Thursday, October 15, 2026

 Nói với Tù nhân Lương tâm

 


Xin nói ngay, đó là vấn đề "giao tiếp" giữa người Việt hải ngoại và những “người tù lương tâm”, hay người tranh đấu trong nước "bị" cộng sản Việt Nam “tống khứ' ra hải ngoại. Dường như, nhiều người Việt hải ngoại cảm thấy có "cái gì lấn cấn” trong giao tiếp đó?  Bài viết xin bàn về vấn đề nầy qua những suy nghĩ chủ quan của người viết. 

***

Phải thành thật mà nói, cái “lấn cấn” nêu trên là có thật, nhưng nó không đơn thuần là vấn đề khác quan điểm chính trị, mà nó nằm sâu hơn trong khoảng cách và không gian giữa hai bên thường không cùng đứng trên một “điểm chung” về ký ức, ngôn ngữ và cảm xúc khi giao tiếp với nhau.

Những ngăn cách ở hai đầu cầu

1- Một bên nói bằng “ký ức”, một bên nghe bằng “kinh nghiệm”: Số đông người Việt hải ngoại mang theo những ký ức đau thương về ngày 30/4/1975, về mất nước, mất nhà, về tù cải tạo, vượt biên, chia lìa gia đình, mất mát tài sản. Trong khi đó, một người sinh ra hoặc lớn lên ở Việt Nam sau 1975 có thể nhìn lịch sử qua một hệ thống giáo dục, xã hội và trải nghiệm hoàn toàn khác dưới thể chế “xã hội chủ nghĩa”.

Vì vậy, cùng một chữ như “giải phóng”, “quốc gia”, “cộng sản”, “hòa hợp”, “tự do”, “quê hương” nhưng hai người có thể nghe thấy hai ý nghĩa khác nhau. Không phải họ không hiểu tiếng Việt; nhưng họ không cùng hiểu “ý nghĩa phía sau tiếng Việt” xuyên qua những từ ngữ trên!

2- Có một khoảng cách giữa “người ra đi” và “người ở lại”: Đây có lẽ là điểm chúng ta cùng cảm thấy rõ nhất. Người ra đi thường mang trong mình câu chuyện đã bị đẩy ra khỏi quê hương. Nếu nói về người Việt rời Việt Nam sau 1975, thì có những người ra đi trong hoàn cảnh bị cưỡng bức, có người vượt biên, có người đi diện HO, có người đoàn tụ gia đình, có người ra đi vì lý do kinh tế hoặc nghề nghiệp. Đứng về mặt tâm lý, những người cảm thấy mình bị đẩy khỏi quê hương, chữ “quê hương” sau đó không còn chỉ là một địa danh, mà trở thành một phần căn cước tị nạn.

Ngược lại, người ở lại sau 30/4/1975 hay những người sinh đẻ sau ngày trên có thể mang câu chuyện kể về … một người đã sống trong quê hương đó suốt mấy chục năm. Vì vậy, khi người trong nước nói về Việt Nam hôm nay, họ có thể không chỉ đang nói về một đất nước hiện tại, họ đang chạm vào một Việt Nam mà người kia đã mất.

Đây là lý do một câu nói tưởng như rất bình thường đôi khi lại tạo ra phản ứng rất mạnh.

Người hải ngoại có thể nghĩ: “Anh không hiểu những gì chúng tôi đã trải qua.” Người trong nước có thể nghĩ: “Các anh đã đi rồi, các anh đâu biết chúng tôi đã sống như thế nào sau đó.” Cả hai câu ấy đều là những trải nghiệm cá nhân. Nhưng khi gặp nhau, nếu mỗi bên lấy trải nghiệm riêng của mình làm thước đo duy nhất của lịch sử, chắc chắn cuộc đối thoại rất dễ bị khựng lại.

Đó chính là một khoảng trống kinh nghiệm, một cách ngăn vô tình và vô hình…

3- Cả hai bên thường nói chuyện với một “hình ảnh” chứ không nói với con người trước mặt: Người hải ngoại đôi khi không nhìn người Việt trong nước như một cá nhân cụ thể, mà nhìn qua hình ảnh “người trong chế độ”. Ngược lại, người trong nước đôi khi cũng không nhìn người hải ngoại như một người Việt cụ thể, mà nhìn qua hình ảnh “người chống cộng”, “người bỏ nước ra đi”, hoặc “người Mỹ gốc Việt”.

Vì vậy, người A không còn nói chuyện với người B, mà người A nói chuyện với một hình ảnh mà mình đã dựng lên về người B.

Và cuộc giao tiếp hay đối thoại bắt đầu bế tắc ngay từ đầu…

4- Làm sao để hai người không đồng ý với nhau vẫn có thể nói chuyện với nhau như những người Việt Nam: Một sự giao tiếp giữa hai bên cần được giải tỏa những ức chế trên. Thông cảm nhau trong đối thoại không nhất thiết có nghĩa là xóa ký ức, cũng không có nghĩa là bắt người này phải tha thứ cho người kia, càng không có nghĩa là viết lại lịch sử để … cùng nghe với nhau.

The bridge doesn’t stop the river from flowing.

It simply gives us a way to cross it.


Nhưng mà là, tôi chấp nhận rằng anh có một lịch sử cá nhân khác tôi, và tôi vẫn muốn nghe anh nói. Từ đó mới có thể đi đến bước thứ hai là anh nghe câu chuyện của tôi, tôi nghe câu chuyện của anh. Từ đó, mới có thể có bước thứ ba: “Chúng ta thử tìm xem, ngoài những điều đã chia cắt chúng ta, còn điều gì thuộc về cả hai.”

Và đây, chính là khái niệm về “Một Nhịp Cầu Cho Tương Lai Việt Nam”, và cây cầu ấy, không nên được xây bằng cách bắt hai đầu cầu phải giống nhau. Nó được xây bằng cách tạo ra một “khoảng giữa”, nơi người đã ra đi và người ở lại có thể bước đến mà không phải từ bỏ ký ức, căn cước hay niềm tin của mình. Và, khoảng giữa cầu, chính là nơi “dung chứa” tuổi trẻ Việt, những Gen Z Việt cùng đi xây một Việt Nam tương lai.

Chiếc cầu Việt Nam tương lai

1- Hòa hợp không phải là “anh phải nghĩ giống tôi”: Câu chuyện Việt Nam đã được tạo ra qua nhiều biến cố lịch sử đau thương, do đó, mỗi con người, mỗi hoàn cảnh thường có một phản xạ tự nhiên nhưng khác nhau qua cách nhìn. Một người từng trải qua tù đày có quyền nhìn lịch sử khác hơn một người chưa từng trải qua tù đày. Một người đã vượt biển có quyền nhìn năm 1975 khác một người sinh ra năm 1995. Một người lớn lên ở Việt Nam sau 1975 cũng có quyền nhìn đất nước của mình bằng những kinh nghiệm mà người ra đi trước đó không có.

Vì vậy, không có ai cần phải từ bỏ ký ức của mình để bắt đầu đối thoại. Sự việc “Không đồng ý” và “không thể nói chuyện” là hai chuyện khác nhau.

Anh có thể không đồng ý về nguyên nhân của 30/4/1975; không đồng ý về chế độ chính trị; không đồng ý về cách đánh giá lịch sử; không đồng ý về tương lai Việt Nam; nhưng anh vẫn có thể ngồi cùng một bàn với những người bạn ở Việt Nam.

Đó mới là một xã hội trưởng thành. Một cuộc đối thoại tốt không phải là cuộc đối thoại mà cuối cùng cả hai cùng nói: “Bây giờ tôi hiểu tại sao anh lại nghĩ như vậy.” Đây có lẽ là một nguyên tắc rất đáng để đặt vào trọng tâm của vấn đề hòa hợp dân tộc.

2- Điều cần thay đổi trước tiên là “tư thế” khi bước vào cuộc đối thoại: Khi bắt đầu cuộc đối thoại giữa hai bên, trong và ngoài nước, những câu mào đầu rất quan trọng. Nếu một bên bước vào với một tâm thế giải thích sự thật lịch sử… có lẽ, phía bên kia, trong tư thế phòng thủ, sẽ nghĩ ngay rằng “bên kia muốn dạy mình, muốn tuyên truyền…’Và câu chuyện trở nên tẽ nhạt, bế tắc.

Ngược lại, nếu hai bên bước vào bằng câu chào hỏi là “Tôi muốn nghe anh đã sống ở Hoa Kỳ hay Việt Nam như thế nào”, chắc chắn bầu không khí sẽ thay đổi hoàn toàn. Đây không phải là kỹ thuật ngoại giao, mà là sự tôn trọng kinh nghiệm của một con người.

3- “Đối thoại lịch sử” và “Đối thoại con người”: Đối thoại lịch sử sẽ hỏi: Ai đúng? Ai sai? Ai gây ra điều gì? Ai phải chịu trách nhiệm? Những câu hỏi ấy cần thiết, vì lịch sử không thể bị xóa bỏ. Nhưng nếu chúng ta chỉ bắt đầu bằng những câu hỏi ấy, chúng ta rất dễ quay trở lại cuộc chiến của ký ức. Chiếc cầu quê hương vẫn còn lững lờ chưa nối được hai đầu.

Nhưng nếu đối thoại giữa hai bên, người Việt trong và ngoài nước bắt đầu bằng những câu khác như: Anh đã sống qua những gì? Gia đình anh đã mất những gì? Điều gì làm anh đau nhất? Điều gì anh vẫn còn hy vọng? Anh muốn Việt Nam của con cháu mình sẽ như thế nào? Đến đây, sẽ có một điều rất lạ có thể hiện ra là hai người bất đồng về quá khứ nhưng có thể phát hiện họ có một phần tương đồng rất lớn về tương lai của con cái.

4- “Khoảng giữa” của một chiếc cầu tương lai: Chúng ta đã thấy hai bên bờ của chiếc cầu: Một bên là ký ức lịch sử, còn một bên là hiện tại. Nhưng cây cầu không nhất thiết phải nằm ở giữa lịch sử và hiện tại. Cây cầu phải nằm ở tương lai. Chúng ta có thể cùng nghĩ xem con cháu chúng ta muốn một Việt Nam như thế nào.

Đó chính là bước chuyển từ “lịch sử của chúng ta” sang “tương lai của tất cả chúng ta”. Nhưng có một điều kiện rất quan trọng là chúng ta không được dùng “tương lai” để xóa “quá khứ” đi. Vì quá khứ là một ký ức lịch sử đã hằn sâu trong tâm khảm của người Việt hải ngoại, một giai đoạn lịch sử dân tộc.

Chấp nhận quá khứ, chấp nhận sai lầm trong quản lý … để cùng xây dựng chiếc cầu tương lai cho tuổi trẻ!

Và đó là một cây cầu giúp những con người có những ký ức khác nhau cùng trở lại nhận ra mình vẫn có một phần tương lai chung. Chắc chắn, chiếc cầu nối tương lai sẽ được TUỔi TRẺ Việt thênh thang đón chào.

Câu chuyện tiếp xúc với những “tù nhân lương tâm”

 

Qua kinh nghiệm tiếp xúc với nhiều người mang danh là "tù nhân lương tâm" trẻ tại Mỹ, tình thân tương đối “nặng”, đến mời nhau đến nhà ăn cơm, trao đổi trong thân tình. Mà sao, tôi vẫn thấy có một "cái gì" (tôi không biết?) cách xa, ngờ ngợ. Trong câu chuyện, đôi khi tôi cảm nhận được sự dè dặt của họ. Trái lại, tôi rất cởi mở, nhứt là đối với một số tuổi trẻ ở Houston (xin miễn nêu tên). Tại sao họ phải dè dặt như vậy? Sao họ không dám "mở lòng" để cùng nhau nói về chuyện Đất và Nước.

 

Tôi hỏi ý kiến của AI, và được trả lời như sau: “Thưa anh, sau khi đọc kỹ câu hỏi của anh, tôi nghĩ cái “ngờ ngợ” anh cảm nhận không nhất thiết có nghĩa là họ không tin anh. Có thể chính anh đang chạm vào một lớp tâm lý rất sâu của những người đã từng hoạt động đối kháng trong nước, rồi ra hải ngoại. Tôi xin phân tích, nhưng phải nói rõ: không thể biết động cơ riêng của những bạn trẻ trên ra sao, nếu chính họ chưa nói ra. Vì vậy, dưới đây là những khả năng tâm lý–xã hội có thể giải thích hiện tượng anh quan sát, chứ không phải kết luận về từng người.

·         Người từng sống trong môi trường phải “giữ miệng” rất lâu có thể không bỏ thói quen đó ngay. Đây có lẽ là khả năng đầu tiên tôi nghĩ đến. Một người hoạt động trong nước, đặc biệt là người từng bị bắt, bị thẩm vấn, bị quản chế hoặc bị theo dõi, có thể đã hình thành một nguyên tắc sinh tồn là không phải điều gì mình nghĩ cũng nói ra. Không phải với ai cũng nói hết. Các tài liệu về những người mà anh nêu cho thấy họ từng nằm trong nhóm các nhà hoạt động bị bắt, giam hoặc chịu các hạn chế sau khi ra tù. Điều này rất khác với một người như anh, đã sống nhiều năm trong một môi trường mà phát biểu ý kiến chính trị là một quyền bình thường. Cho nên anh có thể bước vào bữa cơm với tâm thế: “Chúng ta là người Việt với nhau, cứ nói chuyện thật lòng.” Còn người đối diện có thể vô thức vẫn có một cái “thắng”: “Nói đến đâu? Nói với ai? Người này thực sự muốn biết điều gì?” Cái thắng ấy có thể tồn tại ngay cả khi họ quý trọng anh.

 

·         Còn một điều sâu thẳm hơn là họ có thể chưa biết anh thuộc “ngăn” nào. Đây là điều tôi nghĩ anh nên đặc biệt lưu ý. Anh là một người Việt hải ngoại nhưng không hoàn toàn nằm trong hình ảnh “người Việt hải ngoại” mà một người trẻ từ Việt Nam thường hình dung. Anh có lịch sử, quan điểm, trải nghiệm và cách nhìn riêng. Nhưng họ chưa chắc biết hết điều đó. Trong vài lần gặp đầu tiên, họ có thể tự hỏi: “Ông này muốn tìm hiểu mình thật hay muốn tìm hiểu hoạt động của mình?” “Ông ấy muốn nghe câu chuyện của mình hay muốn biết mình nghĩ gì về cộng đồng hải ngoại?” “Nếu mình nói thật, câu chuyện này sẽ được sử dụng như thế nào?” Không cần phải có sự nghi ngờ cá nhân mới xuất hiện những câu hỏi đó. Chỉ cần quá khứ của họ đã dạy họ phải thận trọng.

 

·         Và tôi nghĩ có một nghịch lý rất thú vị là chính sự cởi mở của anh đôi khi có thể làm họ… dè dặt hơn. Điều này nghe có vẻ ngược đời. Anh nói: “Tôi rất cởi mở.” Nhưng người đối diện chưa chắc đã có cùng tốc độ mở lòng. Anh có thể mở cửa 90% ngay từ đầu. Họ có thể chỉ mở 20%, quan sát một thời gian, rồi mới lên 40%, 60%... Không phải vì họ không thích anh. Mà vì cơ chế tin tưởng của hai người được hình thành trong hai hoàn cảnh khác nhau.

Anh có thể nghĩ: “Tôi đã mở lòng với anh rồi, tại sao anh chưa mở lòng với tôi?” Còn họ có thể nghĩ: “Ông ấy rất cởi mở, nhưng mình cần thời gian để biết sự cởi mở ấy đi đến đâu.” Đây là hai trạng thái tâm lý hoàn toàn có thể cùng tồn tại.

·         Tôi còn nghĩ có một “khoảng cách thế hệ” mà anh có thể chưa nhìn thấy. Anh nói rất hay: “Nhứt là đối với tuổi trẻ.” Nhưng chính chữ “tuổi trẻ” có thể là một phần của câu chuyện. Anh thuộc một thế hệ Việt Nam đã trải qua những biến cố lịch sử rất lớn và có một ký ức dài về Việt Nam. Những người anh gặp có thể thuộc một thế hệ khác. Họ có thể không muốn bị đặt vào câu chuyện: “Việt Nam Cộng Hòa – Cộng sản – 1975 – hải ngoại – quốc nội.”

Trong khi đối với anh, những vấn đề đó là một phần tự nhiên của câu chuyện Đất và Nước. Họ có thể muốn nói: “Tôi đấu tranh cho quyền con người.” “Tôi muốn đất nước thay đổi.” “Tôi muốn có tự do.” Nhưng khi câu chuyện chuyển sang “Đất và Nước”, họ có thể cảm thấy mình đang bước vào một vùng lịch sử rất rộng và rất nhạy cảm. Và họ lại dè dặt.

·         Một điểm tôi nghĩ rất đáng chú ý: “tù nhân lương tâm” có thể là một căn cước mà họ không muốn mang vào bàn ăn. Tôi không nói họ không tự hào về những gì mình đã làm. Nhưng khi một người đã được cộng đồng hải ngoại biết đến chánh yếu qua danh xưng “tù nhân lương tâm”, thì người khác rất dễ tiếp xúc với họ trước hết như một biểu tượng chính trị. Trong khi họ có thể chỉ muốn được nhìn như một người mẹ, một người cha, một người trẻ, một người Việt Nam, một con người có những vui buồn riêng.

Các tổ chức và truyền thông hải ngoại trong nhiều năm đã dùng danh xưng này trong những chiến dịch vận động và tưởng niệm. Cho nên có thể họ có một nhu cầu rất tự nhiên: “Xin đừng biến tôi thành một biểu tượng. Hãy nói chuyện với tôi như một con người bình thường.”

Nếu đúng như vậy, thì bữa cơm gia đình, chuyện đời thường, chuyện con cái, chuyện quê hương… đôi khi lại là con đường gần nhất để họ mở lòng.

·                     Và có một lý do khác mà tôi nghĩ anh nên để ý là họ có thể sợ làm anh thất vọng. Điều này không thể biết nếu chưa hỏi họ, nhưng về mặt tâm lý nó hoàn toàn có thể xảy ra. Một người trẻ từ Việt Nam gặp một người lớn tuổi hải ngoại có lịch sử hoạt động lâu dài, có kiến thức và có những quan niệm rất rõ về Việt Nam. Họ có thể nghĩ: “Ông ấy kỳ vọng mình phải nghĩ thế này.” trong khi anh lại không hề có ý đó. Anh chỉ muốn nghe họ nói mà thôi, nhưng họ không biết. Và thế là anh càng muốn họ nói thật, thì họ càng sợ nói sai, và chính điều này làm cho họ càng dè dặt. Đây là một nghịch lý rất đẹp nhưng cũng rất buồn của việc giao tiếp.

Và AI kết luận: Khi gặp một người Việt trẻ hôm nay, anh có thể vô thức đặt họ vào một câu chuyện mà họ không hoàn toàn thuộc về: 1975 - hải ngoại - cộng sản - chống cộng - hòa hợp - Việt Nam. Trong khi một người trẻ có thể đang nghĩ: công việc, lo cho gia đình, nghĩ đến tự do cá nhân, cùng chuẩn bị cho tương lai, v.v.

Cả hai người cùng yêu Việt Nam, nhưng “bản đồ hay lộ trình” trong tâm khảm hoàn toàn khác nhau. Đây có lẽ là điều anh đang gặp ở một số người trẻ mà anh vừa nói.

Có lẽ, AI nghĩ đúng tâm lý của các em tù nhân lương tâm trên. Quý vị thấy thế nào?

 

Suy nghiệm bản thân


Riêng đối với người viết, sở dĩ những bạn trẻ “tù nhân lương tâm” “sợ” hay “e ngại” tiếp xúc, hay “tâm sự” với người Việt hải ngoại, nhứt là những người đang tranh đấu cho một Việt Nam tương lai.

·         Có lẽ, họ sợ vì có mang một định kiến (không dám nói là đúng hay sai) là người Việt hải ngoại “coi” họ tranh đấu trong nước là chỉ mong cầu được “một cái vé máy bay một chiều” đẩy ra ngoại quốc mà thôi!

·         Không kể một lý do đời sống khác là việc cả gia đình bước vào một vùng đất lạ, với bao lo âu về cơm áo gạo tiền…Họ không còn đầu óc nào để suy nghĩ thêm về tương lai…đất nước (?)

·         Thêm một điểm tế nhị nữa là họ còn có gia đình, cha mẹ, anh em, người thân cật ruột trong nước. Họ e sợ những sinh hoạt tranh đấu (?) ở hải ngoại sẽ ảnh hưởng đến an ninh của người thân.

Qua trên, có lẽ giải thích được phần nào lý do những người tù lương tâm e ngại sự tiếp xúc với người Việt hải ngoại. Riêng người viết, thiết nghĩ, với tư thế của một người ở thế hệ I, đang đi tìm một cuộc đối thoại giữa hai thế hệ, trong khi họ có thể vẫn đang nhìn tôi như một người của một thế hệ trước. Tôi nhìn thấy tôi đang đứng trong một tư thế hết sức đặc biệt, đặc biệt ở chỗ đứng, một chân trong thế kỷ XX, và một chân trong thế kỷ XXI. Nếu tôi dùng suy nghĩ và ký ức của thế kỷ XX để đặt những câu hỏi về tương lai của các cháu qua thế kỷ XXI, thì thiết nghĩ, cuộc đối thoại có lẽ suôn sẻ hơn, thấm tình dân tộc hơn chăng?

Và có lẽ câu hỏi lớn nhất mà tôi nên đặt cho những người trẻ ấy phải chăng là: “Nếu không phải sống với những gì thế hệ của cha, chú đã sống, thì các cháu muốn xây dựng Việt Nam như thế nào?”

Tôi tin câu hỏi nầy có thể khơi mở được một cánh cửa cho tuổi trẻ mà những câu hỏi về quá khứ chưa mở được. Và có lẽ, tôi vừa hoàn tất phần việc của mình rồi.

Đã đến giờ trao cây đuốc cho người trẻ rồi, đứng sang một bên!

Mai Thanh Truyết

Tiết Thu Houston – 10-2026

 

 

 

 

 

Wednesday, October 14, 2026

 

NCK12: Câu hỏi kết thúc: Thưa Tiến sĩ Mai Thanh Truyết, nếu phải gửi gắm một lời nhắn ngắn gọn đến thế hệ trẻ người Việt tại Houston, Anh muốn các em nhớ điều gì về trách nhiệm bảo vệ sự thật lịch sử, tự do và tương lai của cộng đồng mình?

 

MTT12: Những lời dưới đây xin thân gửi các em, thế hệ tương lai của cộng đồng người Việt tại Houston. Nếu có một điều chính yếu cần nhắn gửi, tôi mong các em luôn mang theo trong hành trình trưởng thành là: Tự do các em đang có hôm nay không phải là một sự hiển nhiên, mà là một di sản được đánh đổi bằng máu, nước mắt và lòng dũng cảm của thế hệ đi trước.

Sự thịnh vượng trên đại lộ Bellaire, những thành công của người Việt trong chính trường hay các cộng đồng lớn tại Texas không tự nhiên mà có. Nó được xây dựng từ tro tàn và ý chí kiên cường của những con người đã bỏ lại tất cả sau năm 1975 để chọn đi theo ánh sáng của tự do.

Trách nhiệm của các em đối với lịch sử và tương lai của cộng đồng không nằm ở việc gánh vác sự hận thù, mà là bảo vệ những giá trị hằn hữu sau:

1-    Bảo vệ sự thật lịch sử bằng tri thức: Hãy lắng nghe ký ức của cha ông bằng trái tim cởi mở và tư duy phản biện. Sự thật lịch sử về làn sóng tị nạn chính trị cần được gìn giữ một cách chính trực. Hãy dùng tri thức, ngôn ngữ và nền giáo dục hiện đại của các em để viết tiếp và kể lại câu chuyện đó cho thế giới một cách tự hào, ngăn chặn mọi nỗ lực làm sai lệch quá khứ.

2-    Giữ vững quyền tự do bằng sự minh bạch: Sức mạnh lớn nhất của các em chính là sự hiểu biết về luật pháp và các giá trị dân chủ của nước Mỹ. Hãy dùng sự minh bạch, tính thượng tôn pháp luật để bảo vệ các hội đoàn, bảo vệ không gian mạng của cộng đồng trước những sự thao túng hay chia rẽ từ bên ngoài, nhứt là ở Việt Nam cộng sản.

3-    Kiến tạo tương lai bằng sự bao dung và bản lĩnh: Hãy tiếp tục đưa cộng đồng người Việt tại Houston tiến xa hơn nữa trong mọi lĩnh vực. Sự cởi mở, hòa nhã với thế giới bên ngoài, nhứt là với người bản xứ, là sức mạnh của một xã hội tự do, nhưng bản lĩnh của các em nằm ở chỗ biết rõ mình là ai, cội nguồn của mình ở đâu, và đâu là những ranh giới giá trị không bao giờ được phép nhân nhượng.

Các em là những người định hình diện mạo của cộng đồng trong nhiều thập niên tới. Hãy sống, cống hiến và bảo vệ ngôi nhà chung Houston bằng niềm tự hào của một người Mỹ gốc Việt tự do và chính trực.

Cảm ơn GS Nguyễn Chính Kết đã điều hợp cho buổi hội luận ngày hôm nay.

Mai Thanh Truyết

  https://drive.google.com/file/d/1EOEau1uKTlvaqHDDmi1xak8IQiboj2X5/view?usp=drive_link

 

Chương trình Chuyện Đời Thường

Liên Bích phụ trách

Radio VVA 1600 AM - Ngày 13/10/2026

 

Cộng đồng Việt trên đất Mỹ

 

LB1: Thưa Quý vị, Nhớ lại, từ những ngày đầu tiên bở ngỡ trên vùng đất lạ khắp 50 tiều bang Hoa Kỳ, cộng đồng người Việt bắt đầu một cuộc sống mới với sự giúp đở tận tình của người dân và chính phủ Mỹ. Người Việt sống tại đây luôn luôn ghi lòng tạc dạ những sự giúp đở trên. Từ một cộng đồng sống rải rác khắp nơi trở thành những cộng đồng lớn mạnh với gần 3 triệu hiện nay. Và người Việt, nhứt là tuổi trẻ, hiện có mặt khắp nơi trong chính quyền khu vực, địa phương, cấp tiểu bang, cấp liên bang. Thậm chí có cả trong quân đội mang quân hàm cấp tướng nữa. Xin Ts MTT cho quý thính giả của VVA biết sơ lược về tình trạng phát triển của cộng đồng người Việt hiện tại.

 

MTT1: Sau 51 năm kể từ biến cố năm 1975, cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ đã trải qua một chặng đường phát triển rất đáng chú ý, từ những người tị nạn ban đầu trở thành một cộng đồng có vị trí kinh tế, văn hóa và xã hội ngày càng rõ nét trong đời sống nước Mỹ.

1. Giai đoạn hình thành (1975–1985): Từ người tị nạn đến xây dựng cuộc sống mới

  • Đợt đầu tiên, khoảng 130.000 người Việt đến Mỹ vào năm 1975.
  • Những năm sau đó, làn sóng “thuyền nhân” tiếp tục sang Mỹ qua các chương trình nhân đạo và đoàn tụ gia đình.
  • Đa số khởi đầu với hai bàn tay trắng, gặp nhiều khó khăn về ngôn ngữ, nghề nghiệp và thích nghi văn hóa.
  • Các cơ sở cộng đồng đầu tiên xuất hiện: chùa, nhà thờ, hội đồng hương, trường Việt ngữ và các cơ sở truyền thông tiếng Việt.

2. Giai đoạn ổn định và phát triển kinh tế (1985–2000)

Thế hệ thứ nhất dần ổn định đời sống và phát triển các ngành nghề nhỏ: nhà hàng, chợ Việt Nam. Tiệm nail. Cơ sở dịch vụ và thương mại. Nghề nail trở thành một hiện tượng kinh tế đặc biệt của người Việt tại Mỹ. Hình thành các khu “Little Saigon”: Little Saigon (California), Khu Bellaire ở Houston, San Jose, Virginia, Seattle, Dallas…

Những khu vực này không chỉ là trung tâm kinh doanh mà còn là nơi bảo tồn văn hóa Việt Nam.

3. Giai đoạn hội nhập dòng chính (2000–2026): Sau hơn nửa thế kỷ, cộng đồng người Việt đã bước sang một giai đoạn mới:

 

* Giáo dục: Thế hệ thứ hai và thứ ba có tỷ lệ học đại học cao. Nhiều người trở thành: bác sĩ, kỹ sư, luật sư, giáo sư, nhà khoa học, doanh nhân.

* Chính trị và xã hội: Người Việt ngày càng tham gia vào hệ thống chính trị Mỹ: Nghị viên thành phố - Ủy viên giáo dục - Dân biểu tiểu bang - Dân biểu liên bang

Điều này phản ánh quá trình chuyển từ vai trò cộng đồng di dân sang vai trò công dân tích cực trong xã hội Mỹ.

* Kinh tế: Hàng chục nghìn doanh nghiệp Việt hoạt động trên nhiều lĩnh vực: nhà hàng - công nghệ - tài chính - y tế - địa ốc - dịch vụ chuyên môn.

* Giữ gìn bản sắc văn hóa: Dù hội nhập sâu vào xã hội Mỹ, cộng đồng người Việt vẫn duy trì: Tiếng Việt - Tết Nguyên Đán - Áo dài - Âm nhạc và văn học Việt Nam - Chùa chiền, nhà thờ - Các hội đoàn và sinh hoạt cộng đồng. Đây là một đặc điểm nổi bật: hội nhập mà không hoàn toàn đánh mất bản sắc dân tộc.

* Những thách thức hiện nay: Sau 51 năm, cộng đồng cũng đối diện nhiều câu hỏi mới:

  • Làm sao giữ tiếng Việt cho thế hệ trẻ?
  • Làm sao kết nối các thế hệ khác nhau?
  • Vai trò của cộng đồng trong xã hội Mỹ sẽ đi về đâu?
  • Làm sao chuyển từ tinh thần bảo tồn cộng đồng sang phát triển ảnh hưởng trong dòng chính?

 

51 năm qua là hành trình đi từ: Người tị nạn - Người định cư - Người xây dựng cộng đồng - Công dân tham gia dòng chính Hoa Kỳ. Nếu giai đoạn đầu là câu chuyện của sự sống còn, thì giai đoạn hôm nay là câu chuyện của hội nhập, đóng góp và truyền lại di sản văn hóa cho các thế hệ tương lai.

 

Có thể nói, cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ là một trong những cộng đồng di dân thành công của nước Mỹ: vừa giữ được nhiều nét văn hóa dân tộc, vừa từng bước khẳng định vị trí trong đời sống kinh tế, giáo dục và xã hội của quốc gia này.

 

LB2: Thưa anh Mai Thanh Truyết, trong nhiều thập niên, cộng đồng người Việt hải ngoại đã kiên trì đấu tranh bằng biểu tình và vận động dân cử, nhưng nhiều người cảm thấy hiệu quả không còn như trước nữa. Thưa Anh, Anh nhìn nhận thế nào về giới hạn của phương thức đấu tranh truyền thống này?

 

MTT2: Thưa Cô LB, tôi nghĩ đây là một câu hỏi rất căn bản nếu muốn nhìn lại con đường của cộng đồng người Việt hải ngoại trong vài thập niên qua. Tôi không cho rằng biểu tình hay vận động dân cử là sai. Vấn đề là sau 51 năm, hoàn cảnh đã thay đổi, trong khi phương thức đấu tranh ở nhiều nơi vẫn chưa thay đổi tương ứng.

 

1-    Biểu tình có sức mạnh, nhưng sức mạnh có giới hạn: Trong những năm đầu sau 1975, biểu tình có một vai trò rất quan trọng nhằm tập hợp cộng đồng, bày tỏ lập trường, tạo ra tiếng vang trong truyền thông, gây áp lực lên chính giới địa phương, duy trì ký ức lịch sử và căn tính của cộng đồng Việt trên đất Hoa Kỳ.

 

2-    Vận động dân cử cũng có một giới hạn khác. Vận động dân cử thực ra là một phương thức rất quan trọng trong xã hội dân chủ. Nhưng có một khác biệt là không cần phải có đông người Việt là cộng đồng đã có sức mạnh chính trị. Mà, sức mạnh chính trị còn phụ thuộc vào số cử tri và tỷ lệ đi bầu, cộng thêm khả năng tổ chức và khả năng đối thoại, cùng khả năng trở thành một lực lượng có ích cho chính quyền địa phương. Nếu người Việt tham gia đều đặn vào đời sống chính trị địa phương, đi bầu, tham dự các cuộc họp, làm việc với văn phòng dân cử, tham gia hội đồng cộng đồng, đóng góp cho các vấn đề của thành phố và khu vực, thì ảnh hưởng của cộng đồng sẽ vào sâu trong sinh hoạt Hoa Kỳ hơn rất nhiều.

 

3-    Một giới hạn lớn hơn là, sau 51 năm, thế hệ Việt đã thay đổi. Đây có lẽ là vấn đề quan trọng nhất. Thế hệ người Việt tị nạn đầu tiên có một ký ức lịch sử rất mạnh về Việt Nam trước và sau 1975. Nhưng thế hệ thứ hai, thứ ba, và đặc biệt những người trẻ sinh ra hoặc lớn lên tại Hoa Kỳ, thế hệ Gen Z, có một câu hỏi khác: “Tôi là người Việt, nhưng tôi đang sống ở đây. Tôi phải đóng góp thế nào cho xã hội này?” Nếu cộng đồng chỉ tiếp tục nói bằng ngôn ngữ của quá khứ như … chống cộng, biểu tình, phản đối, tưởng niệm, thì sẽ có nguy cơ không còn nói được với một thế hệ trẻ, thế hệ Gen Z Việt nữa. Không phải vì thế hệ trẻ đó quên nguồn gốc. Mà vì mối quan tâm của họ đã mở rộng. Họ quan tâm đến giáo dục, việc làm, kinh doanh, môi trường, nhà ở, an sinh xã hội, cơ hội chính trị, tương lai con cái...Do đó, nếu cộng đồng muốn tồn tại như một lực lượng có ảnh hưởng trong 20–30 năm tới, thì phải chuyển câu hỏi từ: “Chúng ta phản đối điều gì?” sang một câu hỏi xây dựng và thực tế hơn là: “Chúng ta đóng góp được gì?”

 

4-    Và đây là điểm tôi cho rằng rất đáng suy nghĩ, xin nói thật lòng, là có lẽ cộng đồng không nên bỏ “đấu tranh”, nhưng mà nên thay đổi khái niệm về đấu tranh, từ việc đấu tranh để chống lại một điều gì đó, sang đấu tranh bằng cách xây dựng một cộng đồng có năng lực và có ích, nghĩa là từ đấu tranh chính trị - protest politics sang đấu tranh “vì hay cho” một cộng đồng chính trị - community politics.

 

Tôi xin cô đọng lại thành một câu là biểu tình giúp cộng đồng được nhìn thấy được vấn đề. Vận động giúp cộng đồng được lắng nghe. Nhưng nếu cộng đồng tổ chức, tham gia và đóng góp mới giúp cộng đồng có ảnh hưởng lâu dài hơn. Và tôi nghĩ đây chính là chỗ chúng ta đang lần lần nhìn ra vấn đề của cộng đồng người Việt tại Houston, không phải người Việt thiếu tiếng nói, mà có thể chúng ta chưa biến tiếng nói ấy thành một năng lực cộng đồng có tổ chức và có tính liên tục.

 

LB3: Thưa anh Mai Thanh Truyết, Thực tế cho thấy nhà cầm quyền Việt Nam ngày càng ít bị ảnh hưởng bởi các cuộc biểu tình ở hải ngoại, dù số lượng người tham gia vẫn còn đông. Theo Anh, vì sao hình thức đấu tranh này không còn tạo được sức ép đáng kể như trước đây?

 

MTT3: Thưa cô LB và quý thính giả của VVA, tôi nghĩ nhận xét này có căn bản trong quá khứ và hiện tại, nhưng chúng ta cần phân biệt giữa “biểu tình không còn tác dụng” và “biểu tình không còn là công cụ tạo sức ép trực tiếp đối với Hà Nội như trước nữa.” Hai điều này không hoàn toàn giống nhau. Có mấy nguyên nhân chính:

  1. Khoảng cách địa lý và quyền lực: Một cuộc biểu tình tại Hoa Kỳ tạo ra tiếng vang trong xã hội Hoa Kỳ, nhưng chính quyền Việt Nam không trực tiếp chịu một cái giá chính trị hay kinh tế tức thời nào.
  2. Hà Nội đã quen với phương thức này rồi: Trong suốt 51 năm qua, việc biểu tình của người Việt hải ngoại đã trở thành một hiện tượng quen thuộc. Khi một phương thức được lặp lại nhiều lần mà không tạo ra hậu quả mới, CSBV là đối tượng bị phản đối có thể học cách “chịu đựng và bỏ qua” thay vì thay đổi chính sách.
  3. Môi trường Việt Nam đã thay đổi rất nhiều rồi: Các mối liện lạc kinh tế, thương mại, ngoại giao, giáo dục và trao đổi giữa Việt Nam với Hoa Kỳ ngày càng rộng. Chính quyền cs Việt Nam có nhiều lợi ích và quan hệ quốc tế khác để cân bằng. Vì vậy, một cuộc biểu tình đơn lẻ ở hải ngoại khó có thể làm thay đổi tính toán chiến lược của Hà Nội. Đây là một thực tể thiết nghĩ chúng ta không cần phải phủ nhận.
  4. Quan trọng nhất: “số đông” không đồng nghĩa với “sức ép”: Đây là điều cộng đồng cần nhìn thẳng vào. 10.000 người xuống đường có thể tạo một hình ảnh rất mạnh. Nhưng nếu, 10.000 cử tri đi bầu đều đặn, 10.000 người tham gia các tổ chức địa phương, hàng trăm doanh nghiệp đóng góp cho cộng đồng, các chuyên gia cung cấp dữ liệu và một mạng lưới liên lạc thường xuyên với giới dân cử có thể tạo ra ảnh hưởng chính trị lớn hơn rất nhiều. Vì vậy, tôi sẽ không kết luận rằng “biểu tình sẽ đưa đến thất bại.” Nhưng đúng hơn là biểu tình là công cụ để trình bày lập trường của cộng đồng; nhưng nó không tự động biến một cộng đồng thành một lực lượng có ảnh hưởng.

 

Những điều tôi trình bày trên đây có thể là bước ngoặt mà cộng đồng người Việt hải ngoại đang hiện diện trước mắt chúng ta. Nếu chúng ta “đấu tranh để Hà Nội phải nghe mình” chuyển sang việc “xây dựng một cộng đồng mạnh đến mức chính quyền địa phương, chính giới Hoa Kỳ và cả Hà Nội đều phải quan tâm đến tiếng nói của mình. Đó mới là một sự thay đổi từ phản ứng sang chủ động, và theo tôi, có ý nghĩa hơn rất nhiều cho thế hệ trẻ, thưa cô LB.

 

LB4: Thưa Tiến sĩ Mai Thanh Truyết, Gần đây, nhiều tiếng nói trong cộng đồng cho rằng muốn có ảnh hưởng thật sự, người Việt phải bước vào dòng chính của xã hội Mỹ. Anh có thể giải thích vì sao việc có các dân cử gốc Việt lại là yếu tố chiến lược trong cuộc đấu tranh cho tự do dân chủ Việt Nam?

 

MTT4: Thưa Cô LB, tôi nghĩ đây là một bước chuyển tiếp rất quan trọng trong suy nghĩ chính trị của cộng đồng người Việt hải ngoại. Nếu mục tiêu vẫn là tự do, dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam, thì việc có những người Việt trở thành dân cử tại Hoa Kỳ có giá trị chiến lược không phải đơn giản vì họ là “người Việt”, mà vì họ đã bước vào nơi mà quyền lực chính sách thực sự được hình thành trong xã hội Hoa Kỳ.

 

Từ người bên ngoài vận động hành lang thành người bên trong dòng chính. Một cuộc biểu tình có thể gửi thông điệp đến một dân biểu. Nếu một dân biểu gốc Việt có uy tín trong cả cộng đồng Việt và trong cộng đồng Mỹ rộng lớn hơn, tiếng nói của họ về Việt Nam sẽ không còn bị nhìn đơn thuần như tiếng nói của một nhóm người Việt chống cộng ở hải ngoại, mà có thể trở thành một tiếng nói của chính trường Hoa Kỳ về Việt Nam. Đó mới là ảnh hưởng chiến lược.

 

Dân cử gốc Việt còn có thể tạo ra “cầu nối thế hệ” vì thế hệ thứ nhất có ký ức về Việt Nam; thế hệ thứ hai, thứ ba lớn lên trong xã hội Mỹ. Nếu một người trẻ gốc Việt trở thành nghị viên thành phố, dân biểu tiểu bang, rồi dân biểu liên bang, thì họ chứng minh một điều rất quan trọng là người Việt không chỉ là một cộng đồng di dân sống trong quá khứ, mà người Việt đã trở thành một thành phần của đời sống chính trị Hoa Kỳ. Khi đó, vấn đề Việt Nam có thể được trình bày bằng ngôn ngữ của dân chủ, nhân quyền, pháp quyền và lợi ích quốc gia của Hoa Kỳ, thay vì chỉ bằng ngôn ngữ của ký ức 1975. Đây là cách để chuyển ký ức thành ảnh hưởng chính trị.

 

Và có một điều còn quan trọng hơn nữa là không nên chỉ tìm “người Việt để bầu”. Tôi nghĩ cộng đồng cần tránh một cái bẫy là tự coi một chân lý dưới đây là bất biến như: “Ứng cử viên là người Việt thì người Việt phải bỏ phiếu cho họ.” Không hẳn như thế,  Chúng ta cần mở thêm nữa, để nhìn một người Việt có năng lực, có phẩm chất, thấu hiểu những vấn để của cộng đồng, phục vụ toàn thể cử tri, và nhứt là có lập trường phù hợp với những giá trị mà cộng đồng muốn bảo vệ. Và đặc biệt, xin cô LB lưu ý là cộng đồng không nên trở thành một khối chỉ thuộc về Đảng Cộng hòa hay Đảng Dân chủ. Nếu người Việt có mặt trong cả hai đảng, họ sẽ có khả năng xây dựng quan hệ rộng hơn trong chính trường Hoa Kỳ. Đó mới là sức mạnh của cộng đồng lâu dài.

 

Và cuối cùng, mục tiêu của cộng đồng Việt không phải là đưa thật nhiều người Việt vào chính quyền Hoa Kỳ chỉ vì họ là người Việt. Mục tiêu là xây dựng một thế hệ người Mỹ gốc Việt có đủ năng lực và uy tín để tiếng nói của họ về Việt Nam được lắng nghe trong chính trường Hoa Kỳ.

Nếu nhìn như vậy, “hội nhập dòng chính” không phải là từ bỏ cuộc đấu tranh cho tự do dân chủ Việt Nam. Ngược lại, đó có thể là một hình thức đấu tranh trưởng thành hơn, từ việc biểu tình ngoài đường phố cho đến những bước chân bước vào nghị trường.

 

LB5: Thưa anh Truyết, dù cộng đồng người Việt khá đông và có trình độ, số người tham gia chính trị vẫn còn rất khiêm tốn. Theo Anh, đâu là những rào cản khiến chúng ta chưa hình thành được một thế hệ lãnh đạo gốc Việt mạnh mẽ trong chính trường Hoa Kỳ?

 

MTT5: Thưa cô LB, tôi nghĩ đây là một vấn đề nghiêm trọng nhứt trong cộng đồng. Người Việt ở Hoa Kỳ không thiếu người tài, nhưng người tài không tự nhiên trở thành lãnh đạo chính trị. Giữa “có trình độ” và “có ảnh hưởng chính trị” là cả một khoảng cách mà cộng đồng chúng ta chưa xây dựng đầy đủ. Tôi thấy có nhiều rào cản như sau: Tâm lý “lo làm ăn hơn lo chính trị”: Thế hệ đầu tiên sang Mỹ phần lớn phải bắt đầu lại từ nghề nghiệp, gia đình, nhà cửa, kinh doanh, xây dựng tương lai cho…con cái. Họ xem thành công kinh tế là ưu tiên, và chính trị thường được xem là chuyện của người khác. Điều này tạo ra một nghịch lý là trong cộng đồng, có rất nhiều bác sĩ, kỹ sư, luật sư, doanh nhân, giáo sư… nhưng số người chấp nhận bỏ thời gian nhiều năm để đi vào địa hạt chính trị lại rất ít.

 

Nhưng, cộng đồng Việt hiện chưa có một hệ thống đủ mạnh và liên tục như vậy. Sự phân hóa nội bộ làm tiêu hao năng lượng của cộng đồng: Đây là vấn đề chúng ta phải thẳng thắn nhìn nhận dù cho có phũ phàng. Tất cả là do lỗi của chính chúng ta. Nếu một người Việt có ý định bước vào chính trị mà trước tiên phải đối phó với sự chia rẽ giữa các nhóm trong chính cộng đồng Việt, thì họ sẽ mất rất nhiều năng lượng trước khi bước ra được chính trường Mỹ. Kinh nghiệm ở các kỳ bầu cử nghị viên ở vùng SW Houston vừa qua, cho thấy vì chia rẽ cho nên có 3-4 ứng cử viên Việt ra tranh cử cùng một Đon vị. Rốt cuộc, vì chia phiếu, một ứng cử viên da màu đắc cử trong một địa phương trong đó cử tri Việt chiếm đa số! Rất tiếc!

Một cộng đồng muốn có sức mạnh chính trị phải học được điều rất căn bản của nền dân chủ, là bài học rằng có thể bất đồng với nhau về chính trị nhưng vẫn hợp tác với nhau vì lợi ích chung. Đó là điều mà chính trường Hoa Kỳ đã vận hành hàng ngày. Chúng ta chưa tận dụng đầy đủ sức mạnh của lá phiếu. Cũng lấy thí dụ đơn vị bầu cử trên, số cử tri người Việt chiếm độ 12.000 người, và qua thống kê nhiều kỳ bầu cử trong quá khứ, chỉ cần 5.000 cử tri Việt đi bầu, bảo đảm với quý vị rằng, chắc chắn chúng ta sẽ thắng! Nếu cộng đồng Việt biến được người dân cư ngụ trong một đơn vị bầu cử thành một lực lượng cử tri đi bầu thì giá trị chính trị của cộng đồng sẽ tăng lên rất nhanh. Tôi xin tóm tắt lại thành một ý như sau, vấn đề của cộng đồng Việt không phải thiếu người tài, mà vấn đề là chúng ta chưa biến được “người tài” thành “người lãnh đạo”, và chưa biến được “dân số” thành “sức mạnh chính trị” qua lá phiếu cử tri!.

 

LB6: Thưa Tiến sĩ Mai Thanh Truyết, nhiều chuyên gia cho rằng giới trẻ gốc Việt có đủ năng lực để bước vào chính trị, nhưng họ chưa được khuyến khích đúng mức. Anh đánh giá vai trò của giới trẻ trong tiến trình thay đổi này như thế nào, và vì sao họ cần mạnh dạn ứng cử?

 

MTT6: Thưa Cô LB, tôi đánh giá giới trẻ gốc Việt là mắt xích quyết định nếu cộng đồng muốn chuyển từ một cộng đồng có tiếng nói thành một cộng đồng có ảnh hưởng chính trị lâu dài. Nhưng tôi muốn nhấn mạnh một điểm là không nên xem giới trẻ chỉ là “người kế thừa” của thế hệ trước. Họ phải là những người cùng tạo ra giai đoạn mới.

 

Vì sao giới trẻ có lợi thế đặc biệt? Họ có một lợi thế mà thế hệ thứ nhất khó có được: họ đã là và thuộc về dòng chính ngay từ đầu đời rồi. Họ học trong hệ thống giáo dục Mỹ, sử dụng tiếng Anh tự nhiên, hiểu văn hóa và xã hội Mỹ, có liên quan với bạn bè, đồng nghiệp thuộc nhiều sắc tộc khác nhau, có thể hoạt động trong cả hai không gian Việt Nam và Hoa Kỳ. Do đó, khi một người trẻ gốc Việt bước vào chính trị, họ không nhất thiết phải “hội nhập vào nước Mỹ” nữa vì họ đã ở trong nước Mỹ rồi. Việc còn lại là biến sự hiện diện ấy thành sự tham gia và lãnh đạo.

 

Tại sao họ cần mạnh dạn ứng cử? Vì họ thấy, nếu không ứng cử thì người khác sẽ quyết định thay thế mình. Đây là một nguyên tắc rất đơn giản của dân chủ. Một cộng đồng có hàng chục ngàn người nhưng không có người của mình trong các cơ quan quyết định chính sách thì tiếng nói vẫn chưa là tiếng nói của người vận động bên ngoài. Ngược lại, khi một người trẻ gốc Việt ứng cử vào hội đồng thành phố, học khu, county hay cơ quan lập pháp tiểu bang, họ bắt đầu học cách đem những vấn đề của cộng đồng vào chính sách công. Và quan trọng hơn nữa, họ đang học cách làm chính trị, chứ không chỉ nói về chính trị.

 

Nhưng thế hệ lớn tuổi cần phải làm một việc rất quan trọng là đừng chỉ kêu gọi người trẻ hãy tham gia. Nếu một người trẻ bước ra ứng cử mà cộng đồng chỉ hỏi: “Cháu có theo đúng lập trường của thế hệ chúng tôi không?” thì chúng ta có thể làm mất một thế hệ, vì họ sẽ rời xa chúng ta, thế hệ một ngay. Mà câu hỏi cần hỏi tuổi trẻ là: “Cháu muốn phục vụ cộng đồng như thế nào? Chúng tôi có thể giúp cháu những gì?”

 

Và tôi nghĩ đây là điểm quan trọng nhất đối với câu chuyện Việt Nam, một người trẻ gốc Việt trở thành dân cử Hoa Kỳ không cần phải mang toàn bộ quá khứ của thế hệ cha mẹ vào nghị trường. Họ có thể nói một ngôn ngữ mới với tất cả mọi người sống trên đất Mỹ về dân chủ — nhân quyền — pháp quyền — tự do — quan hệ quốc tế — lợi ích của Hoa Kỳ — và tương lai của Việt Nam.

Khi đó, cuộc vận động cho Việt Nam có thể chuyển sang việc “Những công dân Mỹ gốc Việt tham gia vào “dự thảo” chính sách của Hoa Kỳ đối với Việt Nam.”

Thưa cô LB, thế hệ trước đã giữ ngọn lửa. Thế hệ trẻ phải học cách mang ngọn lửa ấy vào nghị trường. Và mạnh dạn ứng cử không phải vì họ là người Việt nên phải làm chính trị. Vì nếu họ có năng lực, có lý tưởng và muốn phục vụ xã hội, thì không có lý do gì người Việt phải đứng mãi bên ngoài cánh cửa quyền lực của dòng chính Hoa Kỳ thưa Cô?

 

LB7: Thưa anh Truyết, trong khi không phải ai cũng có thể ứng cử, thì lá phiếu lại là điều mọi người đều có thể sử dụng để tạo ảnh hưởng. Anh có thể phân tích vì sao việc đi bầu đông đảo lại giúp cộng đồng người Việt có tiếng nói mạnh hơn đối với các ứng cử viên và chính sách liên quan đến Việt Nam?

 

MTT7: Thưa quý thính giả, theo tôi đây là một trong những điểm căn bản nhất của việc xây dựng sức mạnh chính trị của cộng đồng Việt. Không phải ai cũng có thể ra tranh cử, nhưng hầu hết công dân đủ điều kiện đều có một quyền lực rất cụ thể là lá phiếu.

Lá phiếu biến “đông người” thành “sức mạnh chính trị”: Một cộng đồng có thể có 100.000 người Việt, nhưng nếu chỉ một phần nhỏ đi bầu thì đối với ứng cử viên, con số 100.000 ấy không có cùng ý nghĩa. Ngược lại, nếu một ứng cử viên biết rằng, khu vực này có 15.000 cử tri gốc Việt và phần lớn trong số họ thực sự đi bầu, thì chắc chắn cộng đồng ấy trở thành một khối cử tri cần được quan tâm.

 

Đây là điểm rất quan trọng, vì dân số thì tạo ra tiềm năng, mà số cử tri mới tạo ra sức mạnh. Người đi bầu biến sức mạnh ấy thành ảnh hưởng. Ứng cử viên sẽ lắng nghe ở nơi có cử tri: Một chính trị gia phải tính toán rất thực tế khi đánh giá một cộng đồng. Nếu một cộng đồng có số cử tri ghi danh đông, đi bầu đều đặn, tham dự các buổi tiếp xúc của ứng cử viên, biết đặt câu hỏi, có liên lạc với văn phòng dân cử, có tổ chức cộng đồng hoạt động tốt. Chắc chắn sẽ có bất cứ ứng cử viên nào trong địa hạt sẽ đến tiếp xúc với cộng đồng, không phải một lần mà là nhiều lần.

 

Nhưng lá phiếu không chỉ dùng để “ủng hộ người Việt”: Thưa cô LB, đây là chỗ tôi nghĩ cộng đồng cần trưởng thành hơn. Chúng ta không nên biến nguyên tắc thành chỗ nào có người Việt ứng cử thì người Việt phải bầu cho; mà nên là, nếu có ưng cử viên nào hiểu, tôn trọng và có khả năng phục vụ lợi ích của cộng đồng thì chúng ta xem xét ủng hộ họ, dù họ là người Việt hay bản xứ!

 

Nếu có ứng cử viên gốc Việt tốt, đó là một lợi thế. Nhưng nếu ứng cử viên không phải người Việt mà có chính sách tốt và tôn trọng cộng đồng Việt, họ cũng phải được cộng đồng quan tâm. Như vậy, người Việt có thể xây dựng quan hệ với cả hai đảng và nhiều nhóm chính trị khác nhau. Một khi đã trở thành dân cử liên bang, họ có thể tham gia vào những vấn đề liên quan đến chính sách đối ngoại, nhân quyền, tự do tôn giáo, thương mại, quan hệ Mỹ–Việt, chính sách của Hoa Kỳ đối với Đông Nam Á. Khi ấy, lá phiếu của cộng đồng ngày hôm nay có thể góp phần tạo nên tiếng nói chính trị cho ngày mai. Cho nên, nếu cộng đồng muốn có tiếng nói mạnh hơn về Việt Nam, có lẽ trước hết không cần phải nhìn về Washington.

 

Hãy bắt đầu từ thùng phiếu ngay tại nơi mình đang sống. Đó chính là con đường từ “người Việt sống ở Mỹ” trở thành một “công dân Mỹ gốc Việt có ảnh hưởng chính trị.”

 

LB8: Thưa anh Truyết, tỉ lệ đi bầu của người Việt vẫn chưa tương xứng với số dân và tiềm năng ảnh hưởng chính trị của cộng đồng. Theo Anh, chúng ta cần những biện pháp cụ thể nào để nâng cao ý thức và tỉ lệ tham gia bầu cử của đồng hương?

 

MTT8: Thưa Cô LB, tôi nghĩ muốn nâng tỷ lệ đi bầu của người Việt thì không nên bắt đầu bằng những lời kêu gọi chính trị lớn, mà bằng những việc rất cụ thể, đều đặn và gần với đời sống. Làm sao biến việc đi bầu thành một thói quen của cộng đồng: Đừng chỉ vận động vào vài tuần trước ngày bầu cử. Cần tạo một thông điệp thường xuyên và nên thay đổi định kiến về việc “làm chính trị” là đi bầu là trách nhiệm của người công dân, không phải chỉ là chuyện chính trị. Ngay cả khi không có ứng cử viên Việt Nam, người Việt vẫn đi bầu. Mục tiêu phải là tạo thói quen, chứ không phải chỉ huy động khi cộng đồng cần một lá phiếu cho một vấn đề nào đó.

 

Một trong những nguyên nhân khiến người ta không đi bầu là cảm giác: “Một lá phiếu của tôi thì có thay đổi được gì đâu?” Cộng đồng cần cho các ứng cử viên thấy bằng những ví dụ rất cụ thể: - 100 người đi bầu, sẽ được ứng cử viên chú ý - 1.000 người, sẽ làm ứng cử viên tìm đến - 10.000 người, chắc chắn không ứng cử viên nào muốn bỏ qua. Khi người Việt hiểu rằng tỷ lệ đi bầu chính là một phần của sức mạnh chính trị, thái độ của mỗi chúng ta sẽ thay đổi.

 

Thưa cô LB, tôi đặc biệt muốn nhấn mạnh một lần nữa là không nên biến việc đi bầu thành “phe ta – phe địch”. Nếu cộng đồng nói: “Phải bầu cho Cộng hòa.” hoặc: “Phải bầu cho Dân chủ.” Lúc đó, chính chúng ta tự thu hẹp sức mạnh của mình. Tốt hơn là, hãy đi bầu, hãy tìm hiểu ứng cử viên, hãy xem họ nói gì về những vấn đề quan trọng đối với gia đình, cộng đồng và xã hội. Sau đó tự mình quyết định. Một khi người Việt trở thành một lực lượng cử tri độc lập và có trách nhiệm, cả hai đảng đều phải tìm cách thuyết phục chúng ta.

 

Thí dụ: Cộng đồng người Hoa ở khu vực SW Houston đều vận động và ủng hộ tài chính cho cả Đảng CH và DC. Vì vậy, dù cho ứng cử viên đảng nào đắc cử, họ vẫn có lợi thế ở nghị trường. Do đó, hầu như tất cả các proposal của họ dành cho lợi ích của người Tàu trong vùng đều được chấp thuận. Còn cộng đồng VN thì sao? Xin bà con suy nghĩ thêm…

Tóm lại, muốn người Việt có tiếng nói trong chính trường Hoa Kỳ, trước hết phải biến người Việt từ một cộng đồng đông dân thành một cộng đồng đông cử tri, và từ đông cử tri thành đông người thực sự đi bầu.

 

LB9: Thưa anh Truyết, nếu cộng đồng người Việt thực sự thay đổi cách đấu tranh, từ biểu tình sang tham gia dòng chính và sử dụng lá phiếu, thì sức mạnh chính trị sẽ khác rất nhiều. Anh dự đoán trong 10–20 năm tới, tiếng nói của người Việt trong chính trường Hoa Kỳ sẽ phát triển theo hướng nào?

 

MTT9: Thưa Cô LB, nếu cộng đồng thực sự chuyển từ đấu tranh chính yếu bằng biểu tình sang việc tham gia dòng chính, đi bầu, xây dựng tổ chức và đào tạo thế hệ lãnh đạo, thì tôi khá lạc quan về 10–20 năm tới. Nhưng tôi sẽ gọi đây là một dự báo có điều kiện, chứ không phải điều chắc chắn.

 

Trong 5 năm đầu từ một cộng đồng được địa phương chú ý đến một cộng đồng được tính (count) đến”. Nếu được vậy, điều đầu tiên có thể thay đổi không phải là số dân cử gốc Việt, mà là thái độ của các chính trị gia đối với cộng đồng Việt. Nếu tỷ lệ đi bầu tăng đều, các văn phòng dân cử sẽ bắt đầu chủ động chú ý và tiếp xúc với cử tri Việt, tổ chức họp báo bằng tiếng Việt, quan tâm đến các vấn đề của khu vực có đông người Việt. Họ sẽ tuyển người Việt vào các văn phòng và cơ quan công quyền, và nhứt là tìm kiếm sự ủng hộ của cộng đồng trong các cuộc bầu cử.

 

Đó là lúc cộng đồng bắt đầu được nghe các vị dân cử hay ứng cử viên thốt lên: “Quý vị cần chúng tôi trong một liên minh dân cử hoặc liên minh cử tri.”

Đây là một thay đổi rất lớn. Tôi tin tưởng với tình hình cộng đồng hiện tại, thì khoảng 5–10 năm nữa sẽ xuất hiện một tầng lớp lãnh đạo mới, trong đó sẽ có từ school board, đến city council, qua county, state legislature, và sau cùng một số người trong số đó sẽ tiến lên cấp liên bang.

 

Nếu nhìn về 10-20 năm tới, tôi cũng dự đoán một sự thay đổi rất quan trọng cộng đồng. Tôi thấy cộng đồng sẽ bớt đi “đồng nhất”. Nghe có vẻ nghịch lý, nhưng tôi cho rằng đó là dấu hiệu sự trưởng thành, vì, trong 10–20 năm tới, người Việt có thể có: Người Cộng hòa - Người Dân chủ - Người độc lập - Người thiên về kinh tế - Người thiên về xã hội - Người đặc biệt quan tâm đến Việt Nam – Và người gần như chỉ quan tâm đến đời sống Hoa Kỳ.

 

Như vậy, một cộng đồng đa dạng về chính kiến nhưng có khả năng hợp tác, theo tôi, mạnh hơn một cộng đồng “đồng thuận” nhưng chia rẽ sâu sắc bên trong. Như vậy, mỗi người trong chúng ta, ngay từ bây giờ, cố gắng làm thế nào để cộng đồng thiểu số người Việt trở thành một cộng đồng công dân có năng lực chính trị đến mức bất kỳ chính quyền nào cũng phải coi tiếng nói của mình là một tiếng nói đáng được lắng nghe?

 

LB10: Thưa Tiến sĩ Mai Thanh Truyết, nhiều đồng hương mong muốn một hướng đi mới, nhưng chưa biết bắt đầu từ đâu để tạo thay đổi thật sự. Theo anh, điều cấp bách nhất mà cộng đồng người Việt hải ngoại cần thực hiện ngay hôm nay là gì để trở nên mạnh mẽ và hữu hiệu hơn trong cuộc đấu tranh cho tự do dân chủ Việt Nam?

 

MTT10: Tôi nghĩ có thể bắt đầu bằng ba việc rất cụ thể:

 

1- Lập một chương trình “Công dân Việt-Mỹ”: Đây không phải là thành lập một đảng phái, cũng không vận động chống hay ủng hộ một đảng, mà chỉ tập trung vào việc hướng dẫn đồng hương trong việc ghi tên đi bầu, tìm hiểu chính quyền địa phương hoạt động như thế nào, biết dân biểu, nghị sĩ của mình là ai, biết cách liên lạc với văn phòng dân cử, biết trình bày một vấn đề với một dân biểu bằng ngôn ngữ của chính trị Hoa Kỳ.

Đây chính là bước chuyển từ “người đi biểu tình” suốt 51 năm qua thành “người công dân có ảnh hưởng” đến chính trường Hoa Kỳ.

 

2- Đặt mục tiêu tăng tỷ lệ cử tri, chứ không chỉ tăng số người xuống đường: Ví dụ, một cộng đồng có 12.000 cử tri đủ điều kiện mà chỉ một phần nhỏ đi bầu thì 12.000 người ấy trên thực tế chưa tạo được 12.000 tiếng nói. Nhưng nếu cộng đồng có thể tổ chức để hàng ngàn người đi bầu đều đặn, các ứng cử viên sẽ bắt đầu nhìn cộng đồng Việt Nam bằng một con mắt khác. Đó là một vị thế hoàn toàn khác.

 

3- Quan trọng nhất là bắt đầu trao việc cho thế hệ trẻ: Đây mới là việc khó nhất thưa cô LB. Nếu thế hệ lớn tuổi cứ giữ vai trò lãnh đạo mãi, thế hệ trẻ sẽ đứng ngoài. Nhưng nếu chúng ta giao cho họ những việc thật như tổ chức ghi danh cử tri - voter registration, làm việc với văn phòng dân cử, tham dự hội đồng thành phố, vận động cộng đồng, tranh cử school board, city council, v.v… thì từ đó mới xuất hiện một thế hệ lãnh đạo mới.

Thế hệ đi trước không nhất thiết phải rời khỏi cuộc đấu tranh. Chỉ cần thay đổi vai trò thôi, từ người đứng đầu hàng ngũ thành người mở đường và cố vấn.

 

Câu hỏi của cô LB là “những việc mà cộng đồng người Việt hải ngoại cần thực hiện ngay hôm nay là gì để trở nên mạnh mẽ và hữu hiệu hơn trong cuộc đấu tranh cho tự do dân chủ Việt Nam?   Nếu mục tiêu cuối cùng vẫn là tự do và dân chủ cho Việt Nam, thì thay đổi phương pháp và truyền đạt lãnh đạo cộng đồng cho tuổi trẻ không có nghĩa là từ bỏ lý tưởng trên. Ngược lại, chúng ta đang tìm một phương thức hiệu quả hơn để biến lý tưởng thành ảnh hưởng thực tế. Nếu, 51 năm qua, chúng ta đã liên tục biểu tình để tạo tiếng vang, thì bây giờ cần xây dựng lại tầng lớp cử tri, có tổ chức, có lãnh đạo, có sân chơi là nghị trường, có chính sách, có ảnh hưởng đến dòng chính.

 

Và sau cùng, tiếng nói về Việt Nam cũng sẽ thay đổi, không còn chỉ là tố cáo, phản đối chế độ cộng sản suôn, mà có thể trở thành những công dân Hoa Kỳ gốc Việt đang tham gia vào việc hình thành chính sách của Hoa Kỳ đối với Việt Nam. Theo tôi, đó mới là bước trưởng thành lớn nhất của cộng đồng người Việt hải ngoại.

 

Và nếu Cô LB hỏi tôi phải bắt đầu ngay ngày mai, sau buổi nói chuyện ngày hôm nay bằng một việc làm gì, tôi sẽ nói rất đơn giản mà bất cứ một người Việt sống tại Hoa Kỳ đều có thể làm được là: “Hãy tập hợp một nhóm nhỏ những người có tâm huyết, không phân biệt Cộng Hòa hay Dân Chủ, đặt mục tiêu xây dựng văn hóa đi bầu và đào tạo thế hệ lãnh đạo trẻ. Hãy bắt đầu bằng câu hỏi “chúng ta muốn xây dựng được sức mạnh gì cho 10–20 năm tới?”

 

Một ngày nào đó, bất cứ chính quyền nào ở Hoa Kỳ cũng phải nhìn cộng đồng người Việt như một cộng đồng công dân có tổ chức, có tiếng nói, có lá phiếu và có trách nhiệm, một cộng đồng mà tiếng nói của họ có thể góp phần vào chính sách của Hoa Kỳ đối với Việt Nam. Đến lúc đó, “đấu tranh” không còn chỉ là phản đối một điều gì đó.

 

Đấu tranh mới và mở sẽ trở thành khả năng xây dựng một Việt Nam tương lai.

 

Thế hệ trước đã giữ ngọn lửa - Thế hệ hôm nay phải xây cây cầu - Và thế hệ mai sau, những Gen Z Việt Nam phải bước trên cây cầu ấy để đi vào tương lai.

Cảm ơn Cô LB đã điều hợp buổi phỏng vấn hôm nay.

 

Mai Thanh Truyết

Houston – Tháng 10 - 2026

 



https://drive.google.com/file/d/1HtDOf4VEBAbRFadu6sI7Lz0cw8h_poRF/view?usp=drive_link

https://drive.google.com/file/d/1k2Un82IF4nPefYuzJfAplCw3-Uf9roI8/view?usp=drive_link