Tuesday, August 4, 2026

 Muối - Chất keo gắn kết dân tộc lại với nhau

 

 


Muối không chỉ là một chất hóa học, mà trong văn hóa Việt Nam còn là một biểu tượng của sự gắn bó, thủy chung và tình nghĩa con người. Nếu mở rộng hình ảnh "muối" ra khỏi căn bếp gia đình, chúng ta có thể xem nó như một thứ "chất keo tinh thần" nối kết cộng đồng và dân tộc.

 

Trong đời sống Việt Nam, từ ngàn xưa, muối đã hiện diện trong những mối quan hệ hết sức thiêng liêng như:

 

  • Người Việt có câu "đầu năm mua muối, cuối năm mua vôi". Muối đầu năm tượng trưng cho sự đậm đà, may mắn, tình nghĩa bền chặt.
  • Muối thường được đem biếu, tặng như một món quà giản dị nhưng có ý nghĩa đặc biệt là trao nhau sự gắn kết giữa hai con người, làm cho gần gũi hơn, tương thân với nhau hơn.
  • Trong nhiều vùng quê nghèo, một chén muối trên mâm cơm không chỉ để nêm nếm, mà là biểu tượng của sự chia sẻ, có muối là có bữa cơm, có bữa cơm là có tình người.

 

Từ đó, hình ảnh "muối mặn" có thể được liên tưởng đến tình nghĩa dân tộc từ Bắc chí Nam.

 

1-    Muối giống như ký ức chung của một dân tộc

 

Dù sống ở miền Bắc với những cánh đồng lúa chiêm, mùa đông lạnh, ở miền Trung với gió Lào, cát trắng, biển mặn, và ở miền Nam với phù sa sông Cửu Long, người Việt ở cả ba miền đều có một điểm chung: Hột cơm – Hột muối - Bữa cơm gia đình – Và tình làng nghĩa xóm. Những khác biệt về giọng nói, phong tục, món ăn không xóa được một nền văn hóa dân tộc chung. Có thể nói, muối của biển miền Trung, nước mắt của lịch sử, mồ hôi của ruộng đồng Bắc Việt và phù sa trù phú ở phương Nam đều hòa chung thành vị mặn của dân tộc Việt.

 

Nhưng "muối" cũng nhắc chúng ta về những vết thương lịch sử. Lịch sử Việt Nam hiện đại đã trải qua những giai đoạn chia cắt và xung đột rất đau thương. Những biến cố đó để lại nhiều ký ức khác nhau trong lòng người Việt ở ba miền. Một dân tộc muốn đi xa không thể chỉ nhớ những điều làm mình chia rẽ, mà cần phải tự nhìn nhận rằng, mỗi gia đình có một câu chuyện riêng, mỗi thế hệ có một kinh nghiệm riêng, và nhiều nỗi đau vẫn cần được chữa lành bằng sự cảm thông.

 

Từ đó, tinh thần "muối mặn" có thể được hiểu là: Giữ lại phần tinh túy nhất của nhau, thay vì để những cay đắng của lịch sử làm mất đi tình dân tộc, nghĩa đồng bào. Có một điều rất đẹp về muối là nó hình thành chậm rãi từ nước biển, rồi phải trải qua nắng, gió, thời gian; từ đó, mới kết tinh thành hột muối. Tình nghĩa dân tộc cũng vậy, không thể xây dựng bằng khẩu hiệu, mà cần phải có sự tôn trọng lẫn nhau, phải có sự thật lịch sử dù có làm tan nát xé lòng đi nữa, phải có lòng nhân ái, và nhứt là trách nhiệm với tương lai. Một dân tộc trưởng thành không phải là dân tộc không có quá khứ đau thương, mà là dân tộc biết biến quá khứ thành bài học để sống tốt hơn, sống lành với nhau hơn!

 

2-    Một suy gẫm đơn sơ

 

Nếu xem dân tộc Việt Nam như một cơ thể sống, thì muối là khoáng chất nhằm giữ cân bằng sinh học cho cơ thể, còn tình nghĩa là "loại muối tinh thần" giữ cân bằng xã hội. Thiếu muối, cơ thể suy yếu, nhưng thiếu tình nghĩa, dân tộc cũng suy yếu. Có lẽ vì vậy mà ông cha ta đã không nói "gừng ngọt, đường thơm", mà nói:"Gừng cay muối mặn xin đừng bỏ nhau."

 


Bởi vì tổ tiên chúng ta hiểu rõ rằng đời sống không chỉ có vị ngọt. Một cộng đồng bền vững được xây dựng không phải khi mọi người giống nhau, mà khi những con người khác nhau nhưng vẫn biết xem nhau là đồng bào. Hạt muối nhỏ bé tan vào biển cả, nhưng chính biển cả lại tạo ra hạt muối. Con người cũng vậy, mỗi cá nhân là một hạt muối của dân tộc, và dân tộc chính là nơi giữ gìn giá trị của từng con người, một nguyên tử của phân tử “dân tộc”.

 

Ý tưởng "muối là chất keo gắn kết dân tộc" có thể khai triển sâu hơn nữa, bởi vì nó chạm đến một tầng rất sâu thẳm và căn bản của văn hóa Việt, đó là mối liên quan giữa con người – gia đình – quê hương – dân tộc. Nếu nhìn dưới góc độ biểu tượng, hạt muối là một hình ảnh rất Việt Nam, nhỏ bé, bình dị, không phô trương, nhưng không thể thiếu trong đời sống hàng ngày.

 

 

3-    Hạt muối và căn tính Việt Nam - Cái bình dị tạo nên cái to lớn Việt tộc

 

Trong lịch sử, những biểu tượng lớn của dân tộc Việt Nam thường không bắt đầu từ những thứ xa hoa, mà từ: Hạt gạo nuôi sống người dân - Dòng sông nuôi dưỡng nền văn minh lúa nước - Cây tre tượng trưng cho sức sống – Và hột muối giữ gìn sự sống gia đình.

 

Muối không quý vì nó hiếm, mà quý vì nó gắn với từng bữa cơm, từng mái nhà. Một gia đình nghèo có thể không có cao lương mỹ vị, nhưng vẫn có chén cơm, chén muối, củ gừng, mớ rau… Chính những thứ giản dị đó tạo nên nền tảng của xã hội. Có thể nói:

Dân tộc không được xây dựng chỉ bằng những công trình lớn, mà trước hết bằng hàng triệu bữa cơm nhỏ bé trong từng gia đình.

 

4- "Muối mặn" là ký ức chung của người Việt Nam

 

Nếu nhìn xuyên suốt chiều dài lịch sử, từ Bắc vào Nam, người Việt đều có một nền văn hóa của sự chịu đựng và thích nghi. Với Miền Bắc, người dân sống với mùa đông khắc nghiệt, đê điều, lũ lụt, với nền văn minh lúa nước thấm nhuần trong tâm khảm. Với

Miền Trung, người dân sống với đất hẹp, người đông, với gió Lào, bão biển, và thùy dương cát trắng. Chính vì vậy, người miền Trung gắn bó sâu sắc với biển và nghề muối. Còn dối với Miền Nam, người dân khai phá vùng đất mới, sông nước, đồng bằng rộng lớn, ruộng lúa có bay thẳng cánh.

Nhưng, tất cả đều có chung một kinh nghiệm là muốn tồn tại phải nương tựa vào nhau.

Và từ đó sinh ra những giá trị đậm đà như tình làng nghĩa xóm, lòng tương trợ, và nhứt là tinh thần "lá lành đùm lá rách".

 

Đó chính là vị "mặn" của dân tộc.

 

5-    Bắc Nam - Khác biệt không phải là chia lìa

 

Có một điều thú vị trong thiên nhiên là, nước biển ở Bắc, Trung, Nam có thể khác nhau về dòng chảy, nhiệt độ, độ sâu; nhưng khi được kết tinh thành muối, bản chất vẫn là muối, không khác nhau. Con người cũng vậy, người Việt ở các vùng có thể khác nhau về giọng nói, món ăn, phong tục, cách nhìn lịch sử, nhưng vẫn có những mẫu số chung:

  • Nói tiếng Việt,
  • Cùng tổ tiên,
  • Cùng văn hóa gia đình,
  • Và cùng ký ức quê hương.

 

Sự đa dạng về địa dư, phong tục, tập quán… không phải là yếu tố chia rẽ, nếu chúng ta biết trân trọng, tất cả chính là sự phong phú của một dân tộc.

 

6-    Nhưng muốn cho "muối" kết nối, cần có lòng bao dung

 

Có một sự thật là lịch sử Việt Nam hiện đại đã để lại những khoảng cách và tổn thương sâu sắc giữa nhiều cộng đồng người Việt: Bắc Nam, người Việt ở trong nước và ngoài nước. Đây là một cách ngă đau buồn!

 

Một dân tộc không thể được chữa lành bằng cách phủ nhận ký ức của nhau, hay áp đặt một cách nhìn duy nhất, hoặc xem nỗi đau của người khác là không đáng kể. Muốn có sự hòa hợp thật sự, cần một thái độ trưởng thành, cần phải hiểu lịch sử bằng sự thật, tôn trọng nỗi đau của mọi phía, đặt tương lai dân tộc lên trên những bất đồng quá khứ. Bởi vì dù muối có vị mặn, nhưng không phải để làm người ta khát; mà cần muối đúng lượng để giữ gìn sự sống của con người.

 

7-    Muối và thế hệ tương lai

 

Có lẽ đây là điều quan trọng nhất mà người viết muốn đặt trọng tâm đến. Khi Một dân tộc muốn tồn tại lâu dài không phải chỉ cần có một nền kinh tế mạnh, khoa học phát triển, và mộ sức mạnh quân sự vững vàng, mà còn cần phải có một chất keo tinh thần. Chất keo ấy là lòng yêu thương quê hương, cần sự trung thực với lịch sử, tinh thần trách nhiệm, và nhứt là sự tôn trọng khác biệt. Cần phải ý thức rằng mọi người Việt đều có một phần trách nhiệm với tương lai chung. Nếu để đánh mất chất keo này, dân tộc có thể giàu hơn nhưng dễ bị phân rã từ bên trong.

 

8- Một hình ảnh kết tinh

 

Biển cả mênh mông, nhưng chỉ khi nước biển đi qua nắng và gió mới kết tinh thành hạt muối. Dân tộc Việt Nam cũng vậy, cũng phải trải qua bao biến động, chiến tranh, chia cách và thử thách, điều còn lại quý nhất không phải là những khác biệt, mà là những giá trị đã được kết tinh qua hàng ngàn năm. Từ đó, có lẽ câu tục ngữ:"Gừng cay muối mặn xin đừng bỏ nhau", không chỉ là lời khuyên cho vợ chồng, mò ở một chừng mực rộng hơn, nó có thể được hiểu như một lời nhắn gửi cho cả dân tộc:”Dù đã đi qua những cay đắng của lịch sử, xin đừng đánh mất tình nghĩa đồng bào. Vì một dân tộc chỉ thật sự mạnh khi những hạt muối nhỏ bé của nó biết hòa tan vào cùng một đại dương.”

Đó chính là chiều sâu triết lý của hai chữ "muối mặn" trong tâm thức Việt Nam.


 

Một dân tộc chỉ thật sự mạnh khi những hạt muối nhỏ bé của nó biết hòa tan vào cùng một đại dương.

 

Ý niệm dân tộc đã được khơi dậy. Có lẽ bởi vì nó không nói về chính trị, không nói về quyền lực, mà nói về một điều căn bản hơn cả. Đó là sự thuộc về nhau. Xin lắng đọng vài giây để nhìn vào hình ảnh trên thật chậm… Một hạt muối riêng lẻ rất nhỏ bé. Nó có thể bị nghiền nát, bị thất lạc, bị hòa tan mất dấu. Nhưng khi hàng triệu, hàng tỷ hạt muối cùng hòa vào biển cả, chúng tạo nên một đại dương có sức mạnh vô cùng lớn.

 

Con người cũng vậy. Một cá nhân có thể yếu đuối. Một gia đình có thể mong manh. Một cộng đồng nhỏ có thể bị tổn thương. Nhưng khi những con người khác biệt biết tìm thấy mẫu số chung, họ trở thành một sức mạnh lớn hơn chính họ.

 

9-    Muối hòa tan không có nghĩa là mất đi bản sắc

 

Có một điều rất đẹp trong hình ảnh một hột muối, là khi hòa tan vào biển, hột muối không còn nhìn thấy bằng mắt thường, nhưng nó không biến mất. Bản chất của nó vẫn tồn tại, mà điều này rất giống như một dân tộc. Sự đoàn kết không có nghĩa là mọi người phải suy nghĩ giống nhau, phải có cùng có chung một kinh nghiệm, phải xóa bỏ sự khác biệt vùng miền, văn hóa, thế hệ… mới có thể kết hợp được.

 

Một đại dương không mạnh vì mọi giọt nước đều giống nhau. Nó mạnh vì hàng tỷ giọt nước khác nhau cùng tạo thành một biển lớn. và bất cứ một dân tộc trưởng thành nào cũng vậy. ‘Vì vậy,

 

Bắc Nam không phải là hai nửa tách rời, mà là hai dòng chảy trong một dòng sông lớn.

 

Nếu nhìn Việt Nam trên bản đồ, hình chữ S rất đặc biệt. Miền Bắc là nơi có nền văn minh sông Hồng, có Thăng Long nghìn năm, có truyền thống làng xã vững chắc. Còn miền Trung là vùng chịu nhiều thiên tai, là chiếc cầu nối hai miền Bắc - Nam, là nơi kết tinh nhiều giá trị văn hóa đặc thù của dân tộc. Cuối cùng, miền Nam là vùng mới khai phá, mở rộng bờ cõi, giàu tính phóng khoáng và sáng tạo.

Và ba vùng có những nét riêng, nhưng giống như ba dòng sông: - sông Hồng - sông Thu Bồn - sông Cửu Long; để rồi, cuối cùng đều chảy ra biển Thái Bình Dương. Biển ấy chính là không gian văn hóa Việt Nam.

 

10- Nhưng tại sao những hạt muối đôi khi lại không hòa tan được?

 

Đây là một câu hỏi khó và rất thật tế. Trong lịch sử, dân tộc nào cũng có những giai đoạn chia rẽ, xung đột, hiểu lầm, và bị tổn thương. Việt Nam cũng không ngoại lệ. Những biến cố của thế kỷ 20 đã để lại nhiều ký ức khác nhau trong lòng người Việt, có người mất mát vì chiến tranh, có người phải rời quê hương, có người chịu những biến đổi xã hội sâu sắc, và cũng có những gia đình bị chia cách.

 

Những vết thương đó không thể chữa lành bằng cách nói rằng "hãy quên quá khứ đi". Một vết thương muốn được chữa lành cần được nhìn nhận, được lắng nghe, được thấu hiểu, và được cảm thông. Bởi vì nếu những hạt muối còn mang trong lòng vị đắng của quá khứ, chúng khó có thể tạo thành vị mặn hài hòa của tương lai. Đó là trường hopo76p của Việt Nam hiện tại dù vết thương đã làm chai cắt những người con Việt hơn 51 năm qua.

 

10-  Hạt muối cuối cùng rồi cũng phải trở về biển cả

 

Muối được sinh ra từ biển. Qua một hành trình dài, nước biển bốc hơi, kết tinh, được con người thu hoạch, và từ từ đi vào từng bữa cơm, để rồi cuối cùng lại trở về với biển. Con người cũng vậy, mỗi người sinh ra từ quê hương, một làng quê, một gia đình, một vùng đất. Có người đi rất xa, sang Mỹ, sang Pháp, sang Úc, hay đến những chân trời khác. Nhưng trong sâu thẳm trong lòng, họ vẫn mang theo tiếng mẹ đẻ, ký ức tuổi thơ, những món ăn quê nhà, và trong ký ức vẫn còn văng vẳng những câu hò ru con của mẹ. Đó là "chất muối" của nguồn cội.

 

Câu nói, một hạt muối không làm nên biển cả. Nhưng biển cả cũng không thể thiếu từng hạt muối. Thì một dân tộc cũng vậy. Không có một người Việt nào là quá nhỏ bé để không có giá trị cỏn con nào cả. Cũng không có vùng đất Việt Nam nào là không thuộc về câu chuyện lịch sử chung của dân tộc. Và cũng không có thế hệ nào là không có trách nhiệm với tương lai. Ông cha ta đã để lại một câu rất giản dị:"Gừng cay muối mặn xin đừng bỏ nhau." Bây giờ, chúng ta có thể đọc rộng hơn:"Dù đã trải qua bao cay đắng, bao chia ly vì nận thù, dù mỗi người mang một câu chuyện riêng cho chính mình, xin đừng đánh mất nhau. Vì khi những hạt muối Việt Nam biết hòa tan vào cùng một đại dương, dân tộc ấy không chỉ tồn tại, mà còn có thể vươn lên."

 

Và có lẽ đó cũng là điều đẹp nhất của chữ "đồng bào", cùng một bọc trăm trứng, cùng một vị mặn của biển, cùng một khát vọng về ngày mai. Khát vọng của ngày mai là tuổi trẻ, cần gắn kết những hạt muối đơn lẽ... Dứt khoát "Khát vọng của ngày mai, tương lai Việt Nam, là tuổi trẻ, cần gắn kết những hạt muối đơn lẻ..."; thật sự là một sự tiếp nối rất tự nhiên của hình ảnh những hột muối và đại dương. Nếu thế hệ đi trước là những hạt muối đã trải qua nắng gió, qua cay đắng của lịch sử, thì tuổi trẻ chính là những tinh thể muối mới, mang trong mình năng lượng để tạo nên vị mặn của tương lai.

 

Tuổi trẻ là những hạt muối chưa hòa tan. Mỗi người trẻ là một cá thể độc lập, có ước mơ riêng, tài năng riêng, suy nghĩ riêng, và có con đường riêng. Đó là điều quý giá. Một dân tộc trưởng thành không cần những người trẻ giống nhau như những viên gạch vô cảm. Một dân tộc cần những người trẻ có khả năng suy nghĩ, sáng tạo và dấn thân. Nhưng...Một hạt muối đứng một mình thì rất nhỏ bé. Và chỉ khi biết hòa vào đại dương lớn hơn chính mình, nó mới trở thành một phần của sức mạnh bao la.

 

12-  Sự cô đơn - Thách thức lớn nhất của tuổi trẻ hôm nay

 

Thế giới ngày nay hoàn toàn thay đổi so với cách đây 50 năm, thời điểm của sự chia lìa. Có một nghịch lý lớn là con người kết nối với nhau nhiều hơn qua công nghệ, qua mạng xã hội, và đôi khi lại xa cách nhau hơn trong tâm hồn. Một người trẻ có thể có hàng ngàn bạn trên mạng, thu thập hàng triệu thông tin mỗi ngày, nhưng vẫn có thể thiếu một cộng đồng thật sự để cùng chia sẻ tâm tư hay lý tưởng. Những "hạt muối" mới ngày nay đôi khi bị phân tán bởi: - Chủ nghĩa cá nhân cực đoan – Tinh thần chạy theo vật chất - Sự thờ ơ với vận mệnh chung. Vì vậy, điều quan trọng không chỉ là có nhiều hạt muối, mà là biết kết tinh triệu triệu hột muối thành một giá trị chung.

 

13-  Thay lời kết

 

Một đại dương không phải là nơi mọi hột muối bị ép thành một hình dạng hay tinh thể giống nhau. Ngược lại, người trẻ miền Bắc có thể mang sự hằn sâu của truyền thống phương Bắc, người trẻ miền Trung luôn mang ý chí vượt khó do hoàn cảnh địa dư, còn người trẻ miền Nam có thể mang tinh thần khai phá, cởi mở, và không chấp nhận bị ràng buột. đối lại, người trẻ trong nước và người trẻ ở hải ngoại có thể có những trải nghiệm hoàn toàn khác nhau.


Nhưng nếu tất cả cùng hướng về một điều lớn hơn, nghĩ về một Việt Nam phát triển, một xã hội nhân văn, một môi trường lành mạnh, một tương lai dân tộc có phẩm giá… thì những khác biệt đó không còn là bức tường, mà trở thành một nét văn hóa hướng thượng, tập trung vào tương lai Việt Nam.

 

Nếu chúng ta tự đặt câu hỏi cho tuổi trẻ Việt Nam:"Điều gì sẽ làm những hột muối Việt Nam kết nối lại?" Câu trả lời có lẽ không phải là một khẩu hiệu, mà là những giá trị cụ thể như: - Tri thức – Nhân cách – Trách Nhiệm – Lòng bao dung. Một dân tộc muốn mạnh cần phải có những người trẻ hiểu biết, có nhân cách, vì tài năng mà thiếu đạo đức có thể trở thành nguy hiểm. Trách nhiêm sẽ làm cho tuổi trẻ luôn đặt câu hỏi:"Tôi có thể đóng góp gì cho đất nước?" Để rồi, cuối cùng với lòng bao dung trong tâm khảm, tuồi trẻ sẽ không để những khác biệt, dù đến từ phía nào trở thành thù địch.


Tóm lại, khát vọng của ngày mai là tuổi trẻ, cần gắn kết những hột muối đơn lẻ thành một đại dương của trí tuệ, của nhân cách và tình yêu quê hương. Bởi vì một hột muối riêng lẻ chỉ có vị mặn, nhưng hàng triệu hột muối hòa cùng nhau mới tạo nên sức mạnh của biển cả.

 

Đây, chính là thông điệp đẹp nhất dành cho tuổi trẻ Việt Nam. Đừng chỉ là một hột muối tồn tại cho riêng mình. Hãy trở thành một phần của đại dương. Đừng để những khác biệt làm chia lìa nhau, hãy để những khác biệt làm giàu cho nhau. Bởi vì cuối cùng, biển lớn không được tạo nên bởi một giọt nước vĩ đại, mà biển lớn được tạo nên bởi vô số giọt nước nhỏ bé cùng hướng về một nơi.

 

Và dân tộc Việt Nam cũng vậy. Ôi quê hương ta đẹp quá qua những hột muối mặn mà tình dân tộc. Quê hương nối liền đất nước – con người – ký ức – tương lai bằng một biểu tượng rất giản dị: hột muối. Quê hương Việt Nam đẹp không chỉ vì những dãy núi trùng điệp, những dòng sông uốn lượn, những cánh đồng lúa vàng, những bờ biển dài theo hình chữ S, mà còn đẹp vì trong từng vùng đất ấy có những con người biết sống với nhau bằng tình nghĩa.

 

Dù có đi muôn phương, mỗi người vẫn mang trong tim một chút vị mặn của quê hương, vị mặn của nghĩa đồng bào, của tình đất nước, và của khát vọng ngày mai.

 

Và có lẽ đó là điều sâu xa nhất:” Một hột muối, một tình nghĩa quê hương”

 

Mai Thanh Truyết

Con đường Việt Nam

Houston – Tháng 8 - 2026

 

 

 

 

Saturday, August 1, 2026

 Đảng Tân Đại Việt tổ chức Lễ Tưởng Niệm Lần Thứ 36 Cố Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy

 

 


nghi thức chào cờ từ phải: Ông Hoàng Đình Khuê, Nhà Giáo, Nhà văn Trần Phong Vũ, Nhà văn Nguyễn Quang, TS. Mai Thanh truyết, Ông Phan Thanh Châu và Bà Nguyễn Thế Thủy

 

Westminster, Nam California  (Thanh Huy) – Tại Hội trường VietlifeTV thành phố Westminster vào lúc 1 giờ chiều Chủ Nhật ngày 26 tháng 7 năm 2026, Đảng Tân Đại Việt đã long trọng tổ chức Lễ Tưởng Niệm lần Thứ 36 Cố  Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy,  Đảng Trưởng Đảng Tân Đại Việt.


 

Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy qua đời vào ngày 28 tháng 7, 1990 trên bước đường hoạt động tranh đấu cho một nước Việt Nam dân chủ tự do thực sự. Từ đó đến nay đã trải qua 36 năm, cứ đến độ hè về vào cuối tháng bảy hàng năm Đảng Tân Đại Việt đều long trọng tổ chức lễ tưởng niệm Cố Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy. Chính sự kiện này cho thấy hậu thế không bao giờ quên một nhân vật đặc biệt trong lịch sử VN.

 

Tham dự lễ tưởng niệm, ngoài một số các Đảng viên Tân Đại Việt, Liên Minh Dân Chủ, còn có quý vị quan khách như: Nhà Văn Nguyễn Quang, Nhà Giáo, Nhà Văn Trần Phong Vũ, Tiến Sĩ Mai Thanh Truyết, Ông Phan Thanh Châu Đại Diện Việt Nam Quốc Dân Đảng, Kỹ Sư Phạm Ngọc Lân, Bà Nguyễn Thế Thủy, Ủy Viên Giáo Dục Học Khu Westminster, Nhà Văn Việt Hải và phái đoàn Nhân Văn Nghệ Thuật-Tiếng Thời Gian, Bình Luận Gia Nguyễn Kim Bình, Phó Chủ Tịch Cộng Đồng Người Việt Nam California, Kỹ Sư Cao Thái Hải, Cô Annie Wright (con gái Giáo Sư Nguyễn Văn Bông) một số quý vị nhân sĩ, quý cơ quan truyền thông và đồng hương tham dự.

 

Điều hợp chương trình buổi lễ do MC: Thụy Lan, mở đầu MC Thụy Lan cho biết lý do và thông qua chương trình. Sau đó nghi thức chào quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa, Hoa Kỳ và phút mặc niệm.

 


Tiếp theo ông Hoàng Đình Khuê  Chủ Tịch Đảng Tân Đại Việt lên tuyên bố lý do buổi lễ, Ông nói: “Thay mặt cho Ban tổ chức TĐV, chúng tôi xin Chào mừng và Cảm tạ sự hiện diện của Quý vị trong Buổi Lễ Tưởng Niệm Lần thứ 36 Cố GS Nguyễn Ngọc Huy. Điều này nói lên lòng ưu ái và mối thiện cảm của Quý vị với GS Nguyễn Ngọc Huy và Đảng Tân Đại Việt.

Hôm nay chúng tôi không nói gì về Tiểu sử, Văn bằng và Di sản cũng như Sự nghiệp của GS Huy. Chúng tôi sẽ tiết lộ những điều ít biết về cuộc đời của GS:


1- Cơ duyên học chữ Hán:

 

GS Huy quê ở Tân Uyên/ Biên Hòa trong một gia đình 10 ACE, GS Huy thứ 9 và cô Út Uyên thứ 10. Không may trong gia đình có cái “huông” hễ sanh con trai là chết yểu gọi là giờ “SÁT” chẳng hạn như anh Hai, anh Tư, anh Bảy, anh Tám đều chết; còn chị Ba, chị Tư, chị Sáu còn sống. Cho nên khi sinh ra GS Huy là con Trai thứ 9 thì gia đình rất lo sợ mới đi chùa, cầu khẩn Thầy chùa, Thầy pháp thì được mách là phải đổi ra người Nữ để tránh tai mắt Thần Thánh.

Theo tục lệ và mê tín dị đoan của người xưa thì trường hợp này gọi là “Xấu Hài”. Những người sinh ra giờ Sát rất khó nuôi. Theo truyền miệng đứa trẻ từ lúc sinh ra đến 12 tuổi phải có Cô Mụ đỡ đầu cho đến khi 13 tuổi thì coi như qua được cõi Chết. Cho nên để dối gạt Thần Linh, người Nam phải sống theo lối người Nữ, nghĩa là phải mang tên Nữ, mặc quần áo như Nữ, xỏ lỗ tai, mang kiểng ở cổ chân và nhất là đem bán cho gia đình khác nuôi.


Do đó gia đình mới gởi cho Dì Sáu nuôi.

 

Gia đình bên Ngoại sống ở làng Tân Hòa, Tân Khánh/ Biên Hòa. Hai làng này nổi tiếng giỏi Võ. Có một dạo người Pháp cấm hai làng này không được dạy Võ. GS Huy sống với gia đình Dì Sáu và học hành rất chăm chỉ.


Ông Ngoại của GS Huy là cụ Trần Văn Thỉnh, biệt danh là Trần Minh Đức, một nhà Nho nổi tiếng và cũng là nhà Nho cuối cùng của miền Nam. Lúc bấy giờ GS Huy mới 9 tuổi, lúc rảnh rỗi GS Huy thường đứng bên ngoài nghe ông Ngoại dạy chữ Nho. Nhận thấy cháu ngoại hiếu học và thông minh, nên ông Ngoại truyền hết kho chữ Nho cho cháu ngoại.

Sau này GS Huy có biệt hiệu “ông Đồ mặc âu phục.”

 

Lý do tôi biết được bí mật này là nhân dịp đi công tác ở Sydney-New South Wales/Úc Châu gặp được GS Liêng Khắc Văn là anh em bạn Dì với GS Huy cho biết; một nhân vật nổi tiếng trong cộng đồng Sydney và cũng là cựu hoc sinh Petrus Ký, bạn với GS Dương Ngọc Sum.

 

2- Học giả với viễn kiến sâu sắc:

 

Mặc dù GS Huy là một chính trị gia với bằng cấp Tiến sĩ Chính Trị Học với một di sản Văn hóa gồm nhiều tác phẩm viết bằng tiếng Anh, tiếng Pháp và Hán văn, nhưng người đời khâm phục và ngưỡng mộ sự hiểu biết thời sự quốc tế, nhất là viễn kiến uyên bác và đa diện của GS Huy:


a) Trong cuộc chiến Việt Nam, ai đã gây ra sự kiện 30/04/1975?


Phần lớn các Sử gia, các nhà bình luận chính trị đều đổ trách nhiệm cho nhau đã làm mất miền Nam. Nhưng GS Huy đã thấy rõ nguyên nhân chính đã xảy ra biến cố 30/04/1975.


Theo GS Huy nguyên nhân chính là Hoa Kỳ đã có kế hoạch bỏ miền Nam kể sau vụ Tết Mậu Thân.

 


Ông Hoàng Đình Khuê, Chủ Tịch Đảng Tân Đại Việt chào mừng và cảm ơn quan khách và đồng hương tham dự

Thế lực đứng sau kế hoạch bỏ miền Nam là do hai sắc tộc mạnh nhất, đó là sắc tộc gốc Ái Nhĩ Lan và sắc tộc Do Thái. Trong giai đoạn này thì sắc tộc Do Thái là thủ phạm. Họ chủ trương nắm giữ các cơ quan trong chính phủ từ Hành pháp, Lập pháp, Tư pháp, nhất là Truyền thông đã khiến cho chánh sách đối ngoại của Hoa Kỳ luôn binh vực quyền lợi của Do Thái.


Những tiết lộ tế nhị của GS Huy hoàn toàn phù hợp với nhận định của Linh Mục Cao Văn Luận nhân dịp tái bản tác phẩm Bên Giòng Lịch Sử, ông cho rằng thế lực dân Mỹ gốc Do Thái chủ trương Hoa Kỳ phải rút quân khỏi Việt Nam.

b) Ai đã làm sụp đổ bức tường Bá Linh (9/11/1989) và tan rã Liên Xô (21/12/1991)?

 

Câu hỏi lịch sử này đã gây tranh cãi mấy chục năm qua và có nhiều câu trả lời chủ quan khác nhau tùy theo hoàn cảnh, trình độ và đề cao tinh thần Dân tộc.

- Phía Ba Lan cho là nhờ hai công dân Ba Lan là Lãnh tụ Nghiệp đoàn Walesa và Đức Giáo Hoàng John Paul II.


- Phía Hung Gia Lợi cho rằng nhờ cựu Thủ tướng Nemeth đã mở đường biên giới Áo-Hung.


 - Phía Đông Đức cho rằng nhờ lực lượng cải cách của Đảng cộng sản Đông Đức đã thành công lật đổ nhà độc tài Honecker …

- Phía Tây Đức cho rằng nhờ chánh sách hòa dịu của cựu Thủ tướng Brandt đã thay đổi chế độ công sản …


- Phía Liên Xô thì cho rằng chính TBT Gorbachev với chánh sách cởi mở nên xảy ra tình trạng mất kiểm soát.

 

Nhưng theo GS Huy cho rằng nhờ cố Tổng thống Reagan hành xử cứng rắn với Liên Xô. Ông khích tướng kêu gọi Gorbachev mở cửa và làm sụp đổ bức tường này. GS Huy đã tiên đoán rất sớm và trình bày cặn kẻ trong tác phẩm “Perestroika” (viết bằng Anh ngữ), dày 420 trang với 200 lần dẫn chứng tài liệu) và “Glasnost”.Ông cho rằng bắt buộc ông Gorbachev phải cởi mở chánh sách để đối đầu với Hoa Kỳ của Tổng thống Reagan đang trên đà leo thang với phòng thủ chống hỏa tiễn SDI (Strategic Defense Initiative)

 

Tiến Sĩ Mai Thanh Truyết phát biểu

  

 

c) Biến cố Anh quốc trao trả Hồng Kông cho Trung quốc năm 1997.Từ đó GS Huy đã tiên đoán Dân Hồng Kông sẽ biểu tình chống đối giống như Truyện Tây Du Ký khi Bà La Sát nuốt Tôn Hành Giả vào bụng (Tôn Ngộ Không) khi Tôn Hành Giả hóa ra con bồ hóng trong chén trà, Tôn Hành Giả dùng thiết bản quậy lục phủ ngũ tạng, bà La Sát đau quá phải chịu thua.

GS Huy mất năm 1990, Hồng Kong được trả cho Trung Quốc ngày 1/7/1997, 7 năm sau khi GS qua đời nhưng viễn kiến về chính trị của ông rất nhậy bén trước nhiều thập niên:dân chúng Hồng Kông sẽ biểu tình đòi Dân chủ.


Sau đó Phong trào Dân chủ Hong Kong biểu tình qua cuộc Cách Mạng Dù năm 2014. Thành phần học sinh đã tham gia tranh đấu. Một học sinh tên Joshua Wong (Hoàng Chí Phong) và cô sinh viên Alex Chao (Chu Đình) trong vai trò thủ lãnh đã thành công huy động thành phần sinh viên, học sinh lên tới hàng trăm ngàn người.

Đến ngày 9 tháng 6 năm 2019, hơn 1 triệu người Hong Kong lại xuống đường với những cánh Dù vàng. Joshua Wong vẫn còn trong tù.

 

d)  Những lá thơ của các vị Tổng Thống Hoa Kỳ vinh danh GS Huy:

 

1) Sau khi GS Huy qua đời, biết bao nhiêu các nhà lãnh đạo trong chính quyền Mỹ, các nhân vật nổi tiếng như các chính trị gia, học giả, nhân sĩ …, trong đó có Tổng Thống Hoa Kỳ George Bush Cha đã gởi một lá thơ chia buồn cho Ái nữ của GS Huy và lên tiếng ca ngợi:

“GS Nguyễn Ngọc Huy là một nhân vật tận tụy cho dân tộc Việt Nam và dân tộc Mỹ với tấm gương sáng ngời cho thế hệ mai sau”.

 

Những chuyện kể của Ông Hoàng Đình Khuê còn nhiều vấn đề chưa được tiết lộ (Rất tiếc trong phạm vi bản tin chúng tôi không thể tường thuật hết được).

 

Tiếp theo là phần phát biểu của Tiến Sĩ Mai Thanh Truyết về những kỷ niệm với Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy khi ông còn là một sinh viên tại Pháp. TS.Mai Thanh Truyết cho biết, GS. Nguyễn Ngọc Huy có cuộc sống thật giản dị, lúc nào cũng hòa mình vào những điều kiện đơn giản nhất trên bước đường hoạt động của ông, bình dị với mọi người, nhất là những anh chị em sinh viên đang du học tại Pháp thời bấy giờ. TS. Mai Thanh Truyết có rất nhiều tài liệu liên quan đến cuộc đời hoạt động của Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy qua các loạt bài khá dài, nhất là những kỷ niệm về Hòa Đàm Paris, hy vọng trong những ngày sắp tới sẽ được TS. Mai Thanh Truyết phổ biến trên các hệ thống truyền thông để đồng hương có cơ hội tìm hiểu nhiều hơn.

 

Sau đó Giáo Sư Trần Phong Vũ lên phát biểu về cuộc đời và sự nghiệp chính trị của Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy.

 

Tiếp theo, Minh Phượng lên có lời phát biểu về Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy, trong những lời phát biểu mọi người đều ca ngợi tinh thần quốc gia, dân tộc và sự hy sinh cao cả của Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy cho một Việt Nam có tự do, dân chủ và phú cường.

 

Sau những lời phát biểu, Ban Hợp Ca lên hát bản “Việt Nam Minh Châu Trời Đông” (Đảng Ca của Đảng Tân Đại Việt.)

 

Tiếp theo ban tổ chức mời quý vị lãnh đạo Đảng Tân Đại Việt, Liên Minh dân Chủ Việt Nam, quý vị quan khách, quý vị thân hào nhân sĩ lên trước bàn thờ có chân dung Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy làm lễ niệm hương.

 

Sau lễ niệm hương, Kiều My và Ngọc Quỳnh lên song ca bản “Dân Tộc Sinh Tồn”.

 

Kết thúc chương trình với phần hội luận về đề tài: “Chủ Nghĩa Dân Tộc trong chiều hướng toàn cầu hóa” dưới sự chủ tọa của Ông Hoàng Đình Khuê, Nguyễn Kim Bình và Minh Phượng.

 

Buổi lễ bế mạc vào lúc 4 giờ chiều cùng ngày.

 

Đảng Tân Đại Việt tổ chức Lễ Tưởng Niệm Lần Thứ 36 Cố Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy - Cộng Đồng - Việt Báo Foundation – A Nonprofit 501 (c)(3) Organization