Ước Mơ Việt Nam Tương Lai sau 20 năm
Muốn thay đổi đất nước, trước hết
hãy thay đổi chính mình
Lời người viết: Bài viết dưới đây được gợi hứng từ những tuyên bố gần đây của Trưởng Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị (con trai cả của nguyên Thủ tướng cs Nguyễn Tấn Dũng), về tầm nhìn “đến năm 2130, Việt Nam sẽ trở thành một quốc gia xã hội chủ nghĩa phát triển trình độ cao, văn minh và hiện đại.”
Tầm nhìn và Định
hướng đến năm 2130:”Về vị thế quốc tế: Trở
thành trung tâm sản xuất thông minh, kinh tế xanh và đổi mới sáng tạo hàng đầu
châu Á, đóng vai trò quan trọng về công nghệ và an ninh toàn cầu. Về kinh tế và Xã hội: Phát triển dựa
trên khoa học công nghệ, kinh tế tuần hoàn, hướng tới xã hội thịnh vượng, công
bằng và hạnh phúc. Về quản trị quốc
gia: Vận hành hiện đại, đồng bộ theo cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản
trị và Nhân dân làm chủ.”
Quả thật, đây là
một tầm nhìn hết sức ảo tưởng mà bất cứ một lãnh đạo nào của Cộng sản Bắc Việt
tuyên bố trong suốt 51 năm “cai trị” đất nước Việt Nam. Người viết mạo muội ghi
lại “ước mơ” của một người có chuyên môn về môi trường nhìn về quê hương trong
20 năm sắp tới. Người viết tin rằng: "Một
dân tộc không chỉ được đánh giá bởi những gì họ xây dựng, mà còn bởi những gì
họ gìn giữ. Giữ được non sông là thành tựu của một thế hệ; giữ cho non sông còn
xanh, còn sạch, còn công lý và còn niềm tin để trao lại cho muôn đời sau mới là
thành tựu của cả một nền văn minh." Người viết cũng mong rằng, Việt Nam
trở thành một đất nước vừa gìn giữ được cội nguồn và thiên nhiên, vừa xây dựng
được một xã hội công bằng, văn minh và có trách nhiệm với các thế hệ mai
sau."
Xin chia sẻ cùng bạn đọc.
***
Tựa đề bài viết:” Việt
Nam Tương Lai sau 20 năm - Muốn thay đổi đất nước, trước hết
hãy thay đổi chính mình” nói lên tâm tư của một người con Việt sống ở hải
ngoại nhìn về tương lai quê cha đất tổ Việt Nam.
“Hãy thay
đổi chính mình…” Điều
đó không có nghĩa là chỉ cần nỗ lực cá nhân là đủ để giải quyết mọi vấn đề của
một quốc gia. Những cải cách về thể chế, chính sách và quản trị cũng có vai trò
rất quan trọng. Nhưng lịch sử cho thấy rằng những xã hội bền vững thường được
xây dựng khi cả thể chế và người dân cùng thay đổi theo chiều hướng tôn trọng pháp
luật, đề cao trách nhiệm và hợp tác vì lợi ích chung.
Nếu
hàng triệu người cùng thực hiện những hành động nhỏ với tinh thần đó, những
thay đổi tích lũy theo thời gian có thể tạo nên một tương lai tích cực hơn cho
đất nước hơn là tiếp tục phân tích, đào xới những tiêu cực hiện tại của đất nước,
để rồi từ đó kết luận về một tương lai bất định cho quê nhà.
1-
Nếu đứng trên
cương vị một trí thức hải ngoại, nhận định trên sẽ được trả lời như thế nào?
Nếu
đứng trên cương vị một trí thức người Việt ở hải ngoại, có nhiều cách
nhìn khác nhau tùy trải nghiệm, lập trường và thế hệ. Sau đây là một ví dụ về cách một trí thức
hải ngoại có thể trả lời, với giọng điệu ôn hòa, hướng đến cải cách và hòa giải:"Nếu tôi là một trí thức
Việt Nam ở hải ngoại, điều tôi mong muốn không phải là chiến thắng của một phe
phái, mà là sự thành công của dân tộc Việt Nam. Sau hơn nửa thế kỷ chia cắt bởi
chiến tranh và những hệ quả của nó, điều đất nước cần nhất là tìm ra lối thoát cho Việt Nam (tựa
một cuốn sách của người viết năm 2018), tìm con
đường để người Việt có thể cùng nhau xây dựng tương lai."
Tôi
mong một Việt Nam trong hai mươi năm tới là một quốc gia: - Có
một nhà nước pháp quyền biết tôn trọng quyền con người – Có một nền kinh tế
sáng tạo và minh bạch - Có một nền giáo dục nhân bản, dân tộc, và khai phóng –
Biết bảo vệ môi trường và tài nguyên quốc gia và biết trân trọng lịch sử nhưng
không bị quá khứ trói buộc dưới bất cứ góc nhìn nào.
2- Nếu có cơ hội góp
phần vào việc thay đổi đất nước, tôi sẽ bắt đầu:
·
Thứ nhất, khôi phục
niềm tin: Niềm tin không thể được xây dựng
bằng tuyên truyền mà phải bằng sự minh bạch, công bằng và trách nhiệm. Người
dân chỉ tin khi luật pháp được áp dụng công bằng, nghiêm minh, và các quyết
định công được giải thích rõ ràng.
·
Thứ hai, thúc đẩy
hòa giải dân tộc: Hòa giải dân tộc ở đây không có
nghĩa là quên đi lịch sử, cũng không phải yêu cầu mọi người có cùng cách nhìn
về quá khứ, hay thể chế giống nhau. Hòa giải là thừa nhận những mất mát của
nhiều phía, tôn trọng nhân phẩm của mọi con người và mở ra không gian đối thoại
chung, không giữ định kiến khô cứng, không phân biệt phe phái… để cùng hướng về
tương lai Việt Nam. Hòa giải nơi đây không phải là “kẻ thua cuộc” phải phục
tùng “người chiến thắng?”
·
Thứ ba, đầu tư
cho thế hệ trẻ: Không có tài nguyên nào quý hơn con
người. Giáo dục cần giúp người trẻ, chiếm hơn 60% trên tổng dân số, biết suy
nghĩ độc lập, trung thực với sự thật, có năng lực chuyên môn và ý thức trách
nhiệm với đất nước.
3- Tôi có thể làm gì
ngay hôm nay?
Dù
sống ở đâu, người Việt vẫn có thể đóng góp bằng nhiều cách như:
- Chia sẻ tri thức và
kinh nghiệm chuyên môn,
- Hỗ trợ giáo dục, nghiên
cứu và đổi mới sáng tạo,
- Kết nối các mạng
lưới học thuật, doanh nghiệp và khoa học giữa Việt Nam và thế giới, - Khuyến
khích đối thoại ôn hòa giữa những người có quan điểm khác nhau,
- Tham gia vào các
hoạt động thiện nguyện, bảo vệ môi trường và phát triển cộng đồng, - Cuối cùng
là biết nuôi dưỡng tinh thần tôn trọng sự thật, pháp luật và phẩm giá con
người.
Tôi
tin rằng cộng đồng người Việt ở hải ngoại không chỉ là một phần của ký ức lịch
sử, mà còn có thể là một nguồn lực quan trọng về tri thức, kinh nghiệm quốc tế
và kết nối toàn cầu. Nếu những nguồn lực đó được sử dụng trên tinh thần thiện
chí và tôn trọng lẫn nhau, chúng có thể đóng góp tích cực cho sự phát triển lâu
dài cho Việt Nam.
Có một điểm đáng lưu ý thiết nghĩ cũng cần nêu ra là, trong
thực tế, cộng đồng trí thức hải ngoại không phải là một khối thống nhất.
Có người ưu tiên cải cách từng bước và hợp tác với
các cơ quan trong nước; có người chủ trương thay đổi sâu rộng về thể chế; cũng
có người muốn tập trung vào việc giáo dục, khoa học hoặc các vấn đề môi trường
hơn là chính trị. Vì vậy, các phần trả lời trên chỉ là một cách
diễn đạt tiêu biểu của cá nhân trong số nhiều quan điểm có thể có, chứ
không đại diện cho toàn thể giới trí thức người Việt ở hải ngoại.
4-
Còn với tư cách
một nhà môi trường ưu tư về tương lai dân tộc ra sao?
Nếu đứng trên cương vị một nhà
môi trường luôn ưu tư về tương lai dân tộc, thì trọng tâm của tôi sẽ không
chỉ là chính trị hay kinh tế, mà là những câu hỏi căn bản như:"Liệu con
cháu chúng ta còn được thừa hưởng một đất nước đáng sống hay không?
Và câu trả lời có thể được thành thật và nghiêm chỉnh nói lên như sau:"Nếu tôi có một điều trăn trở lớn nhứt cho Việt Nam, thì đó không phải là GDP tăng bao nhiêu phần trăm, hay bao nhiêu tòa nhà cao tầng được xây dựng, mà là liệu sau 20 năm nữa, người Việt có còn được hít thở không khí trong lành, được uống nước sạch, được ăn thực phẩm an toàn và được sống trên một vùng đất không bị hủy hoại bởi ô nhiễm."
Đất
nước, quê cha đất tổ của chúng ta không chỉ là một lãnh thổ hay một thể chế.
Đất nước là dòng sông, cánh rừng, cánh đồng, biển cả và con người. Nếu những
điều đó bị hủy hoại, thì sự phát triển sẽ không còn ý nghĩa.
5- Nếu có quyền thay
đổi đất nước, tôi sẽ bắt đầu từ việc thay đổi suy nghĩ về phát triển.
Trong
nhiều thập niên qua, nhiều quốc gia “đang phát triển” đã theo đuổi việc tăng
trưởng bằng mọi giá và phải trả giá rất đắt chính ngay sau đó. Việt Nam có thể học từ những kinh nghiệm đó bằng cách đặt ra một nguyên
tắc đơn giản là không đánh đổi sức khỏe
của người dân và môi trường để đạt được mức tăng trưởng kinh tế ngắn hạn theo
chỉ tiêu.
Điều
đó đòi hỏi những nhà quản lý đất nước cần phải kiểm soát nghiêm ô nhiễm công
nghiệp, bảo vệ nguồn nước và rừng đầu nguồn, phát triển năng lượng sạch một
cách hợp lý và trong điều kiện và khả năng của quốc gia, việc quy hoạch đô thị phải
dựa trên sự bền vững của môi trường, không được tùy tiện theo “chỉ đạo” của
trung ương hay địa phương, và khuyến khích sản xuất và tiêu dùng có trách nhiệm
tùy theo khả năng và điều kiện hiện có được của quốc gia.
Nhưng
việc bảo vệ môi trường và quản trị đất nước là hai việc song hành, không thể
tách rời với nhau được. Một quốc gia chỉ có thể bảo vệ môi
trường hiệu quả khi có pháp luật được thực thi nghiêm minh, có thông tin về môi
trường minh bạch, có cơ chế giám sát độc lập, có sự tham gia chặt chẽ của người
dân, giới khoa học và doanh nghiệp.
Nếu
những tiếng nói cảnh báo bị bỏ qua hoặc nếu các quyết định thiếu minh bạch, thì
rủi ro đối với môi trường sẽ gia tăng.
6- Người Việt ở khắp
nơi đều có thể góp sức vào công cuộc phát triển Việt Nam
Những người ở trong nước có thể đóng góp bằng các sáng kiến, nghiên cứu, hoạt động cộng đồng và sản xuất bền vững. Người Việt ở hải ngoại có thể hỗ trợ bằng tri thức, công nghệ, kinh nghiệm quốc tế, đầu tư vào các giải pháp xanh và kết nối các mạng lưới khoa học. Điều quan trọng là cùng hướng tới lợi ích lâu dài của đất nước dưới một thể chế mở.
Tôi mong gì cho Việt Nam?
·
Tôi
không mong Việt Nam trở thành quốc gia giàu nhất châu Á.
·
Tôi
mong Việt Nam trở thành một quốc gia trong đó: - Trẻ em không phải lớn lên
trong bầu không khí ô nhiễm - Nông dân không phải lo đất và nguồn nước bị suy
thoái - Ngư dân vẫn còn những vùng biển nguyên sinh, đầy cá để mưu sinh - Rừng
được gìn giữ như một tài sản quốc gia – Và các quyết định phát triển luôn cân
nhắc đến thế hệ mai sau.
Bởi
vì một dân tộc có thể phục hồi sau chiến tranh, có thể vượt qua khó khăn kinh
tế, nhưng nếu để mất đất đai màu mỡ, nguồn nước sạch, rừng nguyên sinh và hệ
sinh thái, thì việc phục hồi sẽ vô cùng khó khăn, thậm chí có những mất mát là
không thể đảo ngược.
Một thí dụ điển hình nhứt là sự hủy diệt rừng nguyên sinh ở Việt Nam. Diện tích rừng nguyên sinh và rừng tự nhiên trên thế giới và tại Việt Nam đã suy giảm trầm trọng từ những năm 1940 do chiến tranh, khai thác gỗ và mở rộng đất nông nghiệp.
Vào đầu những năm 1940: Độ che phủ rừng đạt khoảng 43%, tương đương khoảng 14,3
triệu mẫu diện tích rừng tự nhiên, trong đó rừng nguyên sinh chiếm phần lớn.
Vào giai đoạn chiến tranh (1945 –
1975): Rừng bị tàn phá nặng nề bởi bom
đạn, chất độc hóa học (khoảng 2 triệu ha ở miền Nam) và khai thác gỗ phục vụ
chiến tranh. Đến năm 1975, diện tích rừng giảm mạnh còn khoảng 9,5 triệu mẫu
(29% độ che phủ).
Vào giai đoạn sau chiến tranh đến
1990: Nạn đốt nương làm rẫy, khai thác gỗ
quá mức và chuyển đổi đất làm rẫy, trồng cây công nghiệp khiến rừng nguyên sinh
tiếp tục suy giảm, chỉ còn sót lại khoảng 1-2% vào năm 1990.
Hiện nay: Diện tích rừng nguyên sinh gần như bị xóa sổ, chỉ còn lại
khoảng 0,25% diện tích nguyên vẹn thực sự, mặc dù các số liệu thống kê hành
chính ghi nhận độ che phủ rừng trồng và rừng thứ sinh phục hồi cao hơn. Nhưng
trên thực tế, việc che phủ rừng, việc trồng rừng dù đã được Liên hiệp quốc hỗ
trợ tài chính, nhưng tất cả những báo cáo kết quả của hành pháp hiện tại chỉ
là… những báo cáo “thiếu thành thật”!
7- Một thông điệp chân
thành gửi đến thế hệ trẻ
Chúng
ta đừng để thế hệ sau phải hỏi: “Tại sao ông bà biết môi trường đang bị hủy
hoại mà không hành động?”
Tình yêu đất nước không chỉ thể hiện qua ký ức lịch sử hay những biểu tượng, mà còn qua việc gìn giữ những gì đã và đang nuôi sống dân tộc: đất, nước, rừng, biển và không khí. Một Việt Nam thực sự hùng mạnh sẽ không chỉ được đo bằng quy mô nền kinh tế hay sức mạnh quốc phòng, mà còn bằng phẩm chất môi trường, sức khỏe và sự lành mạnh của người dân và khả năng để lại cho các thế hệ tương lai một quê hương vẫn còn đáng sống. Đây là một trách nhiệm chung, vượt lên trên khác biệt về quan điểm chính trị hay khoảng cách thế hệ.
Với tư cách một nhà môi trường ưu tư về tương lai dân tộc, tôi sẽ viết như
sau:"Tôi không mơ
ước để lại cho con cháu một đất nước chỉ có những thành phố hiện đại hay những
con số tăng trưởng đầy ấn tượng. Tôi mong để lại cho các thế hệ mai sau, một
Việt Nam còn những dòng sông trong lành, những cánh rừng xanh chạy dài suốt tận
chân trời, những vùng biển trù phú và một xã hội biết tôn trọng sự thật, công
lý và con người.”
·
Bảo vệ môi trường không chỉ là bảo vệ cây cối hay động vật, đó là bảo vệ nền tảng sinh tồn của dân tộc.
·
Xây dựng
một xã hội công bằng không chỉ là sửa đổi luật pháp, đó là khôi phục niềm tin
giữa con người với con người.
·
Và phát
triển đất nước không chỉ là làm giàu cho thế hệ hôm nay, đó là bảo đảm rằng thế
hệ mai sau vẫn còn cơ hội sống tốt hơn chúng ta.
Nếu
phải chọn một điểm khởi đầu duy nhất, tôi sẽ chọn việc khôi phục niềm
tin vào công lý và pháp quyền. Lý do là vì khi người dân tin rằng luật pháp
được thực thi công bằng, họ có xu hướng tin tưởng hơn vào các thể chế, sẵn sàng
hợp tác, đầu tư, sáng tạo và tham gia vào đời sống xã hội. Từ trên nền tảng đó,
những cải cách về giáo dục, kinh tế, môi trường hay quản trị sẽ có nhiều cơ hội
thành công hơn.
Về
lâu dài, một Việt Nam tự do, dân chủ và bền vững không chỉ phụ thuộc vào việc
thay đổi chính sách hay bộ máy nhà nước, mà còn phụ thuộc vào việc nuôi dưỡng một nền văn hóa đối thoại, thượng tôn pháp luật, tôn
trọng nhân phẩm và tinh thần trách nhiệm của toàn xã hội. Những yếu
tố đó có thể giúp xây dựng sự đồng thuận cần thiết để phát triển ổn định và lâu
dài.
Tôi tin rằng sức mạnh lớn nhất của Việt Nam không
nằm dưới lòng đất, không nằm trong tài nguyên thiên nhiên hay vị trí địa chính
trị. Sức
mạnh lớn nhất của Việt Nam nằm trong con người Việt Nam khi biết
đặt lợi ích quốc gia lên trên lợi ích cá nhân, đặt tương lai lâu dài lên trên
lợi ích trước mắt, và biết biến những khác biệt thành động lực để cùng nhau xây
dựng đất nước.
Lịch sử đã trao cho nhiều thế hệ người Việt trách
nhiệm giành lại độc lập và bảo vệ chủ quyền quốc gia. Thế hệ hôm nay
đang đứng trước một trách nhiệm khác là gìn giữ một đất nước để còn đáng được sống.
Nếu chúng ta không hành động ngay từ bây giờ, thiên nhiên sẽ không thể chờ đợi,
và thời gian cũng sẽ không quay trở lại.
Hãy để thế hệ mai sau có thể tự hào nói rằng, thế hệ cha ông chúng tôi đã không chỉ giữ gìn Tổ quốc bằng lòng dũng cảm, phát triển đất nước bằng trí tuệ, sự trung thực, tinh thần trách nhiệm và tình yêu đối với đất nước. Đó mới là di sản lớn nhất mà một dân tộc có thể để lại.
Đó có
lẽ cũng là khát vọng chung của nhiều người Việt, dù đang sống trong nước hay ở
hải ngoại, dù khác nhau về kinh nghiệm hay quan điểm chính trị, để từ đó, Việt
Nam không chỉ tồn tại, mà phát triển bền vững và xứng đáng với tiềm năng sẳn có
của mình.
Sau cùng,
nếu tình trạng Việt Nam trong tương lai sẽ xảy ra theo đúng lời ông Nghị tiên
đoán, thì 104 năm nữa dưới tấm bảng chỉ đường của Đảng với khẩu hiệu:”Đảng lãnh
đạo, Nhà nước quản trị và Nhân dân làm chủ” … thì chắc, ngàn năm sau
cũng chưa đi tới con đường xã hội chủ nghĩa được.
Mai Thanh Truyết
Con đường Việt
Nam
Houston –
30-7-2026
