh đạo tập trung.

Trong khi đó, Duy Dân xuất hiện vào khoảng 1940 -1845 tại Bắc Kỳ, VN thời chiến tranh và khủng hoảng kinh tế. Việt Nam trong bối cảnh chiến tranh, đất nước bị khủng hoảng, dân tộc cần được tự cứu. Dân tộc + con người + nhân bản cần phải xây dựng xã hội nhân bản, phát triển văn hóa, giáo dục, kinh tế, giữ bản sắc. Đối với Duy Dân, con người, dân tộc, nhân loại cần được gắn kết, hòa nhập Đông – Tây, phát triển bền vững, nhân bản. Vì vậy, trọng tâm quyền lực tập trung vào việc ưu tiên giáo dục, văn hóa, tổ chức xã hội nhân bản, lãnh đạo kiêm lý luận.

Cả hai lý thuyết cùng xuất phát từ phương châm bảo vệ và phát triển dân tộc Việt Nam, nhưng Trương Tử Anh thiên về chính trị và hành động, còn Lý Đông A thiên về triết lý tổng thể, kết hợp văn hóa  nhân bản dân tộc.

2.     Quan niệm về con người và dân tộc

TTA chủ trương con người là tổng  hợp “thể xác + tâm hồn” với bản năng cơ bản như vị kỷ, tình dục, xã hội, cần được rèn luyện và kỷ luật để dân tộc mạnh. Từ đó, tạo nên một quyền lực tập trung, có kỷ luật và lãnh đạo mạnh để sanh tồn.

Nhưng đối với LĐA, con người là trung tâm của triết lý, do đó, con người gắn liền với dân tộc và nhân loại; phát triển nhân bản, giáo dục, văn hóa. Con người cũng nằm trong vòng  sinh mệnh văn hóa – chính trị – xã hội, do đó, cần phát triển hài hòa giữa bản sắc, giáo dục, nhân quyền.

Trương Tử Anh thiên về dân tộc độc lập – ưu thế, còn Lý Đông A thiên về dân tộc hài hòa với nhân bản và nhân loại.

3.     Điểm tương đồng

Lấy Dân tộc làm trung tâm: Cả hai lý thuyết đều đặt sanh tồn và dân tộc làm mục tiêu tối thượng.

Phản đối ngoại lai: Trương Tử Anh chống chủ nghĩa cộng sản quốc tế; Lý Đông A phản đối lý thuyết ngoại lai chưa phù hợp dân tộc.

Coi trọng lãnh đạo: Cả hai nhấn mạnh vai trò lãnh đạo, nhưng cách khai triển khác nhau qua việc tập trung quyền lực của TTA đối lại với việc thực hiện triết lý và hành động song hành của LĐA.

4.     Điểm khác biệt chính

Với TTA, căn cứ vào hệ thống lý luận chính trị dân tộc chủ nghĩa,  Ông thiên về quyền lực và sanh tồn. Và mục tiêu xã hội sau cùng là dân tộc mạnh, chiến đấu để tồn tại với mục tiêu rõ rệt là :”  Kháng chiến - Chống ngoại xâm - Bảo vệ dân tộc.”

Nhưng với LĐA, qua lăng kính triết học tổng thể, Ông nhìn ra …dân tộc, con người, nhân loại, nhân bản, hòa hợp Đông – Tây … cùng hòa tấu bản hợp ca … dân tộc phát triển hài hòa, nhân bản, bền vững. Để rồi, xây dựng một xã hội dân chủ văn hóa nhân bản.

5. Kết luận

Trương Tử Anh: Lý thuyết “dân tộc sanh tồn” mang tính quyền lực – cạnh tranh – kỷ luật, thích hợp trong thời kỳ nguy nan, kháng chiến, cần sinh tồn.

Lý Đông A: Lý thuyết “Duy Dân” mang tính triết học – nhân bản – tổng hợp, thích hợp trong thời kỳ xây dựng xã hội, phát triển văn hóa – nhân lực – kinh tế.

Tương đồng: đều nhấn mạnh dân tộc là trung tâm, phản đối áp lực ngoại lai, coi lãnh đạo quan trọng.

Khác biệt: phương pháp đặt trọng tâm con người trong xã hội, và cách tiếp cận quyền lực qua việc tập trung quyền lực vs lãnh đạo hài hòa với nhân bản.

Một Việt Nam tương lai rất cần sự tổng hợp của hai chủ trương TTA và LĐA để chiêm nghiệm rõ nét hơn, như:

- Vừa hiểu tầm quan trọng của năng lực quốc gia – kỷ luật (Trương Tử Anh);

- Vừa phát triển xã hội nhân bản, giáo dục và văn hóa (Lý Đông A) để tạo ra “sanh tồn bền vững” cho dân tộc.

C-   Tính cách chống Trung Cộng trong hai lý thuyết

1. Trương Tử Anh – Chủ nghĩa Dân tộc Sanh tồn

Dân tộc phải “tồn tại trước hết”, đặt sanh tồn của dân tộc lên trên tất cả, kể cả quyền lợi cá nhân hay ý thức hệ. Vì vậy, thái độ với Trung Cộng rất rõ ràng:

* Chống xâm lược TC một cách cực đoan, thực dụng, coi nguy cơ từ phương Bắc là nguy cơ sống còn.

* Nhấn mạnh phải xây dựng sức mạnh quốc gia, quân sự, và tinh thần dân tộc mạnh mẽ để đối phó.

* Không quan tâm nhiều đến “hòa giải ý thức hệ” hay “đồng minh chiến lược”; quan trọng nhất là khả năng tự bảo vệ và tự cường dân tộc.

* Tính cách: Quyết liệt, thực dụng, thiên về thẳng tay, không khoan nhượng, ưu tiên tồn vong hơn các giá trị khác.

2. Lý Đông A – Chủ thuyết Duy Dân

Kết hợp chủ nghĩa dân tộc với dân quyền và tự lực của dân tộc, nhấn mạnh sức mạnh nội tại văn hóa và tinh thần. Từ đó, thái độ với TC tương đối ít cứng rắn hơn:

·        Chống ảnh hưởng và bá quyền TC, nhưng chú trọng giải pháp kết hợp dân trí, giáo dục và lòng tự tôn dân tộc.

·        Quan tâm đến chiến lược lâu dài, bao gồm cả củng cố chính quyền và văn hóa bản địa để tránh lệ thuộc TC.

·        Phản đối xâm lược nhưng đi kèm với phát triển nội lực và tinh thần dân tộc tích cực, không chỉ dựa thuần túy vào quân sự.

·        Tính cách: Bền bỉ, kiên trì, thận trọng nhưng sáng tạo, nhấn mạnh dân trí và sức mạnh văn hóa hơn là phản ứng quân sự tức thời.

Tóm lại, Trương Tử Anh thiên về chống xâm lược trực diện, cực đoan, coi TC như mối nguy tồn vong cần hành động quyết liệt ngay lập tức. Chủ trương bảo vệ sự sanh tồn của dân tộc trước các mối đe dọa ngoại xâm hoặc ảnh hưởng ngoại bang, trong đó Trung Cộng là nguy cơ trực tiếp. Chống TC theo hướng tích cực chuẩn bị lực lượng và chiến lược; không chỉ phản kháng mà còn xây dựng nền tảng mạnh để đối đầu.

Lý Đông A thiên về chống bá quyền và ảnh hưởng, coi TC là đối thủ cần ứng phó bằng sức mạnh nội tại, văn hóa và dân trí, chiến lược dài hạn hơn. Nhấn mạnh dân tộc cần phải có tinh thần và đạo đức, nâng cao ý thức dân tộc, “dân làm chủ” xã hội. Chống ảnh hưởng ngoại bang bằng cách củng cố tinh thần dân tộc và đoàn kết nội bộ. Tất cả, tập trung vào nội lực tinh thần và ý thức dân tộc, ít trực tiếp chuẩn bị lực lượng hay chiến lược đối phó TC.

3- Kết luận

Nếu đo bằng mức độ tích cực chống TC theo hướng thực tiễn – chiến lược – tự lực, Dân tộc Sinh tồn của Trương Tử Anh là lý thuyết tích cực hơn. Duy Dân nhấn mạnh vào ý thức và tinh thần, đóng vai trò nền tảng lâu dài, nhưng không trực tiếp chuẩn bị chống xâm nhập hay áp lực từ TC.

D-   So sánh mức độ chống Trung Cộng của TT Trump

Xét về chủ trương và cách thức chống Trung Cộng của TT Trump, chúng ta có thể so sánh với hai lý thuyết Dân tộc Sanh tồn (Trương Tử Anh) và Duy Dân (Lý Đông A) như sau:

1.     Chiến lược Trump chống Trung Cộng

Tập trung trực tiếp vào lợi ích quốc gia Mỹ: kinh tế, thương mại, an ninh, công nghệ. Dùng biện pháp cứng rắn, “tấn công” trực diện” qua chiến tranh thương mại (thuế quan, hạn chế công nghệ) như giới hạn Huawei, TikTok, kiểm soát đầu tư TC, nâng cao năng lực quân sự ở Thái Bình Dương, củng cố đồng minh chống TC. Hoa Kỳ Thể hiện chủ trương tự lực, chuẩn bị lực lượng và chiến lược.

TT Trump bảo vệ lợi ích quốc gia, chủ quyền kinh tế và an ninh quốc gia. Kinh tế, quân sự, chiến lược thương mại, đồng minh.

2.     So sánh với hai lý thuyết

Dân tộc Sanh tồn của TTA lầy việc bảo vệ sự sanh tồn dân tộc, chủ quyền làm căn bản. Chủ trương kinh tế, quân sự bằng sức dân với quyết tâm tự lực tự cường. Tập trung trực diện, thực tiễn, tự lực, chuẩn bị kinh tế, quân sự, văn hóa. Chống TC theo hướng hành động chủ động và chiến lược, phù hợp với bối cảnh quốc gia phải bảo vệ chủ quyền và sinh tồn. Hiệu quả tương đối cao trong tình huống thực tế cần đối phó một cường quốc như Trung Quốc.

Còn, Duy Dân của LĐA, xem việc nâng cao tinh thần đoàn kết dân tộc là chính yếu. Xem giải pháp quân sự, chính trị cần phai đi song hành cùng nhau. Tập trung vào tinh thần, văn hóa, ý thức dân tộc. Chống TC mang tính gián tiếp, lâu dài, không trực tiếp chuẩn bị lực lượng hay chiến lược. Hiệu quả thực tiễn thấp hơn khi đối diện áp lực, xâm lược hoặc cạnh tranh quyết liệt.

Tóm lại, mức độ chống TC của TT Trump cứng rắn, trực diện, chiến lược, tự lực, kết hợp kinh tế, quân sự, ngoại giao. Phương pháp này gần với Dân tộc Sanh tồn hơn Duy Dân về mức độ trực diện, tích cực và khả năng đạt kết quả thực tế. Trump đã thể hiện hiệu quả tương đối trong việc tạo áp lực lên TC, dù có giới hạn về lâu dài.

Giữa hai lý thuyết, Dân tộc Sanh tồn là cách chống Trung Cộng hiệu quả hơn, nhất là trong bối cảnh đòi hỏi hành động trực diện, tự lực và chiến lược.

TT Trump thực thi một phiên bản thực dụng của Dân tộc Sanh tồn, kết hợp công cụ kinh tế và áp lực chiến lược, có hiệu quả tương đối cao nhưng không hoàn toàn lý tưởng theo học thuyết gốc.

Duy Dân, dù quan trọng về mặt tinh thần, không đủ mạnh để trực tiếp đối phó TC Quốc nếu chỉ dựa vào tinh thần và văn hóa, có thể mềm dẻo nhưng chưa đủ mạnh để đối phó chiến lược lâu dài.

Qua các phân tích trên chúng ta thấy con đường Việt Nam vẫn còn thênh thang và rộng mở. Dù là con đường … Sanh tồn hay Duy Dân, tất cả cùng hướng về ý chí tự quyết của một dân tộc có chiều dài lịch sử oai hùng như các chiến tích … đuổi Mông, diệt Thanh, xua Hán…của Cha Ông ngày xưa.

Nào anh em ta cùng nhau xông pha lên đường…

Mai Thanh Truyết

Con đường Việt Nam

Houston – Tháng 11 - 2025

 







No comments:

Post a Comment