Con
đường GS Nguyễn Ngọc Huy, Anh Ba đi
Phần V
– Đảng Tân Đại Việt hậu Nguyễn Ngọc Huy
Sau khi GS Nguyễn Ngọc Huy mất, có thể nói, Tân Đại Việt mất phương hướng vì không có người thứa kế xứng tầm, cũng như không chuẩn bị thừa kế vì lãnh tụ qua đời đột ngột. Đây là một nhận định có căn bản để thảo luận, nhưng cần phải tách bạch giữa những điều có thể xác nhận từ bằng chứng lịch sử và những đánh giá mang tính diễn giải của nhiều xu hướng khác nhau.
GS
Nguyễn Ngọc Huy qua đời năm 1990. Đối với Tân Đại Việt, sự ra đi của ông là một
cú sốc rất lớn vì ông
không chỉ là người lãnh đạo mà còn là nhà lý luận và là biểu tượng đoàn kết.
Trong nhiều tổ chức chính trị, nhất là các tổ chức hoạt động lưu vong, sự mất
mát của một lãnh tụ có uy tín thường dẫn đến ba vấn đề:
- Khoảng trống về tư tưởng: Người kế nhiệm có thể điều hành tổ chức, nhưng không dễ
thay thế vai trò của người đã xây dựng toàn bộ hệ tư tưởng.
- Khoảng trống về uy tín: Nhiều đảng viên trung thành với cá nhân lãnh đạo hơn là
với cơ chế tổ chức.
- Khoảng trống về cơ chế kế thừa:
Nếu việc chuyển giao không được
chuẩn bị từ trước thì trong các nhóm lãnh đạo tiếp nối, dễ xuất hiện cạnh
tranh nội bộ.
Câu hỏi được đặt ra là có phải không có người kế thừa xứng
đáng hay không sau khi GS Huy qua đời?
Nếu
hiểu chữ "xứng đáng" theo nghĩa vừa có học thuật, vừa có khả năng
tổ chức, vừa có uy tín quốc tế như GS Nguyễn Ngọc Huy, thì có thể nói rằng
sau năm 1990 không xuất hiện một nhân vật hội đủ các yếu tố đó. Điều này không
có nghĩa là không còn người có năng lực. Trong Tân Đại Việt vẫn có nhiều trí
thức và cán bộ tận tâm. Tuy nhiên, khi điểm mặt lại, chúng ta thấy không ai có
tầm ảnh hưởng như GS Huy, không ai được toàn tổ chức thừa nhận là người kế tục
tự nhiên, và hoàn cảnh quốc tế sau khi Sự tan rã của Liên Xô và Chiến tranh
Lạnh năm 1991 kết thúc, cũng làm thay đổi môi trường hoạt động của các tổ chức
chính trị lưu vong.
Do
đó, nói "không có người kế thừa xứng tầm" là một nhận định có nhiều
người đồng tình, nhưng vẫn là đánh giá chứ không phải một sự kiện lịch sử đã
được chứng minh tuyệt đối.
Có phải GS Huy
không chuẩn bị người kế thừa?
Có hai khả năng
thường được các nhà nghiên cứu nêu ra là Ông có đào tạo nhiều cán bộ, nhưng
không/chưa chỉ định người kế nhiệm rõ ràng, hoặc ông dự kiến tổ chức tương lai
sẽ lãnh đạo theo tập đoàn hơn là phụ thuộc vào một cá nhân. Hiện tại, theo chỗ người viết được biết (dĩ nhiên là chủ
quan), không có tài liệu nội bộ nào xác nhận rắng Ông đã chuẩn bị hay không
chuẩn bị việc … kế thừa. Điều có thể nói là quá trình chuyển giao lãnh đạo
TĐV sau khi ông mất đã không tạo được một trung tâm lãnh đạo đủ mạnh và đủ
uy tín trong đảng.
Sau
khi GS Huy mất, xuất hiện nhiều nhân vật đều tự xem mình là trung tâm lãnh đạo
hoặc là người kế thừa như hiện tượng “bát tú” luôn là câu chuyện đầy tranh cãi
trong đảng, dẫn đến việc phân quyền, chia nhóm và thiếu thống nhất. Tuy nhiên,
cụm từ "bát tú" hàm ý cụ thể về tám nhân vật hoặc một nhóm xác
định. Nếu không có tài liệu lịch sử hoặc văn kiện nội bộ chứng minh sự tồn tại
của một nhóm như vậy, thì nên xem đây là một cách nói mang tính biểu tượng
hoặc phê bình, chứ không phải một khái niệm lịch sử đã được xác lập. Thiết
nghĩ, người viết thiên về việc “tự phong bát tú”
do chủ quan của một số nhân vật trong đảng mà thôi.
Đứng
về mặt khách quan, chúng ta có thể rút ra ba nhận xét tương đối cân bằng:
1- Đúng là sau khi GS
Nguyễn Ngọc Huy qua đời, Tân Đại Việt suy yếu đáng kể về lãnh đạo và định
hướng.
2- Có nhiều dấu hiệu cho
thấy tổ chức gặp khó khăn trong việc truyền tãi và chuyển giao thế hệ, cũng như
duy trì sự thống nhất trong đảng.
3- Chưa đủ bằng chứng để
khẳng quyết rằng mọi nguyên nhân đều xuất phát từ việc "không chuẩn bị
người kế thừa", hoặc sự tồn tại một "bát tú" như một thực thể
lịch sử được xác nhận. Đó vẫn là những nhận định cần được đối chiếu với hồi ký,
biên bản nội bộ, thư từ và lời kể của các nhân chứng trong đảng. Câu chuyện vẫn
còn bỏ ngõ!
Hoàn cảnh lịch sử
của người sáng lập TĐV
Trước
hết cần đặt vị trí của GS Huy trong một hoàn cảnh lịch sử đặc biệt. Ông lãnh
đạo một tổ chức hoạt động trong điều kiện rất đặc biệt và rất khắc nghiệt: chiến tranh - lưu vong – nhân sự phân tán ra nhiều quốc gia - thiếu
nguồn lực – và nhứt là bị/chịu áp lực từ nhiều phía. Trong hoàn cảnh
đó, vai trò cá nhân lãnh tụ thường nổi bật hơn vai trò của định chế. Vì vậy,
vấn đề không hẳn là ông không muốn xây dựng một định chế đảng rõ ràng, mà là
việc chuyển đổi chưa hoàn tất trước khi ông qua đời. Đây là mô hình rất phổ
biến trong lịch sử cận đại ở Việt Nam.
Trong
trường hợp Tân Đại Việt, GS Nguyễn Ngọc Huy gần như hội đủ các vai trò điều
hành đảng như: xây dựng tư tưởng, thu hút nhân tài, giải quyết mọi mâu thuẫn
trong đối nội và đối ngoại, cũng như quyết định chiến lược. Ông vừa là Tổng tư
lịnh trong hệ thống quân đội, và là Chủ tịch một đảng chính trị. Và, ưu điểm
của mô hình này là tổ chức phát triển nhanh và có sự thống nhất cao khi Ông còn
hiện diện.
Nhược điểm là tổ chức dễ đồng nhất với
chính người sáng lập. Khi người đó không còn, khoảng trống lãnh đạo rất khó bù
đắp.
Có phải GS Huy
chưa hoàn tất “biến cải” TĐV thành Đảng của định chế?
Vì sao
nhiều phong trào đều trở nên suy yếu sau khi người sáng lập mất?
1- Mô hình “uy
tín cá nhân thay cho thể chế”
Rất
nhiều phong trào chính trị ra đời trong hoàn cảnh chiến tranh, lưu vong, đấu
tranh ý thức hệ, sinh hoạt trong điều kiện thiếu nhân sự và thiếu nguồn lực.
Trong điều kiện đó, cách vận hành hiệu quả nhất là nhu cầu cần có một lãnh
tụ mạnh, một tổ chức linh hoạt, và mọi thành viên đều có một niềm tin cá nhân
cao. Đó là những điều kiện mà Đảng
TĐV có đủ khi còn ở trong nước và mô hình này đã hoạt động rất tốt trong
giai đoạn đầu. Nhưng mô hình trên vô hình chung đã tạo ra một khuôn mẫu phụ
thuộc hầu như hoàn toàn vầ người lãnh tụ.
Khi
người lãnh đạo mất, không còn trung tâm điều phối, không còn người giải thích
“đường lối đúng”, không còn hướng hành động rạch ròi…Chắc chắn tổ chức sẽ đi
vào … xáo trộn, và cái kết, là cuộc khủ hoảng nhân sự, như trường hợp của TĐV
ngày hôm nay.
2- Vấn đề danh
chính ngôn thuận của lãnh tụ
Có
thể nói, trong hầu hết các đảng cách mạng xuất hiện vào đầu thế kỷ 20 ở Việt
Nam, các tổ chức chính danh thường đến qua sự hy sinh và uy tín cá nhân của
lãnh tụ do điều kiện đặc thù của lịch sử thời bấy giờ, chứ không đến từ các
cuộc bầu cử ổn định qua phổ thông đầu phiếu. Vì vậy, khi lãnh tụ mất, sẽ không
có “nguồn chính danh thay thế”!
Sau khi người sáng
lập qua đời, thường xuất hiện, nhiều người có công lao ngang nhau, nhiều nhóm
từng cùng làm việc với nhau … xuất hiện. Vì vậy, hệ quả tự nhiên là sẽ có sự
xuất hiện của những mầm mống phân nhóm, cạnh tranh, và chia rẽ mềm hoặc cứng,
âm thầm hay lộ liễu trong nội bộ của đảng.
Sau
khi Chiến tranh Lạnh kết thúc năm 1991, nhiều phong trào, đảng phái quốc gia đã
mất “điều kiện đối đầu toàn cầu” để làm nền tảng tranh đấu, nguồn tài trợ và sự
chú ý quốc tế giảm sút, và ở hải ngoại, cộng đồng chuyển sang việc ổn định đời
sống cá nhân và gia đình hơn là việc đặt nặng vào công cuộc tranh đấu cho dân
tộc. Khi “môi trường chính trị” thay đổi, tổ chức không còn được tiếp sức như
trước, nhứt là về nhân lực và tài lực. Dó đó, một phong trào chính trị nếu
muốn còn tồn tại với tình hình chính trị thế giới mới, cần phải chuyển thành “mọt
tổ chức của luật lệ”, không phải “tổ chức của người lãnh đạo”. Và, GS Nguyễn Ngọc Huy là một
lãnh tụ có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc xây dựng nền tảng tư tưởng và
tổ chức ban đầu. Nhưng sự ra đi của Ông bộc lộ một thực tế phổ biến là quá trình thể chế hóa Đảng chưa
được thực hiện, hay chưa
theo kịp quá trình phát triển của Đảng.
3-
Suy nghĩ của
người viết
Theo
định nghĩa, Đảng của định chế là giai đoạn trưởng thành của một tổ chức chính
trị, vì ở giai đoạn này việc hoạch định tư tưởng đảng không còn phụ thuộc vào
một người nữa. Các quy chế, điều lệ đảng đưa ra đường lối diều hành có quy cũ,
có kỷ cương hơn một cá nhân lãnh tụ, chức vụ được chuyển giao dựa theo năng lực
cán bộ hơn là cảm tính của lãnh tụ. Từ đó, tất cả áp lực của lãnh tụ được giải
tỏa, và đảng được điều hành theo một cơ chế đã được sự đồng thuận trong đảng.
Rất
tiếc đều nầy không xảy ra khi GS qua đời! Người viết thiết nghĩ, GS Nguyễn Ngọc
Huy đã chuẩn bị định chế nầy khi khai sinh Ủy ban Quốc tề Yểm trợ Việt Nam nhằm
vận động quốc tế hơn là xử dụng tư cách Đảng. Công việc còn đang dỡ dang…
Vì
vậy, nếu ngày nay có ai muốn phục hưng tinh thần của Tân Đại Việt, thì việc
quan trọng nhất có lẽ không phải là tìm một "GS Nguyễn Ngọc Huy thứ
hai". Lịch sử rất hiếm khi lặp lại theo cách đó. Điều quan trọng hơn là
xây dựng những định chế mà ngay cả khi không có một lãnh tụ xuất chúng,
tổ chức vẫn có thể vận hành, tự sửa sai, đào tạo lớp kế cận và thích ứng với
hoàn cảnh mới.
Đó
cũng là bài học mà nhiều tổ chức chính trị, doanh nghiệp và tổ chức xã hội trên
thế giới đã rút ra: tuổi thọ của một
tổ chức phụ thuộc ít hơn vào sự xuất chúng của người sáng lập, mà phụ thuộc
nhiều hơn vào phẩm chất của các định chế mà người sáng lập để lại. Vì
vậy, một mô hình tổ chức chính trị chỉ sống qua nhiều thế hệ khi nó
chuyển từ “tổ chức của con người” sang “tổ chức của thể chế”. Trong trường hợp
Tân Đại Việt, đã có một thế hệ sáng lập rất mạnh, trong đó GS Huy là trung tâm
tư tưởng và tổ chức, nhưng các trụ cột thể chế hóa chưa hoàn tất trước khi ông
qua đời. Sau đó, hoàn cảnh chính trị quốc tế thay đổi nhanh (hậu 1991), cho nên
tổ chức chuyển sang trạng thái suy giảm dần thay vì tái cấu trúc cho hợp thời
thế.
4-
Kết luận
Trong tình trạng hiện tại, Tân Đại Việt có thể suy yếu về
mặt tổ chức sau khi mất trung tâm lãnh đạo, nhưng di sản tư tưởng của Nguyễn
Ngọc Huy có thể tiếp tục tồn tại dưới dạng học thuật, suy diễn, và ảnh hưởng
phân tán. Đại Việt không “tan rã” chỉ vì thiếu một chủ tịch mới, mà vì đây là
một tổ chức mà sức sống thể chế phụ
thuộc rất lớn vào vai trò trí tuệ trung tâm của GS Nguyễn Ngọc Huy,
trong khi lại thiếu cơ chế kế thừa và điều kiện chính trị – xã hội để chuyển
hóa thành một đảng đại chúng bền vững hơn.
Một câu hỏi cho kết luận hôm nay:”Vì sao có những hệ tư
tưởng sống rất lâu, nhưng không trở lại thành một phong trào chính trị mạnh như
trường hợp của đảng TĐV?”
Thân mời các thành viên cốt cán của đương nhiệm Tân Đại Việt
cùng suy nghĩ…
Xem tiếp: Phần VI – Nguyễn Ngọc Huy – Một Thinktank?
Mai Thanh Truyết
Tháng Tưởng niệm
GS NNH
Houston -
2-7-2026