Saturday, May 16, 2026

 

Dân chủ vs Độc tài dưới thời đại Tô Lâm


Lời người viết: Trong một bài viết vào năm 2008 dưới đề tài:” Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy đã để lại những di sản gì cho các thế hệ đi sau?”, LS Tạ Văn Tài có nhận định như sau:” Việt Nam cần ổn định để phát triển, muốn ổn định thì phải độc tài, mà độc tài thì trái với lý tưởng dân chủ phải theo, nhưng nếu dân chủ thì bất ổn, vậy thì phải cố dung hoà hai nhu cầu “ổn định” và “dân chủ”, một vấn đề có vẻ như nan giải.” Điều nhận định trên có lẽ đúng vào thời điểm đó. Nhưng hiện tại, ông Tô Lâm đang nắm giữ các chức vụ trong Đảng và hành pháp Việt Nam. Người viết xin luận bàn về “độc tài” và “dân chủ” trong tình hình chính trị hiện nay của Việt Nam. Tô Lâm có giống Putin hay Tập Cận Bình không? Hay ông đang đi con đường dân chủ cho Việt Nam?

 

***

Nhận định trên phản ảnh một nỗi lo có thật trong nhiều xã hội đang phát triển, làm sao vừa giữ được ổn định qua các hành xử độc tài để phát triển kinh tế, vừa mở rộng tự do dân chủ mà đất nước không rơi vào hỗn loạn?

Đây không phải là câu hỏi riêng của Việt Nam, mà là bài toán lịch sử của hầu hết các quốc gia hậu thuộc địa hay sau chiến tranh. Không có ngoại lệ cho Việt Nam. Tuy nhiên, nếu nhìn sâu hơn nữa, lập luận của LS Tạ Văn Tài:“ Muốn ổn định phải độc tài; dân chủ tất yếu dẫn đến bất ổn” là một kết luận quá đơn giản, và nhiều khi nhầm lẫn giữa sự ổn định thật sự qua độc tài với sự im lặng cưỡng bức. Một xã hội lúc đó, có thể rất “yên tĩnh” trên bề mặt nhưng bên trong tích tụ sự bất mãn, sự sợ hãi, sự tham nhũng, sự bất công, và nhứt là sự suy thoái thể chế. Đó không phải ổn định lâu dài, mà chỉ là một sự “nén áp suất”, một sự “cưỡng chế” của chế độ độc tài.

Lịch sử thế giới cho thấy nhiều chế độ tưởng rất ổn định đã sụp đổ nhanh chóng vì thiếu khả năng tự điều chỉnh như Liên Sô, Romania thời Nicolae Ceaușescu, hay gần đây là nhiều quốc gia Trung Đông sau cuộc cách mạng mùa Xuân Á Rập - Arab Spring.

Ngược lại, cũng không thể phủ nhận rằng một nền dân chủ non yếu, thiếu nền tảng pháp trị và văn hóa đối thoại có thể dẫn đến hỗn loạn. Một số nước sau khi mở cửa chính trị độc tài quá nhanh đã rơi vào trạng thái phân cực, dân túy, tranh giành quyền lực, hoặc nội chiến.

Cho nên, vấn đề thật sự không nằm ở lựa chọn cực đoan giữa “độc tài tuyệt đối”
hay “dân chủ hỗn loạn, mà nằm ở câu hỏi sâu sắc hơn là, làm sao xây dựng được một nhà nước đủ mạnh để điều hành đất nước, nhưng cũng đủ mở để tự sửa sai? Đó mới là cốt lõi của vấn đề. Hay nói một cách khác, một quốc gia cần trật tự, nhưng trật tự không đồng nghĩa với đàn áp mà phải cần có kỷ cương. Nhưng kỷ cương không đồng nghĩa với độc quyền chân lý mà phải cần có sự ổn định, và sự ổn định không thể dựa mãi trên việc kiểm soát tư tưởng và hành động của người dân.

1-    Mô hình phát triển theo hướng dân chủ Tây phương

Thiết nghĩ một xã hội trưởng thành thường phát triển theo mô hình “tiến đến dân chủ Tây phương” qua ba giai đoạn sau một cuộc chiến tranh dai dẳng như Việt Nam cần phải ổn định bằng quyền lực, sau đó cần ổn định bằng luật pháp để cho thể chế lần lần được minh bạch hơn. Và sau cùng, ổn định bằng lòng tin xã hội để cho người dân cảm thấy mình được tôn trọng và có tiếng nói phản biện các cuộc vận hành của nhà nước.

Chính giai đoạn thứ ba mới là một sự ổn định bền vững nhất. Thật ra, có nhiều quốc gia Đông Á thành công không hoàn toàn đi theo mô hình trên ngay lập tức, nhưng họ đã dần dần mở rộng pháp trị, nâng cao trách nhiệm của nhà cầm quyền, bảo vệ quyền sở hữu, cải thiện giáo dục, lần lần giảm kiểm soát đời sống tư tưởng, và tạo không gian phản biện có giới hạn lúc khởi đầu, và rộng mở hơn sau đó.

Chính điều đó giúp họ tránh được cả hai cực đoan sau khi bắt đầu mở cửa là sự hỗn loạn vô chính phủ, và trì trệ độc đoán.

2-    Bài toán thật sự của Việt Nam

Đối với Việt Nam hôm nay, câu hỏi quan trọng có lẽ không phải là “độc tài hay dân chủ?” mà là làm sao chuyển từ ổn định dựa trên kiểm soát, một hình thức độc tài, bước sang ổn định dựa trên lòng tin, một hình thức dân chủ. Đó là hai loại ổn định hoàn toàn khác nhau.

2.1- Ổn định dựa trên kiểm soát

Mô hình này dựa vào kiểm soát thông tin, hạn chế phản biện, tập trung quyền lực, và ưu tiên sự đồng nhất trong Đảng. Ưu điểm của nó là ra quyết định nhanh, tránh được hỗn loạn trong ngắn hạn, và dễ huy động lực lượng trấn áp người dân. Nhưng chắc chắn sẽ vướng phải những nhược điểm lâu dài là dễ sinh tham nhũng, thiếu sáng tạo, cả cán bộ và công nhân viên nhà nước đều sợ trách nhiệm xã hội, đổ thừa là do cơ chế trước mọi thất bại. Vì thế bộ máy hành chánh ngày càng xa dần và hoàn toàn mất niềm tin nơi người dân. Đó là hình ảnh của Việt Nam sau 51 năm dưới “lá cờ quang vinh” của đảng.

2.2- Ổn định dựa trên lòng tin

Mô hình này không phủ nhận vai trò của nhà nước mạnh, nhưng nhà nước mạnh ở đây chính là mạnh về pháp luật, mạnh về năng lực quản trị, mạnh về tính minh bạch, chứ không chỉ mạnh về kiểm soát và cưỡng chế người dân. Trong mô hình này người dân được quyền phản biện, báo chí có không gian mở nhất định, trí thức được nói sự thật trước sự bất công, và xã hội có cơ chế tự điều chỉnh và vận hành….

Đó là loại ổn định khó xây dựng hơn, nhưng bền vững hơn nhiều. Đây mới chính là một cơ chế mà trên 100 triệu người con Việt mong đợi.

2.3- Dung hòa không phải thỏa hiệp yếu đuối

Nhiều người cho rằng “dung hòa” giữa ổn định do độc tài và dân chủ là lập trường mơ hồ. Người viết thiết nghĩ có một sợi chỉ xuyên suốt kết nối giữa hai cực đoan nầy. Dung hòa ở đây không có nghĩa là vừa độc tài một chút, và vừa dân chủ một chút. Mà là xây dựng một lộ trình phát triển thực tế, phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam.

Một xã hội không thể chuyển đổi bằng cách phá bỏ toàn bộ hệ thống trong một đêm.
Nhưng cũng không thể trì hoãn cải cách mãi mãi bằng lý do “ổn định” để kềm kẹp người dân và bảo vệ sự đồng thuận trong đảng
. Sự dung hòa cần thiết cho Việt Nam trong tương lai có thể bao gồm:

·       Việc tăng trưởng chính sách pháp trị: Một xã hội muốn dân chủ bền vững phải có tòa án đáng tin cậy, có luật pháp công bằng, có chống tham nhũng bằng thực chất chứ không áp dụng luật kép cho cán bộ đảng viên. Và nhứt là quyền công dân phải thật rõ ràng. Nếu chưa có nền pháp trị trên, dân chủ sẽ không đến, mà dễ biến thành tranh giành phe nhóm.

·       Mở rộng phản biện xã hội có trách nhiệm: Không phải mọi phản biện đều là chống phá. Một quốc gia trưởng thành cần biết phân biệt phản biện để xây dựng với kích động cực đoan. Nếu trí thức, nhà báo, chuyên gia luôn sợ nói thật, quốc gia sẽ mất khả năng tự sửa sai.

·       Giáo dục công dân trong tin thần dân chủ thay vì chỉ giáo dục tuân phục: Một xã hội dân chủ không thể tồn tại nếu người dân thiếu sự suy nghĩ độc lập, không biết tranh luận trong sự tôn trọng lẫn nhau, hoặc chỉ phản ứng theo cảm xúc. Giáo dục tương lai phải giúp con người biết quyền hạn của người dân, nhưng cũng phải hiểu trách nhiệm và bổn phận của mình.

·       Xây dựng bản sắc quốc gia vượt lên trên ý thức hệ: Một trong những nguy cơ lớn của Việt Nam là tiếp tục nhìn nhau qua lăng kính “kẻ thắng – người thua”, “quốc gia – cộng sản”, và “trong nước – hải ngoại”. Nếu kéo dài tâm lý ấy, điều đã xảy ra suốt 51 năm qua, dân tộc sẽ mãi tiêu hao năng lượng vì ký ức của quá khứ. Một quốc gia mạnh phải biết giữ ký ức, nhưng không bị ký ức giam cầm trong đời sống. Và luôn xem ký ức là một phần của lịch sử!

 

3-    Việt Nam chọn độc tài hay dân chủ? Con đường Tô Lâm đang đi, một loại độc tài cá nhân?

Việc đánh giá vai trò của Tô Lâm cần nhìn trong toàn cảnh rộng hơn của hệ thống chính trị Việt Nam hiện tại, thay vì chỉ quy về hình ảnh một cá nhân. Có thể thấy rằng sau khi tập trung cả vị trí lãnh đạo Đảng và Nhà nước trong một giai đoạn chuyển tiếp, ông Tô Lâm đang phát đi tín hiệu về tăng cường kỷ luật hệ thống, củng cố quyền lực trung ương, nâng cao hiệu quả điều hành, và đẩy mạnh chống tham nhũng theo hướng quyết liệt hơn. Tất cả đều nằm trong những tuyên bố trong những tháng gần đây. Điều này khiến nhiều người đặt câu hỏi: “Liệu Việt Nam đang tiến gần hơn đến mô hình “lãnh đạo tập trung quyền lực cá nhân”?


Đó là một câu hỏi hợp lý, nhưng cần phân biệt giữa “tăng quyền lực điều hành trong giai đoạn chuyển đổi”, và “độc tài cá nhân theo kiểu sùng bái lãnh tụ”. Hiện nay, Đảng CS BV vẫn vận hành trên nguyên tắc lãnh đạo tập thể, cân bằng phe nhóm nội bộ, và hệ thống đảng trị chia ra nhiều lớp từ cơ sở đến trung ương. Cho nên, dù quyền lực cá nhân của ông Tô Lâm có vẻ mạnh lên, Việt Nam vẫn chưa giống mô hình Trung Cộng dưới Xi Jinping – Tập Cận Bình, hay Nước Nga dưới Vladimir Putin, nơi quyền lực cá nhân hóa rất cao và gắn với hình tượng lãnh tụ trung tâm.

Tuy nhiên, cũng có những dấu hiệu cho thấy xu hướng tập trung quyền lực đang làm tăng vai trò của ngành công an và an ninh nổi bật hơn, kiểm soát tin tức chặt chẽ hơn. Từ đó, củng cố thêm việc ổn định chính trị cao hơn, và bộ máy nhấn mạnh tính phục tùng, kỷ luật. Điều này phản ảnh một suy nghĩ một chiều, trong thời kỳ nhiều biến động toàn cầu như hiện tại, hệ thống cần một trung tâm quyền lực mạnh để tránh rối loạn.

Nhưng ở đây xuất hiện bài toán quan trọng, quyền lực mạnh có thể giúp cải tổ nhanh, nhưng cũng chứa không ít rủi ro lớn. Một lãnh đạo tập trung quá nhiều quyền lực có thể ra được quyết định nhanh, phá vỡ sự trì trệ qua sức ì của bộ máy cộng sản, giải quyết tham nhũng mạnh tay hơn, và buộc bộ máy vận hành hiệu quả hơn so với trước kia. Nhiều quốc gia Đông Á từng phát triển nhờ giai đoạn lãnh đạo tập trung tương đối mạnh như Đại Hàn và Singapore trong những thập niên 70, 80 của thế kỷ trước. Nhưng nguy cơ của mô hình này là vẫn còn thiếu phản biện, dễ tạo văn hóa sợ hãi, cấp dưới vẫn còn e ngại không dám nói thật, và toàn bộ hệ thống phụ thuộc vào phẩm chất của một cá nhân. Nếu người đứng đầu sáng suốt, hệ thống có thể vận hành tốt. Nhưng nếu sai lầm, cả quốc gia có thể trả giá rất lớn vì không còn cơ chế tự sửa sai nữa.

Đó là lý do các xã hội hiện đại cuối cùng đều phải quay về thể chế, và cơ chế kiểm soát quyền lực bằng cơ chế pháp trị thay vì đặt vận mệnh quốc gia vào một cá nhân.

3.1- Hiện tại, có thể gọi là “độc tài cá nhân” chưa?

Ở thời điểm hiện tại, có lẽ gọi như vậy vẫn còn sớm và chưa hoàn toàn chính xác. Đúng hơn, Việt Nam hiện nay dường như đang đi theo xu hướng tập trung hóa quyền lực để củng cố hệ thống và duy trì ổn định. Câu hỏi quan trọng hơn không phải là “một cá nhân mạnh (Tô Lâm) đến đâu?” mà là hệ thống có mở ra khả năng tự điều chỉnh, phản biện và kế thừa lành mạnh hay không? Nếu quyền lực mạnh đi cùng cải cách pháp trị minh bạch hơn, quản trị hiệu quả hơn, và từng bước mở rộng lòng tin xã hội, thì đó có thể là một giai đoạn chuyển tiếp.

Nhưng nếu quyền lực ngày càng tập trung mà phản biện bị thu hẹp, xã hội dân sự bị yếu đi và luôn bị kiểm soát và bóp chặt, làm cho nỗi sợ tăng lên, và mọi quyết định phụ thuộc vào một trung tâm quyền lực duy nhất, thì nguy cơ cá nhân hóa quyền lực sẽ ngày càng rõ hơn. Lịch sử cho thấy điều nguy hiểm nhất cho một quốc gia không phải là có lãnh đạo mạnh, mà là, khi một hệ thống không còn đủ mạnh để cân bằng chính lãnh đạo đó. Lúc đó mới là thử thách thật sự cho tương lai chính trị của Việt Nam.

3.2- Tô Lâm có còn đi dây giữa Trung Cộng và Mỹ không?

Có thể nói rằng Tô Lâm hiện nay vẫn đang tiếp tục con đường “đi dây chiến lược” giữa TC và Mỹ, nhưng với một sắc thái khác trước, tức là thực dụng hơn, an ninh hơn và thận trọng hơn. Thật ra, “đi dây” không phải là lựa chọn riêng của cá nhân ông Tô Lâm, mà gần như là định mệnh địa chính trị của Việt Nam từ nhiều thế kỷ nay.

Việt Nam có ba thực tế không thể thay đổi là gần Trung Cộng về địa lý, lệ thuộc lớn vào thương mại toàn cầu, và cần Hoa Kỳ cùng phương Tây để cân bằng chiến lược. Cho nên, bất kỳ lãnh đạo nào của Việt Nam cũng phải tìm cách không quá lệ thuộc vào Bắc Kinh, nhưng cũng không được biến mình thành đồng minh chống Trung Cộng của Washington. Đó là sợi dây rất khó đi cho Tô Lâm. Có vẻ như dưới thời ông Tô Lâm, chính sách đối ngoại của Việt Nam chuyển sang cái thế ưu tiên bảo vệ chế độ và ổn định nội bộ trước hết.

Điều này dẫn đến một số đặc điểm là Việt Nam vẫn cần Mỹ về kinh tế và chiến lược để đầu tư công nghệ, có một thị trường xuất cảng lớn, có chuỗi cung ứng, có chất bán dẫn, và nhứt là cân bằng ảnh hưởng và sức ép của Trung Cộng. Việc nâng cấp quan hệ Việt – Mỹ lên “đối tác chiến lược toàn diện” dưới thời TT Biden cho thấy Hà Nội không muốn lệ thuộc hoàn toàn vào Bắc Kinh. Việt Nam hiểu rất rõ là, nếu chỉ dựa vào Trung Cộng, không gian chiến lược sẽ bị thu hẹp.

Tuy nhiên, khác với một số nước khác trong khu vực, Việt Nam vẫn rất cẩn trọng với Bắc Kinh vì vị trí địa lý nằm sát cạnh, lệ thuộc kinh tế xuất nhập đáng kể, có tương đồng về mô hình chính trị tập trung, và nỗi lo bất ổn khu vực. Cho nên Hà Nội hiện nay dường như chọn lựa theo sự cân bằng mà không phải là liên minh. Nghĩa là chấp nhận hợp tác chặt chẽ hơn với Mỹ, nhưng tránh tạo hình ảnh chống Trung Cộng. (Mời đọc bài viết “Việt Nam giữa hai gọng kềm Mỹ - Trung”). Đó, mới chính là lý do Việt Nam thường “nhỏ nhẹ” về ngôn ngữ ngoại giao, tránh phát biểu cực đoan, và duy trì quan hệ đảng–đảng với Bắc Kinh.

3.3- Yếu tố “an ninh chế độ” ngày càng quan trọng

Điểm khác biệt đáng chú ý dưới thời ông Tô Lâm là yếu tố an ninh chính trị nội bộ nổi bật hơn trước. Điều này khiến Hà Nội có thêm xu hướng dè chừng ảnh hưởng chính trị của phương Tây, kiểm soát xã hội dân sự chặt hơn và ưu tiên ổn định hệ thống đảng. Trong cách nhìn này, lãnh đạo Việt Nam có thể cho rằng, Mỹ hữu ích về kinh tế và công nghệ,
nhưng, ngược lại, Trung Cộng lại “ít gây áp lực thay đổi thể chế” hơn.

Đây mới chính là nghịch lý chiến lược của Việt Nam là cần Mỹ để mạnh lên, nhưng lại sợ sức ép giá trị từ Mỹ, và lo Trung Cộng chiếm đất, nhưng cũng cần TC để tránh đối đầu trực diện.

3.4- Có phải Việt Nam đang nghiêng hẳn về Trung Cộng?

Hiện tại, có lẽ chưa có thể kết luận như vậy. Dù cho có nhiều người lo ngại xu hướng tập trung quyền lực, tăng cường vai trò an ninh quốc gia, và siết chặt không gian chính trị,
Việt Nam vẫn tiếp tục đi vào hội nhập kinh tế phương Tây, ký những văn bản hợp tác quốc phòng với Mỹ, Nhật, Ấn Độ, Úc, và châu Âu. Điều này cho thấy Hà Nội vẫn muốn giữ thế cân bằng chiến lược với Trung Cộng.

Nhưng thế giới hiện nay đang phân cực mạnh hơn qua sự cạnh tranh Mỹ–Trung ngày càng gay gắt hơn, trận chiến công nghệ ngày càng sâu sắc hơn, chuỗi cung ứng năng lượng đang được tái cấu trúc qua cuộc chiến giữa Mỹ – Do Thái và Iran. Nhìn lại cuộc họp thượng đỉnh giữa TT Trump và CT Tập Cận Bình vừa qua ngày 14-15/5, và thái độ “dè chừng” giữa hai lãnh tụ, chúng ta cũng hình dung được sự “e dè” trong việc tiếp cận của Việt Nam đối với hai quốc gia MỸ, Trung như thế nào rồi. Và trong tình hình đó, khoảng cách để Việt Nam “đi dây” sẽ ngày càng hẹp dần. Nếu quá gần Trung Cộng, Việt Nam có nguy cơ mất tự chủ chiến lược. Mà nếu quá gần Mỹ, CSBV lại lo ngại áp lực chính trị và an ninh của chế độ đến từ TC! Vì vậy, thách thức lớn nhất của Tô Lâm có lẽ không chỉ là điều hành kinh tế hay kiểm soát nội bộ, mà sẽ là làm sao giữ được độc lập chiến lược của Việt Nam trong một thế giới ngày càng phân cực như hiện nay.

Và cuối cùng, điều quyết định khả năng “đi dây” thành công không phải chỉ là ngoại giao, mà là sức mạnh nội tại của quốc gia, tăng cường phẩm chất của thể chế, mang lại lòng tin của người dân, nâng cao trình độ khoa học kỹ thuật, hướng đến giáo dục dân tộc, nhân bản, và khai phóng, và nhứt là tạo dựng niềm tin và sự đoàn kết dân tộc.

Một quốc gia yếu bên trong thì sớm muộn cũng bị nghiêng về một phía. Một quốc gia mạnh thật sự mới có khả năng đứng giữa mà không bị cuốn đi về phía nào hết.

3.5- Hiện tại, Việt Nam đang đi con đường nào?

Việt Nam hiện nay đang ở trong một trạng thái vừa chuyển động vì bắt buộc phải đi, phải phát triển; vừa dè dặt vì phải ngó trước ngó sau; vừa cải cách nhưng cũng phải liếc chừng anh Mỹ hay anh Trung; vừa tự phòng vệ cả bên trong lẫn bên ngoài từ cả hai phía Đông và Tây!

Đó mới là cái khó cho Việt Nam.

Có thể nói ngắn gọn rằng, Việt Nam đang đi theo hướng mở cửa kinh tế để phát triển, nhưng chưa thật sự mở tương ứng về thể chế chính trị và không gian mở cho người dân. Nói một cách khác, nhà nước hiện nay dường như vẫn ưu tiên ổn định chính trị, tăng trưởng kinh tế và kiểm soát xã hội, hơn là chấp nhận cạnh tranh chính trị hay phản biện độc lập rộng rãi.

Tuy nhiên, bức tranh không hoàn toàn bất động. Có những dấu hiệu cho thấy Việt Nam đang thay đổi. Trong khoảng ba thập niên qua, Việt Nam đã thay đổi rất sâu qua việc hội nhập vào kinh tế toàn cầu; tầng lớp trung lưu có tăng trưởng nhưng không đủ nhanh so với tỷ lệ dân số của lớp người trẻ tuổi và trung lưu; có mở rộng Internet và truyền thông xã hội, và tăng giao lưu quốc tế.

Ngay cả bộ máy lãnh đạo cũng “đã” hiểu rằng, một xã hội hiện đại không thể quản lý hoàn toàn bằng mô hình “ba dòng thác cách mạng” hay “chuyên chính vô sản” của 5,7 thập niên trước nữa. Cho nên đã xuất hiện một số xu hướng như cải cách hành chính, chống tham nhũng mạnh hơn nhưng vẫn còn phân biệt đối xử, và đôi khi mở ra không gian góp ý chính sách có giới hạn cho nhiều “tầng lớp” người dân khác nhau.

Đó là những bước đi thực tế. Cho dù kinh tế có mở rộng, không gian chính trị và phản biện độc lập vẫn còn nhiều hạn chế. CSBV hiện nay vẫn lo ngại rằng nếu mở tự do chính trị quá nhanh, hoặc để sự hình thành đối lập độc lập mạnh và nhanh hơn, có thể dẫn đến bất ổn xã hội, “diễn biến hòa bình”, phân hóa xã hội, và nhất là đảng sẽ mất quyền kiểm soát.

3.6- Việt Nam có đang đi về hướng “dung hòa” không?


Có thể nói, trong tình hình thế giới hiện tại, Việt Nam có phần nào dung hòa trong việc quản lý đất nước “cứng” và “mềm”, nhưng chưa được trọn vẹn. Việt Nam đang cố gắng dung hòa phát triển kinh tế thị trường, hội nhập toàn cầu, ổn định chính trị, và bảo tồn vai trò lãnh đạo tập trung.

Nhưng phần “dung hòa” hiện nay nghiêng nhiều về cung cách quản lý ổn định bằng kiểm soát an ninh chính trị hơn là xây dựng sự ổn định bằng lòng tin xã hội và pháp trị độc lập. Nhưng lịch sử thế giới đã cho thấy không quốc gia nào có thể hiện đại hóa lâu dài chỉ bằng kinh tế, nếu như thể chế, giáo dục, pháp luật và lòng tin xã hội không thể phát triển tương ứng. Ổn định thật sự không đến từ việc mọi người im lặng, nhưng sẽ đến một khi đa số người dân tin rằng họ có tương lai, có phẩm giá, có cơ hội và có quyền được lên tiếng trong khuôn khổ quốc gia.

4-    Thay lời kết

Một quốc gia mạnh là quốc gia có khả năng cho phép sự khác biệt tồn tại, cho phép người dân phản biện, và có một nền hành chính dựa trên căn bản pháp trị gồm hành pháp, lập pháp, và tư pháp. Có thể nói, thách thức lớn nhất của Việt Nam trong tương lai không phải chỉ là tăng trưởng GDP, mà là xây dựng được một nền ổn định đủ mềm để xã hội có thể thở, nhưng cũng đủ vững vàng để đất nước không tan rã trong phân cực và cực đoan.

Đó là một tiến trình dài, không thể thực hiện trong một sớm một chiều, nhưng cũng không thể trì hoãn mãi mãi, vì Đất và Nước không còn thì giờ để chờ đợi nữa…Đối với nhiều người Việt Nam, đặc biệt là thế hệ từng sống qua chiến tranh hay thời bao cấp, “ổn định” gần như trở thành một giá trị thiêng liêng. Bởi họ hiểu rất rõ giá của sự bất ổn làm cho xã hội tan rã, kinh tế suy sụp, con người mất phương hướng, và đất nước dễ trở thành sân chơi cho ngoại bang.

Từ đó, xuất hiện một tâm lý chính trị khá phổ biến “Thà hy sinh một phần tự do để giữ ổn định còn hơn có tự do mà hỗn loạn.” Chính tâm lý làm cho người dân ngày càng “tích tụ” thêm “sức ì” và đảng ngày càng dậm chân tại chỗ, đưa đất nước vào sự … trì trệ triền miên. Nhưng vấn đề của Việt Nam là, liệu sự ổn định bằng kiểm soát chặt chẽ có thật sự là nền tảng bền vững cho tương lai hay không? Chắc chắn là sự ổn định không đồng nghĩa với phát triển bền vững.


Nhiều chế độ chính trị trong lịch sử từng rất “ổn định” trên bề mặt, từ báo chí đồng loạt đăng tải một luận điệu, một tin tức thống nhất và một chiều, xã hội ít có phản kháng, tiếng nói đối lập bị hạn chế hay bị bóp nghẹt, và người dân im lặng vì không thể nào làm khác hơn.

Trong lúc đó, từ trong lòng đảng viên và cán bộ lại âm thầm tích tụ sự tham nhũng, sự bất công, sự trì trệ, sự sợ hãi lẫn nhau, và từ đó sẽ mất lòng tin vào đảng!

Khi những áp lực ấy vượt ngưỡng chịu đựng được của con người, sự sụp đổ thường đến rất nhanh và bất ngờ, không lường trước được.

·       Kinh nghiệm Liên Sô - Soviet Union từng là siêu cường quân sự hùng mạnh, nhưng cuối cùng tan rã không phải vì thiếu vũ khí, mà vì mất sức sống nội tại.

·       Romania dưới thời Nicolae Ceaușescu cũng từng được xem là ổn định tuyệt đối. Nhưng sự ổn định ấy dựa trên sợ hãi hơn là đồng thuận.

Một xã hội mà người dân không dám nói thật thường là một xã hội mà chính quyền cũng không nghe được sự thật. Và đó là điều nguy hiểm nhất cho mọi quốc gia. Ở chiều ngược lại, nhiều người cổ vũ dân chủ thường quá lý tưởng hóa nó, như thể chỉ cần có bầu cử đa đảng là mọi vấn đề sẽ được giải quyết. Kinh nghiệm lịch sử cho thấy điều đó cũng không đúng. Một nền dân chủ nếu thiếu một chính sách pháp trị, nền giáo dục công dân, không gian văn hóa đối thoại, tầng lớp trung lưu đủ mạnh, và thể chế độc lập, có thể nhanh chóng rơi vào chính sách dân túy, cực đoan, tạo ra phân cực xã hội, tranh giành quyền lực như Hoa Kỳ hiện tại.

Cho nên, nếu nói “độc tài là xấu, dân chủ là tốt” thì đó cũng chỉ là một cách nhìn đơn giản hóa. Vấn đề cốt lõi không nằm ở khẩu hiệu chính trị, mà ở phẩm chất của chế độ và trình độ trưởng thành của xã hội.

Do đó, lịch sử nhân loại cho thấy con đường phát triển bền vững nhất thường nằm ở giữa hai cực đoan ấy. Một quốc gia muốn đi xa cần phải có một trật tự xã hội để không bị tan rã, nhưng cũng cần phải có đủ tự do để người dân không bị nghẹt thở. Ổn định thật sự không phải là khi mọi người phải im lặng và đi theo tấm bảng chỉ đường của đảng, mà là khi con người có thể nói khác nhau, phê bình chính sách không thích hợp của đảng mà đất nước vẫn không đổ vỡ, cũng như được thích nghi với những phản biện chính đáng.

Và dân chủ sẽ trở nên trưởng thành không phải là ai thắng ai, mà là tạo ra một cơ chế để xã hội tự sửa sai mà không cần cách mạng hay bạo lực. Đó có lẽ là bài toán lớn nhất của Việt Nam trong thế kỷ XXI gồm những điểm sau đây như chuyển từ sự ổn định của sợ hãi sang sự ổn định của lòng tin của người dân, chuyển từ việc quản lý xã hội bằng kiểm soát sang việc hướng dẫn xã hội bằng tính chính danh, sự xuyên suốt (transparency), và năng lực thực sự của chính quyền.


Nếu Việt Nam dần chuyển được từ việc ổn định chính trị bằng kiểm soát sang việc ổn định bằng sự đồng thuận và lòng tin của người dân thì đất nước có cơ hội bước vào một giai đoạn trưởng thành mới.

Nếu không, mô hình hiện tại có thể vẫn vận hành được một thời gian, nhưng sẽ ngày càng đối mặt với áp lực từ chính một xã hội đang thay đổi rất nhanh và lúc đó, CSBV sẽ không còn khả năng để trấn áp…và, sẽ tan rã mà thôi.

Vì vậy bài học cốt lõi cần rút ra là, một đất nước không thể phát triển bền vững nếu không có thể chế chính trị dung hợp, không có nền đạo lý chung làm điểm tựa, và không có tinh thần hòa giải thực chất sau chiến tranh. CSBV, cho đến nay vô hình chung vẫn tạo ra hai “dân tộc”, dân tộc của “kẻ chiến thắng thống trị”, và dân tộc của “kẻ thua trận bị trị”. Chính vì vậy mà Việt Nam vẫn còn èo uột trong kinh tế và không có thế đứng trên bình diện thế giới được.

Xin mượn kết luận của bài viết “Từ Nội Chiến Hoa Kỳ đến Cuộc chiến Việt Nam - Bài học về thể chế, hòa giải và tương lai dân tộc” của người viết để kết thúc phần phiếm luận về Dân chủ và Độc tài dưới đây:”Để hướng tới một tương lai chung, Việt Nam cần thực hiện một cuộc thức tỉnh đạo lý và tái lập nền tảng về thể chế, không phải bằng thù hận hay phủ nhận quá khứ, mà bằng sự trung thực lịch sử, đối thoại xã hội, và cam kết xây dựng một quốc gia của tất cả người Việt, không phân biệt nguồn gốc hay lập trường chính trị. Thực hiện được điều trên, người cộng sản Bắc Việt cần phải đủ can đảm để sám hối, cải sửa những sai lầm trong quá khứ hầu mong Việt Nam có thể chuyển mình theo chiều hướng dân chủ hóa đất nước trong những ngày sắp đến.

Mong lắm thay!

Tương lai dân tộc không nằm trong sự lặp lại của quá khứ, mà nằm trong khả năng học hỏi từ nó để làm khác đi và làm tốt hơn.”

 

Mai Thanh Truyết

Con đường Việt Nam

Tháng 5 - 2026

 

Tuesday, May 12, 2026

 


TỔNG KẾT CUỘC THI VIẾT

“NGƯỜI PHỤ NỮ VIỆT NAM 2026”

Do Diễn Đàn Phụ Nữ, Úc châu tổ chức


Cuộc thi viết về Người Phụ Nữ Việt Nam 2026 được phát động nhằm bảo tồn văn hóa Việt Nam, tôn vinh những giá trị truyền thống, đức hy sinh và vai trò của người phụ nữ trong gia đình cũng như ngoài xã hội.

Cuộc thi đã nhận được sự hưởng ứng từ đông đảo độc giả, từ những cây bút chuyên nghiệp đến các em thiếu nhi thế hệ thứ hai tại hải ngoại. Các tác phẩm không chỉ đa dạng về hình thức (văn xuôi, thơ, nghị luận) mà còn phong phú về nội dung, trải dài từ ký ức chiến tranh, hành trình di dân đến những suy tư về nữ quyền và giáo dục gia đình hiện đại.

QUY TRÌNH CHẤM ĐIỂM VÀ HỘI ĐỒNG GIÁM KHẢO

Ban Tổ chức đã lựa chọn 16 tác phẩm vào vòng chung khảo, trong tổng số 28 tác giả tham gia.

Hội đồng Giám khảo gồm 5 thành viên giàu kinh nghiệm:

1.    Giáo sư – Tiến sĩ Mai Thanh Truyết (Hoa Kỳ)

2.    Ký giả Tường An – Ca Dao (Pháp)

3.    Giáo sư – Tiến sĩ Tường Phan (Úc)

4.    Nhà báo Nguyễn Vy Túy (Úc)

5.    Nhà văn Anne Khánh Vân (Hoa Kỳ)

Mỗi tác phẩm được chấm trên thang điểm 30 dựa trên ba tiêu chí: Nội dung, lối viết và ý nghĩa.

KẾT QUẢ XẾP HẠNG CHUNG CUỘC

 

Dựa trên tổng hợp điểm từ 5 giám khảo, Ban Tổ chức xin công bố:

Giải Nhất: Cao Xuân Thanh Ngọc – Mẹ Tôi

Tác phẩm nổi bật với giá trị nhân bản và lối viết súc tích, đạt điểm cao ở cả ba tiêu chí.

Giải Nhì: Huỳnh Thục Vy – Bài không tên

Bài viết chân thật, xúc động, khắc họa sâu sắc hình ảnh người phụ nữ trong hoàn cảnh đặc biệt.

Giải Ba: Thiên An Trương Nguyễn – Bà Tôi

Tác phẩm gây ấn tượng với tư tưởng tiến bộ và đạt điểm tuyệt đối từ một giám khảo.

Giải Đặc Biệt: Tuấn Khanh – Cho những ai còn mẹ

Tác phẩm được 100% giám khảo đồng thuận, trao giải đặc biệt dù không chấm theo chế độ thông thường, do bài nổi bật với chiều sâu triết lý và cảm xúc tinh tế.

Giải Khuyến Khích: Trần Phan – Hai Người Mẹ

Khuyến Khích Đặc Biệt & Tài Năng Trẻ:

Ban Tổ chức ghi nhận các tác giả trẻ: Henry Pham, Lilly Phạm và Ordin Thiên Tú Nguyễn – những đại diện tiêu biểu trong việc gìn giữ tiếng Việt nơi hải ngoại.

Giải khuyến khích đặc biệt được trao cho bài Câu Chuyện Của Tôi -Trúc Đào, do tạo góc nhìn rất khác biệt về người phụ nữ Việt Nam trong xã hội Việt Nam hôm nay. 

LỜI KẾT

Ban Tổ chức xin chân thành cảm ơn sự tham gia của 28 tác giả cùng Hội đồng Giám khảo.

Cuộc thi không chỉ tìm ra những tác phẩm xuất sắc mà còn góp phần kết nối các thế hệ người Việt, lan tỏa giá trị văn hóa và hình ảnh người phụ nữ Việt Nam trong đời sống hôm nay.

Chúng tôi hy vọng sẽ tiếp tục nhận được sự đồng hành của quý vị trong những chương trình sắp tới.

Trân trọng,

Ban Tổ Chức & Ban Biên Tập - Diễn đàn Phụ nữ Việt Úc - 2026

 

Monday, May 11, 2026

 

 

Letter of Recommendation. 

Chu Tat Tien once wore the uniform of a soldier in the Army of the Republic of Vietnam.
Before and after that chapter of his life, he has been many things: a writer, a poet, a martial arts teacher, a qigong instructor, a volunteer, an artist, a man who prints books and gives them away as gifts. At the heart of it all lies a quiet generosity — a steady impulse toward kindness. 

When he left Vietnam and set foot in Santa Clara, he entered a world that felt almost unreal. The coastline curved as if drawn by a gentle hand. Two squirrels, absorbed in their own shy courtship, darted across the roadside shrubs. Above him, autumn leaves — gold, wine-red, violet-dark — loosened themselves from branches and drifted like slow, deliberate breaths. 

These were the first impressions that America pressed upon him. 

Yet beauty never fully eclipses memory. Before long, the image of Mỹ Lai surfaced again — abrupt, uninvited: “The Viet Cong’s Tet Attack killed many U.S. soldiers and caused some U.S. military men to lose their self-confidence and panic, especially after the My Lai massacre. My Lai was a small village of mostly elders, women, and children in rural Quang Ngai Province, central Vietnam.”

For thirty-four years in exile, these opposing scenes, wonder on one side, grief on the other, threaded themselves through his days.

 He cannot forget the war.

The synchronized thud of boots.

The strained voices of American advisors cutting through the chaos.

The staccato rise and fall of rifles, machine guns, and mortars.

The beating blades of helicopters carving through a sky dimmed by smoke.

These impressions move in and out of his pages, sometimes like shadows, sometimes like open wounds. 

At its heart, his book is the story of a life - his life - woven together with the fragile love between two young people who grew up too quickly because of war. The young man became a South Vietnamese soldier, not through desire, but through the current of history pulling him forward. The young woman, then still a student, carried her own weight of doubt, fear, and longing as the nation trembled around her. 

Like so many wartime romances, theirs was undone not only by separation and uncertainty, but by an ideology preached as “brotherhood” by those whose hearts had grown cold. War split families open. Mothers lost sons. Wives lost husbands. And everything, every loss, every silence … felt senseless. 

But even without choosing the path, the soldier in Chu Tat Tien served with the fullness of a man who understood honor. And even though love could not remain intact, its echo lived on … tender, unfinished… in the quiet memory of the woman who waited behind. 

In reflecting on the war’s roots, he also contemplates the path of Ho Chi Minh, not a path of salvation, but one carved by ideology, stifling the first fragile breaths of freedom just as Vietnam emerged from feudalism and colonial rule, just as it began to imagine a life shaped by its own destiny.

 He revisits Đien Bien Phu, the Geneva Accords of 1954, the return of Ngô Đình Diệm, the First and Second Republics, and the turbulent decades that followed … recounting them with clarity untouched by bitterness. 

Across many chapters, he lingers on the presence of American soldiers in Vietnam — not as symbols of power, but as human beings. In the midst of fire and smoke, he recalls gestures of trust between Americans and South Vietnamese, small acts of care exchanged in the crucible of battle. Such moments reveal a shared humanity that stands in stark contrast to the cold machinery of North Vietnam’s ideological war. 

Tan, the main character in the story (I believe that man was also the author) speaks softly and without embellishment to the woman he once loved — not to justify what was broken, but to remind himself that the war, in some invisible way, still lingers. 

Now, even in safety, even in exile, the author, Chu Tat Tien, believes that the divide between Nationalists and Communists remains a quiet ache beneath the surface of every Vietnamese heart. At times, the weight of memory overcomes him. Yet he clings to a simple faith:
that someday, the scattered children of Vietnam will return to Saigon, the Pearl of the Far East, not as refugees, but as a reunited people. 

Time moves forward, and he feels its pull. 

In the twilight of his years, Kim, the girl Tan rescued from the sea, also offers a confession that reads like an exhale: “Life is so complicated, isn’t it? When I was young, I never imagined its difficult side. After Saigon fell, my life seemed forever broken. Then I met you — my first love, my hero. But by coincidence, I learned that you already had someone, a wonderful woman who had followed you most of her life. You loved her, too. Truly, you never loved me. You only felt pity. Because of your promise and because you have always been a man who helps others, you chose to risk your life for me. And because of that, your own love had to be set aside.” 

The exhaustion is not the fatigue of age. 

It is the weariness of unfinished duty, the burden of hopes that remain unresolved. 

With War and Love, Chu Tat Tien gives us a narrative both intimate and sweeping, rendered with a sensitivity that honors memory, sacrifice, and the fragile persistence of hope. 

We owe him our gratitude for opening the door to a world where war and tenderness coexist, and where the heart of a South Vietnamese soldier continues to beat, steady and sincere. 

Mai Thanh Truyet, Ph.D., Associate Professor

Dean of the Chemistry Department.

Pedagogy University, Saigon

 

 

 

Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy đã để lại những di sản gì

cho các thế hệ đi sau?

Giáo sư Tạ Văn Tài http://www.daivietquocdandang.com/


Mỗi người, tuỳ theo duyên may đã gặp Giáo sư trong hoàn cảnh nào, sẽ có một nhận định khác nhau. Riêng tôi, ngay từ tháng 9 năm 1975, đã cùng với Giáo sư làm việc nghiên cứu luật pháp Việt Nam, theo chương trình do Ford Foundation tài trợ, trong cùng một văn phòng ở Pound Hall củaTrường Luật Khoa Đại Học Harvard, trên một chục năm trời, cho đến những ngày Giáo sư suy sụp sức khỏe, cho nên hai chúng tôi đã nói chuyện với nhau rất nhiều, trong công việc chuyên môn, cũng như trong tình thân mật bạn bè, chia sẻ tâm sự.
Nhiều người đã nói đến các công việc bên ngoài xã hội của Giáo sư như một nhà ái quốc tận tụy từ lúc còn trẻ, một chính trị gia bền bỉ tranh đấu cho lý tưởng tự do dân chủ tại Việt Nam, và một học gỉa uyên bác với các công trình trước tác về tư tưởng và chủ nghĩa chính trị. Nhưng có lẽ không có ai có dịp ngồi hai bàn gần nhau, cùng làm việc, trong một thời gian dài, như Giáo sư Huy và tôi, khi ở Việt Nam thì đi dạy cùng Trường Quốc Gia Hành Chánh, trường Luật Cần Thơ, trường Đại học Đà Lạt v.v… Khi sang Hoa Kỳ thì làm chung trong một dự án lớn kéo dài nhiều năm, dịch và chú gỉai Bộ Luật Nhà Lê, tại Trường Luật Harvard. Cho nên tôi xin phép nhận định về hai di sản tinh thần mà tôi trực tiếp thấy Giáo sư đã để lại cho hậu thế: 
- Gương hy sinh cho việc chung và 
- Nỗ lực làm vinh danh nền văn minh pháp trị của các bậc tiền bối Việt Nam để lại. 
Một vài điểm nói ở đây thì đã phát biểu trong buổi lễ cầu siêu đầu tiên tại Boston, Hoa kỳ, cho Giáo sư Huy vào ngày 26 tháng 8, 1990, có sự hiện diện của ái nữ Thúy Tần, và trong ngày giỗ thứ 11, 29 tháng 7 năm 2001, tại Trường Luật Harvard, nơi Giáo sư làm việc nhiều năm và là nơi đã làm ngày giỗ với sự tham dự đông đảo của các chiến hữu và bạn bè của ông. 

I. GƯƠNG HY SINH ĐỜI TƯ CHO SỰ NGHIỆP CHUNG, TỰ DO-DÂN CHỦ CHO DÂN TỘC VIỆT NAM
Đây là một di sản quan trọng cho những người trong tổ chức chính trị Giáo sư để lại, và cả cho những ai đồng ý với Giáo sư, vì đó là nguồn cảm hứng để duy trì tình đòan kết trong tổ chức và sự say mê đẩy mạnh lý tưởng tự do dân chủ cho dân tộc mà Giáo sư đã theo đuổi cả đời mình- những điều kiện tiên quyết để có hy vọng thành công.
Trong thời gian làm việc nghiên cứu chung tại Trường Luật Harvard trong một dự án, tôi thấy Giáo sư Huy vừa là nhà học gỉa giỏi nhất tôi đã được gặp, lại làm việc say mê, vui vẻ với đồng nghiệp. Giáo sư Jerome Cohen, Giám Đốc đầu tiên của Chương Trình Luật Á Châu, và là người khởi xướng dự án luật Việt Nam cho chúng tôi, đã nhận xét trong thư chia buồn với trưởng nam Nguyễn Ngọc Quốc Thụy sau khi Giáo sư Huy qua đời: “He was a learned, gentle, humorous person who was always a joy to be near” (Ông là người uyên bác, phong nhã, và dí dỏm, mà ai tiếp súc cũng thấy vui). 
Thỉnh thoảng thấy giáo sư ra đi, để họat động chính trị. 
Nhưng bỗng một ngày tháng 4, năm 1982, Giáo sư rầu rĩ báo cho tôi biết là người con trai út Nguyễn Ngọc Khánh Thụy, mà giáo sư gửi ở nhà một gia đình Mỹ ở Larchmont, New York, cháu đã được nhận vào và sẽ đi học đaị học Princeton, bỗng nhiên tự tử. Cậu dẫn con chó ra khỏi ga-ra đậu xe, đóng cửa ga-ra lại, mở máy xe để tự vận bằng hơi thán khí xe tỏa ra. Ngày đó là ngày giỗ bà mẹ cậu mất tại Việt Nam năm 1974. Giáo sư đoán là cậu nhớ bà mẹ vào ngày đó, vì cậu vẫn thường than phiền là thiếu sự gần gũi với Ba Má, và mỗi lần giáo sư Huy sắp rời nhà gia đình Mỹ ấy để ra đi các tiểu bang ở Mỹ hay các nước khác để hoạt động chính trị thì cậu vô trong giường đắp chăn chùm lên mặt, nhớ Ba đi xa, nhớ Má đã qua đời.
Những tháng năm sau đó, Giáo sư thỉnh thoảng lại tâm sự thêm với tôi. Tôi ngồi làm việc ở bàn bên cạnh Giáo sư trong cùng văn phòng và nói chuyện tâm giao với Giáo sư trong nhiều năm, vả lại tôi không phải là đoàn viên trong Liên Minh Dân Chủ của ông, giữa chúng tôi không có nhu cầu giữ sự xa cách cần thiết giữa một người đóng vai lãnh tụ chính trị và một người đi theo, cho nên Giáo sư không cần giữ kẽ với tôi, và đã mô tả những đau khổ trong đời ông, một cách rất người. Ông tâm sự rằng đời tranh đấu chính trị của ông đòi hỏi nhiều hy sinh thời giờ và sức lực cho việc chung, không thể lo nhiều cho gia đình. Những năm còn ở Việt Nam, bà vợ đảm đang của Giáo sư lo hết cho con cái, từ lúc còn nghèo, đến khi cuộc sống vật chất đỡ vất vả một chút sau khi Ông từ hòa đàm tại Paris đi về nước và đi dạy học nhiều trường đại học ở Việt Nam, và có ngôi nhà tươm tất trong cư xá Cao Thắng do chính phủ cấp, để gia đình xum họp vui vẻ, thì thời gian hạnh phúc này, theo Giáo sư, “quá ngắn nguỉ”, vì chẳng bao lâu, bà Huy tử nạn tại bãi biển Vũng Tầu năm 1974. Ông nói thêm: liền sau khi vợ mất ít lâu thì nước mất, phải ra đi bôn ba hải ngọai. Ông nói với tôi: “Tôi luôn luôn lo việc đoàn thể và đất nước, nhưng đời riêng của tôi gặp nhiều malheurs”[ đau khổ].
Vì việc nước, sau khi ngưòi con trai út mất, Giáo sư lại càng rong ruổi nay đây mai đó lo việc đoàn thể. Nỗi buồn trong đời riêng, trong tâm tư chắc hẳn rất mênh mông, lại kèm theo căn bệnh hiểm nghẻo bắt đầu tàn phá cơ thễ, nhưng bên ngòai, Giáo sư vẫn giữ được ý chí kiên cường để giữ vững tinh thần các chiến hữu, như Giáo sư đã tả trong bái thơ Nhớ Thu (bà vợ):
Công viêc thường xuyên vẫn chẳng rời.
Nụ cười vẫn phải nở trên môi
Để cho các bạn đồng tâm chí
Vẫn giữ niềm tin rạng sáng ngời
Trong thâm tâm giáo sư, và trong lúc thương cho gia đình của mình, giáo sư đã nghĩ là nhầm trong cách tổ chức cuộc đời hoạt động chính trị, mặc dầu rằng được hỏi thì giáo sư vẫn nói là nếu làm lại cuộc đơì thì vẫn theo đuổi các mục tiêu cho dân tộc như đã làm. Giáo sư nói với tôi rằng: Tôi đã dại dột mà không tập trung sức lực và thời gian vào 3 việc: làm học giả sản xuất tác phẩm hay, chỉ được khen chứ không bị chê như đích thân lo tổ chức chính trị; làm ra tiền để lo gây dựng và gần gũi con cái; làm quân sư giỏi để giúp các tổ chức, chứ không lo trực tiếp việc tổ chức. 
Nghĩa là ý giáo sư nói là vẫn theo đuổi các lý tưởng tự do dân chủ như đã làm, nhưng lẽ ra thì nên đóng vai học giả và quân sư nhiều hơn và sẽ nhờ vào người khác lo việc bôn ba tổ chức. 
Giáo sư Huy đã gục ngã trút hơi thở cuối cùng tại Paris, ngay khi đang trên con đường tranh đấu bền bĩ của ông cho dân chủ tự do, giữa các chiến hữu của ông, như một chiến sĩ.
Tôi thiết nghĩ các chiến hữu của ông và các người hâm mộ lý tưởng chính trị của ông, những khi tụ tập để học hỏi về đời ông, như trong buổi vinh danh ông ở đây, có thể cảm động về sự hy sinh và đau khổ được giữ kín (để duy trì tinh thần cao của các đồng chí) của Giáo sư Huy, mà cam kết tiếp tục cuộc chiến đấu của ông, y như Tổng Thống Lincoln đã vinh danh các chiến sĩ gục ngã ở chiến trường Gettysburg trong Nội Chiến Mỹ: 
“Chúng ta, những người còn sống, phải hiến thân cho công việc dang dở mà người chiến sĩ chiến đấu nơi đây đã anh hùng đẩy đi tới. Chúng ta phải hiến thân cho nhiệm vụ vĩ đại còn lại – và từ tay người tử sĩ vinh hiển trao lại, chúng ta tiếp nhận thêm sự tận tụy cho lý tưởng mà họ đã cống hiến toàn bộ cho đến hơi thở cuối cùng” (It is for us the living to be dedicated here to the unfinished work which they who fought here have thus far so nobly advanced. It is for us to be here dedicated to the great task remaining before us - that from these honored dead we take increased devotion to that cause for which they gave the last full measure of devotion) 
Giáo sư Huy chưa thành công trong mục tiêu dân chủ hóa Việt Nam, nhưng đã thành nhân. Và có sự cam kết tận tụy của các thế hệ theo sau giáo sư như nói trên thì mới có thể đẩy đến thành công các lý tưởng tự do dân chủ mà ông theo đuổi.

II. NỖ LỰC VINH DANH NỀN VĂN MINH PHÁP TRỊ MÀ CÁC BẬC TIỀN BỐI VIỆT NAM ĐỂ LẠI.
Thực ra thì Giáo sư Huy đã thành công trong mục tiêu làm học giả thượng thặng. Ngoài rất nhiều các sách và các bài báo khảo luận về tư tưỏng và thời sự chính trị của Giáo sư, để cho người khác nói tới, tôi chỉ xin viện dẫn một tác phẩm mà chúng tôi cùng làm việc tại Harvard và sản xuất ra : THE LE CODE: LAW IN TRADITIONAL VIETNAM (BỘ LUẬT NHÀ LÊ: LUẬT PHÁP TRONG XÃ HỘI TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM), xuất bản năm 1987, gồm 3 tập, gần 1200 trang, viết bằng Anh ngữ, dịch bộ luật nhà Lê và bình luận, chú giải với các dữ kiện lịch sử và luật pháp đối chiếu (nghĩa là so sánh cả với luật Gia Long và các bộ luật nhà Đường, Minh, Thanh bên Trung Quốc).
Sau này, vào cuối đời, trong lúc đã đau nặng, Giáo sư Huy có cố gắng vội vã viết thêm, bằng tiếng Việt, bộ sách Quốc Triều Hình Luật, dự trù gồm 8 cuốn, cũng là về luật nhà Lê, có lẽ vì muốn có một di sản bằng tiếng Việt cho người Việt. Nhưng Giáo sư mới soạn xong cuốn A. Bộ sách này còn dở dang, nên tôi không bình luận ở đây. Cũng như sẽ không bình luận về các tác phẩm khác của Giáo sư, vì đã có người khác nói rồi.
Tôi chỉ xin lấy làm thí dụ bộ sách THE LE CODE: LAW IN TRADITIONAL VIETNAM, một bộ sách mà không có Giáo sư Huy thì không thể ra đời được, để nói về sự đóng góp của Giáo sư Huy vào việc vinh danh nền pháp trị cổ truyền của Việt Nam trong thế giới Tây phương và di sản tinh thần này cũng đã vang dội về Việt Nam.
Xin viện dẫn vài lời khen của các chuyên gia ngoại quốc. Giáo sư Alexander Woodside, một học giả thượng thặng về Việt Nam tại Harvard trước đây và nay thuộc Đại Học British Columbia ở Gia Nã Đại, đã khen bộ sách này là: 
“Một trong vài cuốn sách rất hiếm về Việt Nam có giá trị hoàn hảo. Chắc chắn đó là thành tích học thuật quan trọng nhất xuất phát từ hàng ngũ các trí thức Việt Nam lưu vong ở hải ngoại sau 1975. Đó cũng là một tiêu mốc đầy ý nghĩa, đánh dấu kỷ nguyên mới trong tương quan văn hóa Việt Nam và Tây Phương” (One of those very rare works about Vietnam that may claim to be definitive. This is undoubtedly the most important single achievement in scholarship to come thus far from the ranks of Vietnamese intellectuals exiled from Vietnam since 1975. It also represents a significant landmark in Vietnamese-Western cultural relations). 
Giáo sư Douglas Pike của Đại học University of California-Berkeley phê: 
“Tác phẩm học thuật Việt Nam đáng kính nể nhất trong thập niên vừa qua” (The most impressive piece of Vietnamese scholarship in the past decade).
Nhưng tiếng vang trên thế giới có lẽ không làm ta ngạc nhiên bằng lời khen của học giả Việt Nam cộng sản. Trường Luật Harvard gửi tặng cho Viện Sử Học ở Hà Nội một bộ sách The Le Code, và chính tôi có nói với phái đoàn giáo sư Mỹ mang bộ sách sang Hà Nội là: “Trong số các tác giả thì có Giáo sư Huy là kỳ phùng địch thủ của chế độ đấy nhé !”, thì sau đó chúng tôi nhận được thư của ông Văn Tạo, giám đốc Viện Sử Học Việt Nam: 
“Chúng tôi thay mặt Viện Sử Học chân thành cảm ơn ông và nhờ ông chuyển lời cám ơn Giáo sư Oliver Oldman, giám đốc Chương Trình Luật Á Đông tại Trường Đại Học Luật Khoa Harvard. Việc xuất bản bộ sách này ở Mỹ đã giúp cho các học giả nước ngoài hiểu thêm về nền văn minh và văn hiến nước ta. Điều đó là công lao đóng góp của ông và đồng nghiệp. Chúng tôi sẽ giới thiệu cuốn sách này lên Tạp Chí Nghiên Cứu Lịch Sử của chúng tôi. Xin kính chúc ông, các bạn đồng nghiệp Việt Nam nơi ông làm việc, lời chúc mừng sức khoẻ, hạnh phúc.” 
Kỳ phùng địch thủ với nhau mà vẫn tương kính như vậy, vẫn hãnh diện về thành tích nêu cao nền văn minh “nước ta”. Lời chúc không kịp đem lại sức khỏe cho Giáo sư Huy lúc đó đã suy sụp, nhưng đã đem lại niềm vui và hãnh diện cho Giáo sư, vì ông đã mĩm cười và bình luận vui vẻ với bạn bè về lời chúc của địch thủ này.
Đúng như lời Bacon nói: “Các đài kỷ niệm trí tuệ và học thuật thì trường cửu hơn các đài kỷ niệm quyền lực” (Monuments of wit and learning are more durable than monuments of power). 
Tác phẩm THE LE CODE là một di sản tinh thần vinh danh lý tưởng pháp trị của tổ tiên ta để lại, chủ trương về nền pháp trị đó có giá trị trường cửu và là nền tảng của nhân quyền và dân chủ (chúng đòi hỏi thượng tôn luật pháp). Giáo sư Huy đã nói với các đồng chí của ông là Việt Nam cần ổn định để phát triển, muốn ổn định thì phải độc tài, mà độc tài thì trái với lý tưởng dân chủ phải theo, nhưng nếu dân chủ thì bất ổn, vậy thì phải cố dung hoà hai nhu cầu “ổn định” và “dân chủ”, một vấn đề có vẻ như nan giải. Chính nền pháp trị có kỷ cương của tổ tiên ta để lại, nêu rõ trong tác phẩm văn hoá THE LE CODE có thể là giải pháp cho đòi hỏi dung hòa hai nhu cầu “ổn định” và “dân chủ” vừa nêu trên. 
Trong bài tựa bộ sách THE LE CODE, Giáo Sư Oliver Oldman đã viết: “Luật đời Lê là một trật tự pháp lý khá hiện đại, trong nền pháp trị ấy mọi thành viên xã hội sinh sống…” (We see in Lê law a rather mothern legal order, under the rule of law of which lived all members of society…). Sự đóng góp văn hóa này về nền pháp trị trong thời Việt Nam truyền thống cũng là sự đóng góp trên bình diện chính trị.
Sự dung hoà “ổn định” và “dân chủ” trong một nền pháp trị có thể là phương hướng hoá giải được sự hiềm thù giữa người cộng sản và người chống cộng hay không, thì chắc thời gian mới trả lời được. Nhưng ta đã thấy có các học giả trong chế độ cộng sảnViệt Nam hiện nay đã vinh danh công trình của Giáo sư Huy trong câu chúc mừng của Viện trưởng Viện Sử Học và trong sự liệt kê trang trọng bộ sách THE LE CODE trong cuốn Thư Mục Nho Giáo Việt Nam (2007) của Viện Nghiên Cứu Hán Nôm Việt Nam, cũng như trong sự tiếp thu bài tham luận dựa vào các dữ kiện của THE LE CODE, bài “Nho Giáo Việt Nam: Cai Trị Bằng Báp luật và nền pháp trị”, của chúng tôi, tại Hội nghị quốc tế về Nho học ở Hà Nội vào tháng 11,2007, có Harvard-Yenching Institute bảo trợ về tài chánh trong việc tổ chức.
Ngôi sao sáng học giả Nguyễn Ngọc Huy đã rạng danh trên bầu trời quốc tế và bầu trời Việt Nam hiện nay. Nguyện vọng của Giáo sư Huy cuối đời sẽ viết sách nhận định về các ưu khuyết điểm của dân tộc Việt Nam đã được thỏa mãn một phần với bộ sách sản xuất tại Harvard, trung tâm trí thức của nền văn minh Tây Phương. Nguyện vọng của Giáo sư Huy muốn đi về cố quốc thân yêu bằng cách được người thân hỏa táng và đem tro về quê nhà khi thời thế thuận tiện, nếu chưa thực hiện được, thì ít ra cũng đã được thỏa mãn trên phương diện tinh thần bằng sự kính trọng công trình trí tuệ cuả Giáo sư ngay tại trong nước Việt Nam cộng sản.

Ngày 15 tháng 3 năm 2008 
Tạ Văn Tài