Sunday, July 5, 2026

 Con đường GS Nguyễn Ngọc Huy, Anh Ba đi

Phần III – Thời Đệ II Cộng Hòa - Lãnh đạo Đảng Tân Đại Việt

 


GS Nguyễn Ngọc Huy được nhiều nhà nghiên cứu đánh giá là nhà lý luận hàng đầu của Đảng Tân Đại Việt, hơn là một chính khách độc lập theo nghĩa truyền thống. Vai trò lãnh đạo của ông nổi bật ở việc xây dựng tư tưởng, đào tạo cán bộ và định hướng chiến lược lâu dài, thay vì tổ chức đấu tranh vũ trang hay trực tiếp nắm giữ các chức vụ hành pháp.

Sau khi hiệp định Geneve chia đôi lãnh thổ, VNCH được thành lập, hình thành một thể chế chính trị của một quốc gia toàn vẹn chủ quyền và độc lập. Từ đó, các đoàn thể chính trị ở miền Nam có điều kiện tham gia việc nước và một bối cảnh chính trị mới xuất hiện. Và cũng từ đó một số đoàn thể chính trị mới thực sự công khai hoạt động. GS Nguyễn Ngọc Huy, một trong những sáng lập viên Tân Đại Việt từ căn bản Xứ bộ Nam kỳ đã góp công khai triển luận thuyết chủ nghĩa Dân Tộc Sanh Tồn, đưa lên lý luận xu hướng biến cải vào năm 1964. Từ đó, thuyết dân tộc sinh tồn biến cải ra đời. Điều nầy không có nghĩa là Đại Việt đã tách rời, mà đây chỉ là một giai đọan mở theo tầm nhìn mới, thích hợp với một số đảng viên, cũng như chưa đạt được tính thuyết phục đối với nhiều đảng viên khác.

 

Trở lại chủ thuyết DTST biến cải, GS Huy đã nhận định qua luật tiến hóa của Darwin để thấy rằng sức mạnh của con người chưa phải là một yếu tố then chốt để đưa đến thắng lợi sau cùng. Cũng cần phải có nhiều yếu tố của môi trường chung quanh mới quyết định sự thắng lợi toàn vẹn. Do đó GS Huy đưa ra xu hướng biến cải tức khả năng thích nghi tùy theo hoàn cảnh, lúc tiến, lúc lùi để ứng phó với những thuận lợi cùng bất lợi. Để rồi, sau cùng, tranh thủ phần thắng lợi trước mọi tình huống dù là bất lợi cho đòan thể của mình. Khái niệm sinh tồn trong giai đoạn nầy được hiểu theo nghĩa của sự tiến hóa và tiến bộ của loài người. 

 

Trên đây là một chuyển hướng lớn về luận thuyết của Đại Việt. Tên tuổi của GS Huy sẽ nằm trong danh sách những người khai sáng và tiếp nối truyền thống Đại Việt. GS Huy còn đưa ra một số điều kiện cho sự sinh tồn trong luận thuyết biến cải cùng hai hình thức tranh đấu dựa theo hai nguyên tắc đối nội và đối ngoại. Đó là hai hình thức tranh đấu bên ngoài và tranh đấu với chính nôị tâm của mình. Từ suy nghĩ trên, công cuộc tranh đấu của GS Huy thể hiện hình thức tranh đấu dưới dạng ôn hòa hay bạo động tuỳ theo trường hợp và diễn biến của hòan cảnh chính trị của quốc gia trong thời điểm trên.

 

Từ việc soi sáng những khả năng tranh đấu, GS Huy đã khai triển thêm thành ba bước khác nhau hay ba luật để rồi căn cứ theo đó mà hành xử tuỳ theo tình huống đang xảy ra. Đó là luật sức mạnh, luật biến cải và luật hợp quần và giáo dục.

 

·         Về luật sức mạnh: Đứng trước thế phân cực mới trên thế giới, quả thật sức mạnh ngày hôm nay không còn căn cứ theo khả năng quân sự nữa, mà khả năng kinh tế mới là thước đo quyền lực tòan cầu.

·         Luật biến cải cũng được GS giải thích là khả năng thích nghi theo hòan cảnh và điều kiện trong tình trạng xã hội lúc bấy giờ. Trước tình thế mới ngày hôm nay, cần phải vận dụng trí óc để thẩm định tình hình ngõ hầu biến cải mọi hợp tác quốc gia phải dựa theo quan điểm đồng thuận, và thế đôi bên cùng có lợi (win-win situation) khỏi bị lệ thuộc vào bất cứ quốc gia nào mà vẫn giữ được tính chất độc lập dân tộc.

·         Luật thứ ba về hợp quần và giáo dục: Đây là một yếu tố nhập môn sơ đẳng đã được giảng dạy từ những ngày đầu tiên của trẻ con miền Nam trong chương trình giáo dục tiểu học qua những câu chuyện ngụ ngôn trong sách quốc văn giáo khoa thư. Nhưng để thực hiện và áp dụng luật trên không phải dễ. Nhìn lại chính chúng ta hiện tại, qua bao nhiêu hệ phái của Đại Việt thực sự đã làm suy yếu tiềm lực lớn lao của một Đảng có quá trình tranh đấu lâu dài và một thời đã được sự ngưỡng mộ và ủng hộ của đại khối dân tộc Việt Nam.

 

Kể từ ngày thành lập đảng Đại Việt cho đến ngày nay, thế giới đã hoàn toàn biến đổi, đi từ một thế giới với những quốc gia khép kín đến hình thái một thế giới mở như ngày hôm nay. Tiến trình toàn cầu hóa hẳn nhiên là một tiến trình phải hướng tới vì sự phát triển chung của toàn cầu. Đây là một tiến trình tự nhiên trong phát triển để cùng đưa các quốc gia đến gần hơn và bổ túc cho nhau hơn trên tư thế đôi bên cùng lưỡng lợi. Từ đó việc xây dựng một hệ tư tưởng mới thích hợp với văn minh mạng và trí tuệ thông minh AI.

 

1-    Xây dựng hệ tư tưởng cho Tân Đại Việt

 

Sau khi Trương Tử Anh mất tích năm 1946, phong trào Đại Việt phân thành nhiều khuynh hướng. Tân Đại Việt, với GS Nguyễn Ngọc Huy là nhà lãnh đạo tư tưởng nổi bật, cố gắng phát triển một đường lối mới. Ông chủ trương kết hợp chủ nghĩa dân tộc với một nền dân chủ hiến định dựa trên một nhà nước pháp quyền, khai triển kinh tế thị trường nhưng có điều tiết tùy theo điều kiện kinh tế khách quan của xã hội, và, quan trọng hơn cả là phát triển giáo dục khoa học thích hợp với tôn chỉ dân tộc – nhân bản – khai phóng

 

Một điểm đáng chú ý là Ông muốn đưa Đảng từ mô hình cách mạng bí mật của Đại Việt sang một chính đảng hiện đại, công khai hoạt động bằng chính trị và tranh luận trực tiếp với hành pháp trung ương. Cách diễn đạt này phản ảnh đầy đủ hơn vai trò kép của ông: vừa là một nhà lãnh đạo về tư tưởng - intellectual leader, vừa là một nhà chiến lược của một chính đảng - party strategist, thay vì chỉ là một học giả đứng ngoài chính trường.

 

2-    Về tổ chức Đảng

 

Có thể phân biệt hai giai đoạn, trước 30/4, ở trong nước, và sau 30/4, ở hải ngoại:

 

2.1- Đối với đảng viên trong nước trước 1975: Trong thời kỳ Việt Nam Cộng hòa, GS Nguyễn Ngọc Huy được xem là lãnh tụ tư tưởng của Đảng Tân Đại Việt. Đối với nhiều đảng viên, ông là người trực tiếp giảng dạy các lớp chính trị, giải thích học thuyết của đảng, thiết lập và xây dựng chương trình huấn luyện, cùng đào tạo cán bộ trẻ. Nhiều người từng tham gia Tân Đại Việt trong giai đoạn nầy kể rằng việc kết nạp đảng không chỉ là tham gia một tổ chức chính trị mà còn là quá trình học tập về chủ nghĩa dân tộc, dân chủ, luật hiến pháp, đạo đức chính trị, và nhứt là trách nhiệm của người trí thức. Điều này khiến Tân Đại Việt có màu sắc của một đảng chú trọng đào tạo tư tưởng, khác với một số tổ chức thiên về quân sự hoặc hoạt động bí mật.

 

Tuy nhiên, cần phải nhìn nhận khách quan rằng ảnh hưởng của Ông chính yếu tập trung trong giới trí thức, sinh viên, giáo chức và một bộ phận công chức. Tân Đại Việt không phải là một chính đảng đại chúng có sức huy động rộng khắp như một số phong trào khác.

 


2.2- Đối với đảng viên ở hải ngoại sau 1975: nh hưởng của GS Huy có phần thay đổi. Ông vẫn tiếp tục viết sách, nghiên cứu, giảng dạy, tổ chức hội thảo, và đào tạo thế hệ trẻ người Việt ở hải ngoại. Đối với nhiều đảng viên và cảm tình viên ở Hoa Kỳ, Canada, Pháp và Úc, ông trở thành biểu tượng của tinh thần quốc gia, đấu tranh bằng học thuật, và xây dựng dân chủ ôn hòa thay vì cực đoan. Nhiều người xem Ông là "người giữ lửa" cho nền tảng tư tưởng của Tân Đại Việt hơn là một nhà cách mạng trong hành động trong giai đoạn lưu vong.

 

2.3- Ảnh hưởng về phương pháp: Có lẽ ảnh hưởng lớn nhất của GS Huy không nằm ở các quyết định tổ chức một đảng tích cực và tranh đấu trực diện với CSBV, Ông chỉ chú trọng nhiều về lý thuyết và phương pháp tư duy. Ông luôn khuyến khích đảng viên đọc nhiều tài liệu, tranh luận bằng lý lẽ, tôn trọng sự thật lịch sử, nghiên cứu luật pháp và công pháp quốc tế, cố gắng trao dồi ngoại ngữ, và tìm hiểu chính trị quốc tế. Điều này làm cho Đảng Tân Đại Việt ở hải ngoại tạo nên một phong cách sinh hoạt chính trị thiên về nghiên cứu hơn là một đảng hành động.

 

2.4- Những giới hạn ở hải ngoại: Bên cạnh những ảnh hưởng tích cực, cũng cần nhìn nhận các giới hạn trong việc phát triển và hoạt động của Tân Đại Việt. Sau năm 1975, Tân Đại Việt hoạt động trong điều kiện lưu vong với nguồn lực hạn chế. Thế hệ trẻ người Việt ở hải ngoại dần có mối quan tâm khác với thế hệ cha anh. Nội bộ các tổ chức chính trị quốc gia cũng có lúc xuất hiện khác biệt về chiến lược và tổ chức, và dĩ nhiên đôi khi “xung khắc” với nhau, có thể đi đến những tranh luận “vô bổ”, tạo ra mầm mống chia rẽ trong nội tình giữa các đảng phái quốc gia cũng như trong cùng một đảng. Tân Đại Việt cũng không thoát khỏi tệ trạng nầy.

 

Do đó, ảnh hưởng của GS Huy tuy sâu về tư tưởng nhưng không phải lúc nào cũng chuyển hóa thành sự phát triển mạnh về tổ chức hay khả năng thu hút đông đảo đảng viên mới.

 

5- Đánh giá tổng quát

 

Nếu phân loại ảnh hưởng của GS Nguyễn Ngọc Huy dựa theo mức độ ảnh hưởng, chúng ta có thể hình dung như sau:

 

·         Trong lãnh vực xây dựng tư tưởng Đảng, việc đào tạo cán bộ, đảng viên, cũng như ảnh hưởng lên đường lối chính trị, Tân Đại Việt có ảnh hưởng rất lớn trong đại chúng;

·         Trong lúc đó, khả năng mở rộng tổ chức, phát triển đảng viên, và ảnh hưởng đến đời sống chính trị Việt Nam, mức độ ảnh hưởng trung bình, chỉ đáng kể trong giới trí thức, nhưng hạn chế trong dân chúng.

 


Sau đây là nhận xét chủ quan của người viết: Trong ký ức của nhiều đảng viên Tân Đại Việt, GS Nguyễn Ngọc Huy không chỉ là một người lãnh đạo tổ chức mà còn là một người thầy. Uy tín của Ông chánh yếu dựa trên tri thức, nhân cách và khả năng thuyết phục bằng lập luận, hơn là quyền lực hay uy tín cá nhân theo kiểu lãnh tụ. Tuy nhiên, từ góc độ lịch sử chính trị, cũng cần phân biệt ảnh hưởng trong nội bộ đảng với ảnh hưởng trong toàn thể cộng đồng người Việt hải ngoại. Trong Tân Đại Việt, Ông được xem là nhân vật trung tâm về tư tưởng, nhưng nếu xét toàn thể cộng đồng người Việt ở hải ngoại sau 1975, ảnh hưởng của Ông tuy quan trọng nhưng không bao trùm, vì còn có nhiều tổ chức chính trị, tôn giáo, xã hội và các khuynh hướng tư tưởng khác cùng tồn tại và phát triển song hành cùng với Tân ĐV. Đây là điểm mà hầu hết các nghiên cứu lịch sử đều ghi nhận có nhiều đảng phái quốc gia hiện diện và hoạt động vào những năm đầu thế kỷ 20, có chiều dài lịch sử lâu đời, có thành tích cách mạng dân tộc, mà sao, khi ra hải ngoại, tầm ảnh hưởng không còn rộng mở như trong quá khứ?

 

6- Thay lời kết

 

Mô hình đảng trí thức như Tân Đại Việt thường gặp một tam giác “không cân đều”. Đó là, một đảng thiếu vắng sự tham gia của cộng đồng hải ngoại, hầu như phụ thuộc hoàn toàn vào lãnh đạo tư tưởng của một cá nhân là GS Nguyễn Ngọc Huy, và hiện đối mặt với một môi trường môi trường chính trị không thuận lợi vì…”nhân tâm phân tán”. Trong khi đó, để tồn tại lâu dài, một đảng chính trị cần ít nhất phải có một trong ba yếu tố là, quyền lực nhà nước, tổ chức quần chúng sâu rộng, hay hệ thống tài chính – truyền thông vững mạnh.

 

Nhìn lại trường hợp của Đảng Tân Đại Việt, mặc dù đặt nền tảng trên một hệ tư tưởng rất sâu và có hệ thống, đã từng đào tạo ra được một lớp trí thức chính trị vững vàng, nhưng hoàn toàn không thừa hưởng một yếu tố tồn tại nào trong ba yếu tố kể trên. Đặc biệt nhứt, Tân Đại Việt về mặt tổ chức, rất hạn chế trong việc mở rộng và kế thừa.

 


Vì vậy, khi GS Nguyễn Ngọc Huy qua đời, không chỉ là “mất lãnh đạo”, mà là mất luôn “trung tâm điều hợp tư tưởng” của toàn thể hệ thống.

 

Xin nhận lỗi cùng tất cả đảng viên Đảng Tân Đại Việt, nếu không vui vì những lời “trung ngôn nghịch nhĩ” nầy.

 

Người viết luôn luôn lấy làm vinh dự và hãnh diện là một đảng viên dưới trướng của Anh Ba.

 

Mời đọc tiếp Phần IV – Đảng Tân Đại Việt hậu Nguyễn Ngọc Huy

 

Mai Thanh Truyết

Tháng Tưởng niệm GS NNH

Houston – 2-7-2026

 

Wednesday, July 1, 2026

 Con đường GS Nguyễn Ngọc Huy, Anh Ba đi

Phần II – Phản bác trực diện trước Cộng sản Bắc Việt

 


Trong tranh luận, điều đáng chú ý là GS Nguyễn Ngọc Huy ít sử dụng ngôn ngữ tuyên truyền một chiều hay hằn học, hay tỏ ỳ mất bình tĩnh, hay nóng giận. Ông luôn viện dẫn luật quốc tế, luật đối chiếu, phân tích hiến pháp, sử dụng khoa học chánh trị trong lý luận, so sánh kinh nghiệm các nước Tây phương và đang phát triển thành công trong tranh đấu dành lại độc lập, tự chủ. Đặc điểm của Ông là tránh công kích cá nhân.

Điều này khiến nhiều học giả phương Tây đánh giá ông như một nhà nghiên cứu hơn là một nhà tuyên truyền và vận động chánh trị.

1- Về tính chính danh của Việt Nam Cộng Hòa

Trước hết, cần phân tích lập luận của CSBV, Hà Nội luôn luôn và lúc nào cũng tuyên bố:”Chỉ có một nước Việt Nam”, và Việt Nam Cộng Hòa là một "chính quyền tay sai" do Hoa Kỳ dựng lên nên không có tư cách pháp nhân độc lập.

Vì vậy, GS Nguyễn Ngọc Huy phản biện lại rằng, Ông phân biệt tách bạnh giữa khái niệm quốc gia - nation và nhà nước -state. Theo Ông:

  • Dân tộc Việt Nam chỉ có một và một mà thôi.
  • Nhưng sau Hiệp định Genève năm 1954 đã tồn tại hai chính quyền với hai hệ thống pháp luật, hành chánh, quân đội và mối quan hệ ngoại giao khác nhau được quốc tế công nhận.
  • Vì vậy, trên thực tế quốc tế đã tồn tại hai thực thể nhà nước: VNCH có liên lạc ngoại giao cấp Đại sứ với gần 40 quốc gia trên thế giới, còn CSBV, tức Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa chỉ có các nước trong khồi cộng sản và trong thế giới Tây phương, chỉ có Thụy Điển là quốc gia duy nhứt công nhận họ mà thôi.

Ông cương quyết đối đầu và phản bác CSBV rằng, việc phủ nhận hoàn toàn sự hiện hữu và tồn tại của Việt Nam Cộng Hòa là không phù hợp với thực tế và luật pháp quốc tế thời bấy giờ.

2- Về Hiệp định Genève 1954

CSBV Hà Nội đưa ra lập luận, Hiệp định Genève chỉ tạm chia đôi đất nước qua vĩ tuyến 17, vì vậy mọi hoạt động nhằm thống nhất đều hợp pháp.

GS Huy phản bác lại, Hiệp định Genève không phải là hiệp định thống nhất đất nước, đường ranh giới tuyến quân sự tại vĩ tuyến 17 chỉ mang tính tạm thời, và, rốt ráo hơn nữa, Hiệp định không cho phép một bên nào đó sử dụng vũ lực để thống nhất dất nước. Ông căn cứ vào Điều 3 của Chương 2 là:” Điều 3 - Các bên cam kết giữ vững ngừng bắn, bảo đảm hoà bình lâu dài và vững chắc.

Bắt đầu từ khi ngừng bắn:


a) Các lực lượng của Hoa kỳ và của các nước ngoài khác đồng minh của Hoa kỳ và của Việt Nam cộng hoà sẽ ở nguyên vị trí của mình trong lúc chờ đợi thực hiện kế hoạch rút quân. Ban liên hợp quân sự bốn bên nói trong điều 16 sẽ quy định những thể thức.

b) Các lực lượng vũ trang của hai bên miền Nam Việt Nam sẽ ở nguyên vị trí của mình. Ban Liên hợp quân sự hai bên nói trong điều 17 sẽ quy định vùng do mỗi bên kiểm soát và những thể thức trú quân.

c) Các lực lượng chính quy thuộc mọi quân chủng và binh chủng và các lực lượng không chính quy của các bên ở miền Nam Việt Nam phải ngừng mọi hoạt động tấn công nhau và triệt để tuân theo những điều quy định sau đây:

- Ngăn cấm mọi hoạt động vũ lực trên bộ, trên không và trên biển;

- Ngăn cấm mọi hành động đối địch, khủng bố và trả thù của cả hai bên.Đẻ phản biện lại mọi tấn công quân sự và xâm nhập vũ khí vào Nam của CSBV sau ngày 27/1/1973. Lịch sử được giải mã cho thấy, chính Lê Duẫn đã có mặt ở căn cứ Vàm Nao nhiều năn trước 1975!

Và theo ông, việc thống nhất nếu có, phải dựa trên việc tổ chức bầu cử tự do dưới sự giám sát của Liên Hiệp Quốc, có sự đồng thuận của người dân hai miền, không sử dụng chiến tranh quân sự để dành thắng lợi.

Đây chính là điểm ông thường nhấn mạnh trong các bài nghiên cứu.

3- Về Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam

CSBV Hà Nội khẳng quyết, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam là phong trào nổi dậy tự phát của nhân dân miền Nam.

GS Nguyễn Ngọc Huy phản bác lại:

  • Mặt trận không hoàn toàn độc lập. mà do sự dàn dựng của CSBV;
  • Các vị trí lãnh đạo như Nguyễn Hữu Thọ, Trịnh Đình Thào, Dương Quỳnh Hoa v.v…chỉ là những trí thức bù nhìn được Hà Nội dựng lên. Lãnh đạo quân sự và hậu cần đều hoàn toàn chịu ảnh hưởng từ Hà Nội;
  • Đường mòn Hồ Chí Minh là bằng chứng rõ rệt cho thấy có sự trực tiếp điều khiển và tiếp vận quy mô từ miền Bắc.

Theo Ông, vì vậy không thể xem đây chỉ là một cuộc nội chiến Bắc – Nam thuần túy, mà là một cuộc chiến ý thức hệ giữa khối cộng sản và tự do.

            4- Về Quyền dân tộc tự quyết và Chiến tranh cách mạng

Đây có lẽ là luận điểm quan trọng nhất của GS Nguyễn Ngọc Huy. Ông luôn lập luận, nếu Hà Nội khẳng quyết mọi người dân ở Việt Nam có quyền tự quyết thì, thì dân chúng ở miền Nam cũng có quyền quyết định tương lai chính trị của mình vậy. Theo Ông, không thể vừa viện dẫn nguyên tắc tự quyết dân tộc vừa phủ nhận quyền lựa chọn của 17 triệu người đang sống tại miền Nam được.





Về chiến tranh cách mạng, CSBV Hà Nội coi chiến tranh vũ trang là chiến tranh giải phóng dân tộc, cứu nước, và chống xâm lược Mỹ.

GS Nguyễn Ngọc Huy cho rằng, chiến tranh sau năm 1965 không còn đơn thuần là cuộc nổi dậy trong nước mà đã trở thành cuộc chiến quy mô lớn với sự tham gia trực tiếp của quân đội miền Bắc, Hoa Kỳ, và các đồng minh của cả hai phía. Khối cộng sản quốc tế gồm Liên Sô và 15 quốc gia trong khối như Hung, Tiệp, Đông Đức, v.v…, với Cu Ba, Bắc Hàn v.v… và nhứt là Trung Cộng với sự hiện diện của trên 340 ngàn lính Tàu (sau khi được giải mã gần đây). Theo Ông, điều này làm thay đổi bản chất pháp lý và chính trị của cuộc chiến.

5- Về mô hình chính trị

Một phản biện ít được ai nhắc đến của GS Nguyễn Ngọc Huy nhưng khá sâu sắc. Đó là Ông không chỉ phản bác bằng các vấn đề quân sự, như sự hiện diện của những người lính trong khối cộng sản trên đất Bắc Kỳ, cũng như các nguồn viện trợ vũ khí và lương thực cùng quân nhu vô giới hạn. Từ đó, Ông đặt câu hỏi:”Sau khi thống nhất bằng bạo lực thì Việt Nam sẽ xây dựng một xã hội như thế nào?

Ông cho rằng, chế độ độc đảng sẽ dẫn tới việc kiểm soát quyền lực theo cung cách trung ương tập quyền và từ đó, đưa đến một thể chế độc tài dảng trị. Thêm nữa, kinh tế kế hoạch hóa và tập trung sẽ khó tạo động lực phát triển qua chính sách hợp tác xã. Và sau cùng, việc thiếu vằng giáo dục nhân bản và tự do sẽ làm trì trệ tiến trình phát triển Việt Nam thời hậu chiến.

Những lập luận này sau năm 1975 đã được chứng minh, và vẫn được ông tiếp tục phát triển trong các công trình nghiên cứu về dân chủ và hiến pháp cho đến cuối đời.

6- Suy nghĩ từ người viết

Từ góc nhìn ngày nay, chúng ta có thể thấy các phản biện của GS Nguyễn Ngọc Huy có nhiều điểm mạnh và điểm hạn chế.

Điểm mạnh là ông đưa ra những lập luận nhất quán về pháp lý quốc tế, quyền tự quyết và thể chế dân chủ. Nhiều phân tích của ông về nguy cơ tập trung quyền lực và sự cần thiết của nhà nước pháp quyền vẫn còn giá trị tham khảo.

Điểm hạn chế là các lập luận của ông xuất phát từ lập trường của Việt Nam Cộng Hòa, nên ít chú trọng đến các yếu tố mà phía Hà Nội và nhiều nhà sử học khác nhấn mạnh, như mục tiêu thống nhất đất nước, di sản của chủ nghĩa thực dân và mức độ ủng hộ của một số người dân miền Nam không đồng ý với chính sách của Đệ I và Đệ II Cộng Hòa qua cá nhân TT Ngô Đình Diệm và TT Nguyễn Văn Thiệu. Vì vậy, các công trình của ông cần được đọc song song với các nguồn từ nhiều phía để có cái nhìn toàn diện hơn.

Nếu nghiên cứu lịch sử tư tưởng chính trị Việt Nam, GS Nguyễn Ngọc Huy được xem là một trong những học giả tiêu biểu của dòng tư tưởng quốc gia dân chủ, với nỗ lực xây dựng một nền tảng lý luận cho nhà nước pháp quyền, đa nguyên và quyền tự quyết trong bối cảnh cuộc đối đầu ý thức hệ của thời Chiến tranh Lạnh. Thiết nghĩ, một mai khi Đất và Nước không còn bóng dáng CSBV, nền dân chủ pháp trị sẽ biến cải tương lai Việt Nam thành một quốc gia tự do và cường thịnh.

Xem tiếp Phần III – Thời Đệ II Cộng Hòa - Lãnh đạo Đảng Tân Đại Việt

Mai Thanh Truyết

Tháng Tưởng niệm GS NNH

Houston – 1-7-2026

Tuesday, June 30, 2026

 Con đường GS Nguyễn Ngọc Huy, Anh Ba đi

Phần I – Câu chuyện Hội đàm Paris 1968 – 1973

 


Những lời tâm tình của người viết: Bạn đọc loạt bài dưới đây trả dài qua ký ức hơn 60 năm qua, từ những ngày còn là một câu sinh viên xa lạ lang thang trên những nẻo đường Paris, cho đến những ngày tha hương của một ông già 84 tuổi nơi quê hương tạm dung Hoa Kỳ. Có thể nói, GS Nguyễn Ngọc Huy và tôi có một duyên tình hết sức đặc biệt, mỗi lần gặp nhau đều trong những trường hợp đặc biệt, buồn nhiều hơn vui. Người viết đã từng “ăn mòn răng” ở một quán ăn nhỏ ở quận 5 ème Paris (sẽ ráng nhớ tên), lúc GS đã về lại Việt Nam rồi. Quán nầy mở ra vào đầu thập niên 60 của thế kỷ trước, được xử dụng như làm nơi hội họp và kinh tài của Đảng Đại Việt do BS Nguyễn Tôn Hoàn và GS Nguyễn Ngọc Huy phụ trách. Quán do nhạc sĩ Phạm Trọng Cầu quản lý. Do duyên tình đưa đầy, người viết gặp được Gs lần đầu tiên trong giai đoạn Hội đàm Paris tại Tòa Đại sứ Việt Nam tại Pháp do Cố vấn Văn hóa, BS Trần Văn Bình (Bs riêng của cố Tổng thống Trần Văn Hương sau đó) triệu tập. Kết qua là tôi được danh dự làm hướng dẫn viên cho phái đoàn của GS, Bs Trần Văn Bình đi vận động và thăm hỏi đồng hương và sinh viên miền Đông nước Pháp. Chuyến đi dài nhứt trong đời cùng với GS hơn một tuần lễ gây nhiều ấn tượng trong tôi. GS Huy có rất nhiều điều cần học hỏi.

 

Lần gặp GS lần thứ hai và sau đó nhiều lần năm 1973 khi tôi về nước, hoặc ở nhà riêng 2/57 (?) Đường Cao Thắng, một hẻm bên cạnh Nhà sản xuất bàn ghế Anh Đào của gia đình bạn tôi là Nguyễn Đại Thức và Nguyễn Đại Thể. Những lần gặp GS cùng với TS Phan Văn Song để thảo luận về cung cách làm thế nào đẩy mạnh ảnh hưởng của Phong trào Quốc gia Cấp tiến và Đảng Tân Đại Việt  lên sinh viên và giáo sư ở miền Nam. Và chính vì thế, mà TS Phan Văn Song hiện diện và là Viện trưởng Đại Học Cao đẳng Thương mãi Minh Trí, và tôi, Giám đốc Học vụ Viện Đại học Cao Đài Tây Ninh. Kế tiếp, xin trích từ bài viết của Song:” Thừa lệnh Giáo sư, tôi đã giới thiệu Truyết vào Đảng và Truyết bí mật «Tê Đơ» Tân Đại Việt tại nhà Ông Cụ tôi, là anh Ba Xướng, đường Nguyễn Duy Dương, sau lưng trường Nam Sinh Mù chợ An Đông. Hôm ấy có mặt Giáo sư do ông cậu tôi là Thiếu tá Nguyễn Trọng Đệ chở đến.

Lần gặp GS tiếp theo là ngày viếng quan tài của Bà NN Huy, mất vì tai nạn ở Vũng Tàu tại tư gia đường Cao Thắng.

 

Qua hải ngoại, lần đầu năm 1986, tình cờ tôi gặp GS tại Boston nhân chuyến đi thăm người học trò Nguyễn Đình Tấn, Kỹ sư hóa học, được cho biết là GS đang ở tầng thứ ba trong một căn phòng kiến trúc xưa, dành riêng cho “người hầu” trong nhà (chambre de bonne). Căn phòng rất nhỏ, mái nghiên và trần rất thấp, chỉ có một ô vuông bằng kiếng độ 2 feet mỗi bề, và một chiếc bàn nhỏ làm văn phòng cho GS, bên cảnh một chiếc giường đơn nhỏ nhít và một kệ sách và đồ vật linh tinh. Và tầng thứ hai dành riêng cho ông bà Giác Đức. Còn gia đình người học trò ở tầng dưới cùng. Cuộc sống của GS là thế đó…

 

Và lần cuối cùng tôi gặp được GS là ở Minnesota năm 1987, lúc tôi làm postdoctoral cho National Institute of Health. Gặp GS hai lần trong hai buổi ăn sáng tại nhà GS Stephen Young. Lần cuối nầy, GS tiều tụy hơn trước nhiều do chứng ung thư cuống họng. Giọng nói ông yếu ớt, phát âm không thành tiếng rõ rệt, Ông có vẽ mệt mõi…

 

Và định mệnh đã mang GS Nguyễn Ngọc Huy vào vùng… miên viễn ngày 28 tháng 7 năm 1990 tại Paris, kết thúc một số kiếp của một người con Việt cô đơn và cô độc!

 

***

Xin có vài tóm lược về GS Nguyễn Ngọc Huy: Ông là thành viên của Đảng Đại Việt, tốt nghiệp Tiến sĩ Chính trị học năm 1961 tại Paris. Về Việt Nam Ông giảng dạy tại Học viện Quốc gia Hành chánh, Saigon. Nơi đây, Ông sang lập Phong trào Quốc gia Cấp tiến cùng với GS Nguyễn Văn Bông, Viện trưởng HVQGHC. Ông tham chính một thời gian rất ngắn qua vai trò Chánh sự vụ, bên cạnh Tướng Nguyễn Khánh đầu năm 1964. Tháng 11/1964, Ông vùng với BS Nguyễn Tôn Hoàn thành lập Đảng Tân Đại Việt và nắm vai trò Tổng Thơ Ký. Cuộc đời của GS Nguyễn Ngọc Huy dường như đã được an bài và gắn liền với Paris: Tốt nghiệp ở Paris. Trong thời Đệ II Cộng hòa Ông được đề cử là Cố vấn cho phái đoàn VNCH tham dự Hội đàm Paris năm 1968 – 1973. Và sau cùng ngày 28/7/1990, Ông mất tại Paris trên đường đi vận động quốc tế cho một giải pháp Việt Nam. Quả thật đó là một định mệnh oan nghiệt cho Ông. Quốc gia mất đi một người con Việt yêu dấu!

GS Nguyễn Ngọc Huy là một trong những nhân vật chính trị và học giả có ảnh hưởng lớn ở miền Nam Việt Nam trước năm 1975. Trong giai đoạn diễn ra cuộc đàm phán tại Hội nghị Paris về chấm dứt chiến tranh và tái lập hòa bình ở Việt Nam, ông không phải là thành viên chính thức của phái đoàn Việt Nam Cộng hòa, nhưng lại đóng một vai trò quan trọng trên mặt trận chính trị, học thuật và vận động dư luận quốc tế.

1-    Vai trò một nhà chiến lược chính trị


Các bên chính thức tham gia Hội nghị Paris gồm: Hoa Kỳ - Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (miền Bắc) - Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam - Việt Nam Cộng hòa. Phái đoàn Việt Nam Cộng hòa do Đại sứ tại Pháp, Phạm Đăng Lâm làm Trưởng phái đoàn; sau đó là  Phụ tá Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, Ông Nguyễn Phú Đức, đảm trách.

GS Nguyễn Ngọc Huy không giữ chức vụ chánh thức trong đoàn đàm phán này. Trong thời gian ở Pháp và châu Âu, GS Nguyễn Ngọc Huy hoạt động trên ba mặt:

  • Nghiên cứu chính trị và đóng góp ý kiến cùng nghiên cứu các phản biện cho phái đoàn VNCH;
  • Tiếp xúc giới học giả và báo chí, sinh viên và đồng hương cự ngụ tại Pháp;
  • Vận động dư luận quốc tế ủng hộ lập trường của Việt Nam Cộng hòa.

Ông cho rằng cuộc chiến Việt Nam không đơn thuần là nội chiến mà nằm trong bối cảnh đối đầu của Chiến tranh Lạnh, cuộc chiến ý thức hệ, đồng thời nhấn mạnh quyền tự quyết của người dân miền Nam.

2- Phản biện lập luận của Hà Nội

Một đóng góp đáng chú ý của Ông là xây dựng các lập luận học thuật chánh trị nhằm phản bác quan điểm của phía cộng sản Bắc Việt. Ông thường nhấn mạnh những nét căn bản trong ký kết ở Geneve ngày 20/7/1954 (xin ghi nhớ VNCH không có ký) rằng:

·        


Hiệp định Genève không trao chủ quyền giám sát toàn thể Việt Nam cho nhà cầm quyền Hà Nội;

  • Việt Nam Cộng hòa là một thực thể chánh trị có bộ máy nhà nước và liên quan ngoại giao với quốc tế riêng rẽ, có những cuộc phổ thông đầu phiếu công khai và dân chủ;
  • Việc sử dụng lực lượng quân sự từ miền Bắc vào miền Nam là yếu tố sau hiệp định Geneve của Bắc Việt là vi phạm Hiệp định, và làm leo thang chiến tranh.

Những lập luận này được trình bày trong các bài nghiên cứu, hội thảo và các cuộc tiếp xúc riêng với các học giả phương Tây.

3- Liên lạc với giới trí thức Pháp

Trong thời gian Hội nghị Paris kéo dài gần năm năm, Paris trở thành trung tâm tranh luận quốc tế về Việt Nam. GS Nguyễn Ngọc Huy đã diễn thuyết tại nhiều diễn đàn, gặp gỡ các giáo sư đại học ở Pháp và các quốc gia như Thụy Sĩ, Bỉ, Đức và Hòa Lan, trao đổi thường xuyên với giới báo chí Tây phương …nhằm giải thích rõ lập trường của Việt Nam Cộng hòa bằng tiếng Pháp và tiếng Anh.

Nhờ nền tảng học thuật và khả năng ngoại ngữ, ông được đánh giá là một trong những trí thức Việt Nam có sức thuyết phục trong các cuộc tranh luận quốc tế.

4- Đánh giá về Hiệp định Paris 1973

Sau khi Hiệp định Paris được ký kết, GS Nguyễn Ngọc Huy cho rằng:

  • Hoa Kỳ đã đạt được mục tiêu rút quân trong chính sách Việt Nam hóa chiến tranh.
  • Việt Nam Cộng hòa bị suy yếu về quân sự do việc giảm thiểu ngân sách quân sự và dân sự (USAID) cũng như làm suy yếu Việt Nam Cộng hòa trong lãnh vực  ngoại giao với quốc tế
  • Hiệp định Paris không tạo ra cơ cấu hữu hiệu để bảo đảm việc ngừng bắn ở miền Nam, cũng như ngăn chặn sự xâm nhập của quân đội Bắc Việt qua đường mòn Hồ Chí Minh.
  • Sự hiện diện của quân đội miền Bắc tại miền Nam vẫn còn mơ hồ, trong lúc đó, việc rút quân của quân đội Hoa Kỳ được xác nhận lịch trình chấm dứt sự hiện diện rất rõ ràng.  

Những nhận định trên về sau, được nhiều nhà nghiên cứu xem là có phần phù hợp với diễn biến dẫn đến sự sụp đổ của Việt Nam Cộng hòa năm 1975.

5 – Lượng giá chung


Nếu phân loại vai trò của GS Nguyễn Ngọc Huy trong giai đoạn Hội nghị Paris, chúng ta có thể tóm tắt lần lượt như sau:

-       Trong lãnh vực ngoại giao, vai trò của GS Nguyễn Ngọc Huy không phải là thành viên chánh thức của phái đoàn VNCH trong việc đàm phán;

-       Nhưng trong lãnh vực ngoại giao đại chúng, ông rất tích cực dấn thân ngày đêm cho công cuộc đấu tranh dành chánh nghĩa cho VNCH;

-       Về học thuật chánh trị, Ông phân tích và bảo vệ lập trường của VNCH;

-       Về chánh trị, Ông lãnh đạo Phong trào Quốc gia Cấp tiến nhằm đào tạo một tầng lớp trí thức cộng hòa mới dựa trên tinh thần dân chủ pháp trị, cũng như thành lập Đảng Tân Đại Việt, ngõ hầu xây dựng những cán bộ có trình độ lý luận dân chủ, quốc gia – cộng sản …nhằm đối đầu với triết lý cách mạng chuyên chính vô sản của CSBV;

-       Về mặt quốc tế, Ông, ngày đêm, tiếp xúc với các học giả, báo chí, và với giới chánh trị ở Pháp và các quốc gia Âu châu;

-       Đặc biệt, với tính giản dị và bình dân, Ông hòa mình vào lớp sinh viên, đồng hương trong khi đi vận động khắp nơi ở Pháp (người viết có duyên cơ đã đi cùng Ông ở nhiều nơi trong giai đọan nầy) như hòa mình ăn ngủ trong các trung tâm sinh viên giống như mọi người.

Nhiều sử gia nhìn nhận rằng nếu các trưởng đoàn đàm phán như Phạm Đăng Lâm hay Nguyễn Phú Đức là những người đại diện VNCH trên bàn hội đàm Paris, GS Nguyễn Ngọc Huy thuộc nhóm "kiến trúc sư tư tưởng" ở hậu trường. Ảnh hưởng của ông không nằm ở việc trực tiếp ký kết các văn kiện, mà ở việc hình thành và truyền bá cơ sở lý luận cho lập trường của Việt Nam Cộng hòa trong các diễn đàn học thuật và dư luận quốc tế. Đây là vai trò gián tiếp nhưng có ý nghĩa đáng kể trong bối cảnh cuộc chiến Việt Nam cũng là một cuộc đấu tranh về chính trị và tuyên truyền trên trường quốc tế.

Các phản biện của Nguyễn Ngọc Huy đối với lập trường của Hà Nội trong thời kỳ Hội đàm Paris (1968–1973) chánh yếu mang tính học thuật, pháp lý và chính trị, chứ không phải là những bài diễn văn công kích CSBV. Ông cố gắng sử dụng các nguyên tắc của luật lệ về bang giao quốc tế và khoa học chính trị để bảo vệ lập trường của Việt Nam Cộng hòa.


Rất tiếc, một tinh hoa của đất nước, một hòn ngọc của dân tộc đã ra đi rất sớm trên chặng đường tranh đấu cho độc lập tự do cho Việt Nam Cộng Hòa.

Chú thích: Qua những tài liệu, văn bản nghiên cứu của GS Nguyễn Ngọc Huy cùng những đúc kết trong những lần phản biện cùng phái đoàn cs Bắc Việt, có hai thành viên của phái đoàn hòa đàm là:

-       Ông Nguyễn Hữu Nghĩa, đặc trách báo chí cho phái đoàn, đã đúc kết và thành công trong tiểu luận cho bằng Maitrise ès Lettres ở Đại học Besancon;

-       LS Trần Thanh Hiệp, thành viên của phái đoàn cũng đã thành công trong luận án cho văn bằng Diplôme d’Études Approfondies en Droit ở cùng đại học trên.

Tất cả do người viết giới thiệu các vị trên với giáo sư bảo trợ và giúp đỡ trong những lần các vị trên về Besancon. Rất trân quý tinh thần học hỏi của hai vị, người thứ nhứt là bạn, thứ hai là bậc huynh trưởng. Cả hai vẫn còn mạnh khỏe và sống tại Paris.

Mời đọc tiếp Phần II- Phản bác trực diện với CSBV

Mai Thanh Truyết

Một thời Paris

Houston – 30-6-2026