Friday, September 11, 2026

 

Wabi và tôi.

 


Trong vòng năm năm trở lại, hàng ngày tôi thường dẫn con Wabi đi dạo các công viên chung quanh nhà. May mắn thay, khu nhà tôi ở trong vòng đường kính 5 mi. trở lại, có sáu công viên lớn nhỏ, có công viên đi bộ được 1,4 mi, có công viên, 1,6 mi. Đặc biệt có hai công viên có hồ nước lớn, có đèo dốc chênh lệch trên 20 mét, và khi đi giáp vòng cũng khoảng 3 mi. Đi bộ sớm, một thú vị của cuộc đời, nhứt là đối với người lớn tuổi như tôi, có dịp ngắm nhìn những giọt sương long lanh buổi sáng trên đầu các ngọn cỏ, ngắm nhìn những tia nắng chưa đủ làm nóng không khí vùng Houston, nắng ấm tình nồng...

 

Sau hơn năm năm, những con đường ấy hẳn đã trở thành một phần của đời sống hằng ngày của tôi với Wabi bên cạnh, cây cỏ hai bên đường, mặt hồ, những con dốc, và buổi sáng Houston còn dịu mát. Đối với người lớn tuổi, đó không chỉ là vận động cho thân thể, mà còn là một cách giữ cho tâm hồn tiếp tục nhìn thấy cái đẹp của cuộc đời.


Hình ảnh: “những giọt sương long lanh buổi sáng trên đầu các ngọn cỏ”. Có người vội vàng thường đi ngang qua mà không nhìn thấy. Chỉ có người biết dừng lại mới thấy được. Và có lẽ câu “Houston nắng ấm tình nồng...” còn gợi lên trong tôi một ý nghĩa khác hơn nữa là thiên nhiên không nói gì, nhưng lại âm thầm trả lời con người bằng … ánh sáng, làn gió, mặt nước, cây cỏ, và sự sống.

Ngay từ giây phút nầy, tôi nghĩ, đi bộ buổi sớm không phải chỉ để đi đến một nơi nào đó; đôi khi, đó là cách con người trở về với chính mình. Wabi có lẽ cũng không biết rằng mỗi ngày nó đang giúp tôi thực hiện một nghi thức rất đẹp của tuổi già, đi giữa thiên nhiên, nhìn sự sống, và biết ơn vì mình vẫn còn có mặt trên cuộc đời.

Buổi sáng bắt đầu rất đơn giản, một người lớn tuổi, song hành cùng một con chó, đi bộ trong công viên. Nhưng phía sau cái đơn giản ấy có rất nhiều lớp ý nghĩa khác nhau. Đi bộ để giữ gìn thân thể, nhưng nhờ Wabi, tôi có thêm kỷ luật để bước ra ngoài mỗi ngày. Tôi chăm sóc Wabi bằng thức ăn, snack, những khúc xí quách bò; nhưng khi nhìn Wabi vui vẻ gặm xương, chính tôi lại nhận được một niềm vui rất nhỏ mà rất thật.

Thành ra, câu chuyện không còn là “ai cho ai?” Và có lẽ đây là điều đẹp nhất mà tuổi tác đem lại, càng đi xa trên con đường đời, con người càng nhận ra rằng những điều quý giá nhất thường không phải những điều lớn lao. Một buổi sáng bình yên, một con vật thân yêu bên cạnh, một giọt sương trên ngọn cỏ, một tia nắng ấm... cũng đủ làm nên hạnh phúc của một ngày.

·         Tôi tưởng mình đang chăm sóc Wabi, nhưng Wabi giúp tôi biết trân quý từng buổi sáng.

·         Tôi tưởng mình đang ngắm thiên nhiên, nhưng thiên nhiên giúp tôi nhìn lại chính mình.

·         Và rồi tôi hiểu rằng, trên con đường của sự sống, không có ai hoàn toàn là người cho, cũng không có ai hoàn toàn là người nhận.

Tất cả đều là chúng sinh, cùng hiện hữu, cùng nương tựa, cùng làm cho đời sống của nhau có thêm một chút ý nghĩa. Vì vậy, tất cả đều đáng được trân quý.

Câu hỏi được đặt ra là, khi tôi dẫn Wabi đi dạo hàng ngày, là tôi "ban ơn" cho nó, hay chính nó là bồ tát của tôi, khiến cho tôi có kỷ luật cho chính mình để hưởng được thú vui ngắm nhìn thiên nhiên buổi sáng?


Nếu nhìn theo tinh thần Phật giáo, có lẽ Wabi mới chính là “bồ tát” của tôi, chứ không phải tôi đang ban ơn cho Wabi. Bởi vì nhìn bề ngoài, tôi dẫn Wabi đi dạo, cho nó vận động, hít thở không khí, nhìn cây cỏ. Nhưng khi nhìn sâu hơn, chính Wabi đã tạo cho tôi một kỷ luật hằng ngày. Nếu không có Wabi, có thể một buổi sáng nào đó, khi thức dậy, tôi sẽ nghĩ: “Hôm nay hơi mệt, thôi ở nhà.” Nhưng vì Wabi đang chờ, tôi mang dây ra, mở cửa, và hai “người” cùng bước đi.

Và rồi người tưởng mình đang dẫn lại được “dẫn đi”!

Wabi dẫn tôi ra khỏi căn nhà - Thiên nhiên dẫn tôi ra khỏi những suy nghĩ - Và sau cùng, chính tôi được dẫn trở về với chính mình.

Cho nên, tôi sẽ không gọi câu chuyện giữa Wabi và tôi là “ban ơn”. Tôi gọi đó là một mối tương duyên. Tôi cho Wabi cuộc đi dạo. Wabi cho tôi sức khỏe, kỷ luật và niềm vui. Thiên nhiên cho cả hai chúng tôi một buổi sáng. Không ai ban ơn cho ai cả.

Nếu dùng chữ “Bồ Tát” theo nghĩa thật đẹp và đời thường, thì Wabi quả thật có thể là một vị Bồ Tát rất nhỏ bé, có bốn chân, ngày nào cũng đến nhắc tôi: “Dậy đi chú! Thiên nhiên đang chờ.” Và có lẽ điều sâu sắc nhất là tôi tưởng mình đang chăm sóc một sinh vật khác, nhưng qua Wabi, cuộc đời đang chăm sóc lại chính tôi.

Mỗi buổi sáng, Wabi không cần nói: “Chú phải vận động đi.” “Chú phải ra ngoài hít thở không khí.” “Chú hãy nhìn những giọt sương kia.” Mà nó chỉ cần đứng đó, nhìn tôi. Và thế là tôi bước ra khỏi nhà, lên xe đi….


Rồi khi bước đi, tôi không còn chỉ nhìn Wabi nữa. Tôi nhìn mặt hồ, nhìn ngọn cỏ, nhìn ánh nắng, nhìn bầu trời Houston buổi sớm. Wabi đưa tôi đến thiên nhiên; thiên nhiên lại đưa tôi trở về với chính mình qua những giây phút tĩnh lặng. Tôi tưởng mình đang dắt Wabi đi dạo, nhưng thật ra Wabi đang dắt tôi đi qua những ngày tháng của tuổi già. Nó giúp tôi không để một ngày trôi qua hoàn toàn trong căn nhà với chiếc máy điện toán, “người tình hình chữ nhựt” của tôi. Nó cho tôi mỗi buổi sáng một lý do để thức dậy, mặc quần áo, mở cửa và bước ra ngoài. Và quan trọng hơn nữa, nó giúp tôi còn khả năng ngạc nhiên trước một giọt sương, một tia nắng, một mặt hồ.

Đến một lúc nào đó, ta mới nhận ra rằng, không phải tôi nuôi Wabi để nó được sống. Mà có lẽ Wabi đến trong đời tôi để giúp tôi tiếp tục sống một cách trọn vẹn.

Bồ Tát không nhất thiết phải hiện ra bằng một hình hài thiêng liêng. Đôi khi, Bồ Tát có thể đến rất bình thường, bốn chân, một cái đuôi, và mỗi sáng đứng trước cửa chờ mình. Để rồi nhiều năm sau nhìn lại, tôi còn có thể nói: “Tôi tưởng tôi đã cho Wabi một cuộc đời. Nhưng hóa ra, trong những năm tháng cuối của cuộc hành trình, Wabi đã tặng lại cho tôi biết bao buổi sáng.”

Wabi không cứu tôi khỏi những điều lớn lao của cuộc đời. Nó chỉ giúp tôi nhận ra rằng, ngay giữa những điều lớn lao ấy, cuộc đời vẫn đang trao cho tôi những niềm vui rất nhỏ đáng được trân trọng.

Và có khi đó chính là một trong những hình thức đẹp nhất của lòng biết ơn đối với sự sống. Có lẽ đó là “bài học Wabi” của buổi sáng hôm nay. Và cũng có thể là một bài học rất đẹp của cả một đời người.

Nói về chúng sinh


Nếu chúng ta tạm gác chữ “chúng sinh” ra khỏi hệ thống thuật ngữ Phật giáo, thì câu “tất cả là chúng sinh” có thể được hiểu như một nhận thức triết học rất rộng về sự sống và mối liên hệ giữa những hiện hữu. Theo nghĩa triết học, ta không cần bắt đầu bằng chuyện ai cao hơn, ai thấp hơn.

Con người sống - Wabi sống - Cây cỏ sống - Con chim sống – Con cá trong hồ sống. Mỗi cái sống ấy có một cách hiện hữu riêng, có nhu cầu riêng, có khả năng cảm nhận môi trường chung quanh tùy theo mức độ khác nhau.

Con người có ý thức về mình rất sâu. Wabi không có ngôn ngữ của con người, nhưng nó biết đói, biết vui, biết chờ đợi, biết gần gũi, biết sợ hãi, biết thương theo cách của nó, đôi khi con người không hiểu hay không cảm nhận được

Như vậy, cái khác nhau về mức độ và hình thức hiện hữu không có nghĩa là cái nầy vô giá trị còn cái kia có giá trị. Từ đó xuất hiện một vấn đề triết học rất quan trọng: “Giá trị của sự sống do ai quyết định?”

Con người thường vô tình lấy mình làm trung tâm như:

·         Một con chó được xem là “thú nuôi”;

·         Một cái cây được xem là “khúc gỗ”;

·         Một dòng sông được xem là “nguồn nước”;

·         Một khu đất được xem là “tài nguyên”.

Tất cả đều được nhìn qua công dụng đối với con người. Nhưng nếu chúng ta thay đổi góc nhìn, ta có thể hỏi: “Nếu một sự sống không mang lại lợi ích trực tiếp cho tôi, nó có còn đáng được tồn tại và trân quý hay không? Đây là lúc câu “tất cả là chúng sinh” trở nên rất lắng đọng và sâu thẩm! Chúng sinh không nhất thiết nói rằng mọi sinh vật giống nhau, mà sự sống không cần phải giống tôi, phục vụ tôi, hay hữu ích cho tôi thì mới có giá trị.

Và Wabi là một ví dụ rất cụ thể. Tôi cho Wabi ăn không phải vì Wabi có thể trả lại cho tôi một lợi ích tương đương. Mỗi lần tôi nhìn nó gặm một khúc xí quách khi tôi đi ăn phở về, tôi cảm thấy vui. Tại sao? Bởi vì trong khoảnh khắc ấy, niềm vui của một chúng sinh khác trở thành một phần niềm vui của chính tôi.

Đó là một bước chuyển rất lớn trong suy nghĩ trong tôi từ một “Wabi thuộc về tôi”, cho đến một “Wabi cùng sống với tôi”. Hai cách nhìn ấy hoàn toàn khác nhau, một bên là sở hữu, và một bên là đồng hiện hữu. Và đồng hiện hữu có lẽ là loại triết lý sâu nhất. Tứ đó, chắc chắn Wabi và tôi không sống trong hai thế giới riêng biệt. Chúng tôi giống nhau, vì:

·         Tôi đi bộ, Wabi cũng đi bộ;

·         Tôi nhìn mặt hồ,  Wabi cũng hiện diện bên hồ;

·         Tôi hưởng không khí buổi sáng, Wabi cũng hưởng không khí ấy;

·         Tôi vui khi nhìn nó gặm xương, và niềm vui của nó trở thành niềm vui của tôi.

Rồi cây cỏ, hồ nước, chim chóc, ánh nắng, con người và Wabi cùng nằm trong một hệ thống sống duy nhất, và không có một sinh vật nào hoàn toàn độc lập.

Ta sống nhờ vô số điều mà ta thường không nhìn thấy. Vì vậy, “tất cả là chúng sinh” có thể được đọc theo nghĩa, tôi không đứng ngoài sự sống để quan sát sự sống. Tôi là một phần của sự sống đang quan sát chính nó.

Tất cả là chúng sinh. Không phải vì tất cả giống nhau, mà vì tất cả đều đang hiện hữu theo cách riêng của mình. Con người không phải là trung tâm duy nhất của sự sống; con người chỉ là một phần của một thế giới sống rộng lớn hơn mình.

Khi ta biết nhìn một sinh vật khác không chỉ bằng giá trị nó đem lại cho ta, mà bằng chính sự hiện hữu của nó, ta bắt đầu biết thế nào là trân quý sự sống. Và có lẽ, đến cuối đời, điều đáng quý nhất của một đời người không phải là mình đã sở hữu được bao nhiêu, mà là mình đã biết trân quý bao nhiêu sự sống đã cùng mình cùng song hành đi qua cuộc đời.

Wabi không chỉ là một con chó, nó là một “người bạn đồng hành của sự sống”, và qua nó, tôi nhìn thấy một chân lý rất giản dị, mình sống không một mình.

Top of Form


Để rồi, buổi tản mạn sáng nay, từ Wabi đến những công viên, bước qua thiên nhiên, chiêm nghiệm về sự sống, cuối cùng, “tất cả là chúng sinh”, để cùng về với một điều rất giản dị: “Biết mình không phải là trung tâm của sự sống, con người sẽ biết sống khiêm nhường hơn, dịu dàng hơn, và biết trân quý hơn.

Có lẽ một buổi sáng đẹp nhất không phải là buổi sáng ta tìm được một câu trả lời lớn, mà là buổi sáng ta nhìn một con chó gặm khúc xương, nhìn một giọt sương trên ngọn cỏ, rồi chợt thấy cuộc đời đáng yêu biết bao.

Mai Thanh Truyết

Tâm bút – Tháng 9 -2026

Bottom of Form

 

Wednesday, September 9, 2026

 Ý nghĩa của những hàng chữ giữa các dòng chữ trong văn bản NQ25

 


Nghị quyết 23 ra đời ngày 2/8/2026. 20 ngày sau đó, NQ 25 ra đời, chỉ vài ngày sau khi thế hệ Gen Z Việt xuất hiện qua những tràng hoa tưởng niệm nạn nhân bị xe cán chết ở một cây bên vệ đường có mã số 55. Với hai bàn văn chi tiết của NQ23 và NQ25, người viết cố gắng “khai thị” để mong tìm thêm những ý nghĩa ẩn dấu sâu giữa những hàng chữ trong văn bản chính thức của nghị quyết. Nhưng để đọc được “những hàng chữ giữa các dòng chữ” của Nghị quyết 25, các lập luận và suy nghĩ tiếp theo dưới đây cũng chỉ là của một cá nhân đơn lẻ mong được chia sẻ cùng bạn đọc, vì đối với người viết, hai NQ23 và NQ25 rất quan trọng cho cả người Việt trong và ngoài nước, nhứt là giới trẻ, cũng như vận mệnh đất nước trong những ngày sắp đến.

Theo quan điểm cá nhân, khi đọc một nghị quyết chính trị của Việt Nam, có hai khía cạnh cần quan tâm:

·         Khía cạnh về chữ viết hay văn bản nói lên điều gì một cách chính thức.

·         Khía cạnh về “ hàm ý” mà trong văn bản không nói thẳng, nhưng có thể suy ra từ những chữ được lựa chọn, những điều được nhấn mạnh, điều cố ý không nói tới, sự thay đổi so với các nghị quyết trước, đối tượng thực sự mà văn bản hướng đến, và quyền lực thực tế được trao cho các cơ quan thi hành.

Trong toàn văn Nghị quyết 25 ngày 22/8, chúng ta có thể đọc theo một phương pháp khách quan hơn, chia thành các phần: - Văn bản nói gì? - Hàm ý chính trị nằm giữa các dòng chữ là gì? - Điểm nào thực sự là “mở”? - Điểm nào có thể chỉ là ngôn ngữ ngoại giao hoặc tuyên truyền? - Điều gì đã thay đổi so với Nghị quyết 23 mà chúng ta đã bàn? - Người Việt hải ngoại nên hiểu văn bản này như thế nào? - Và, trường hợp cá nhân, người viết nên đọc tín hiệu này ra sao?

Nếu chỉ đọc những mặt chữ trên trang giấy, đây là một nghị quyết về “Chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh mới”. Nhưng nếu đọc giữa các dòng chữ, đây là một văn bản có ý nghĩa sâu hơn, cho thấy một sự chuyển đổi quan trọng trong cung cách lãnh đạo nhìn nhận vấn đề tư tưởng, thông tin và niềm tin.

1-    Dòng chữ quan trọng nhất: Nhà nước thừa nhận cách làm cũ sau 51 năm có vấn đề

Xin lần lượt liệt kê dưới đây một đoạn mà người viết cho là rất đáng chú ý: “tư duy ‘quản lý thông tin’ còn phổ biến” và: “chuyển trọng tâm từ quản lý thông tin sang dẫn dắt nhận thức xã hội, củng cố niềm tin của Nhân dân, tạo đồng thuận xã hội” vẫn còn được lập đi lập lại trong cả hai văn bản. Đây không phải chỉ là thay đổi câu chữ. Nó là một sự tự phê bình về phương pháp. Chính văn bản thừa nhận rằng, chỉ kiểm soát thông tin là không đủ, chỉ ra lệnh hay tuyên truyền một chiều không còn hiệu quả, niềm tin không thể được tạo ra chỉ bằng mệnh lệnh, và trong thời đại Internet và mạng xã hội, Nhà nước cần phải cạnh tranh để giành uy tín, chứ không chỉ kiểm soát các luồng thông tin.

Điều trên được thể hiện rõ khi Nghị quyết nói đến công khai, minh bạch, đối thoại và tiếp thu phản biện xã hội.

Xin được diễn giảng khi đọc giữa các dòng trên, cho thấy những người quản lý đất nước hiểu rằng “quản lý” không còn đủ sức giữ xã hội ổn định nữa. Mà muốn giữ được niềm tin, phải thuyết phục người dân. Đây, mới là một trong những điểm mới đáng kể nhất của NQ25.

2- Nhưng “mở” không đồng nghĩa với “buông”

NQ25 nói rất nhiều về: đối thoại, phản biện, tiếp thu ý kiến, công khai thông tin, thuyết phục. Nhưng đồng thời, văn bản cũng nhấn mạnh việc bảo vệ nền tảng tư tưởng, an ninh tư tưởng, phát hiện sớm, cảnh báo, xác minh, truy nguồn, phản ứng khủng hoảng thông tin, xử lý nội dung vi phạm, đấu tranh với quan điểm “sai trái, thù địch” v.v… Đặc biệt hơn nữa, Nghị quyết đặt mục tiêu xây dựng một hệ thống dữ liệu, phân tích, cảnh báo sớm và sử dụng AI, dữ liệu lớn để theo dõi và xử lý các vấn đề tư tưởng và dư luận.

Vì vậy, “hàng chữ giữa các dòng” được suy diễn là, Việt Nam muốn chuyển từ mô hình kiểm soát thông tin thô sơ sang mô hình quản trị nhận thức tinh vi hơn. Và đây là một sự thay đổi phương pháp, nhưng mục tiêu bảo vệ hệ thống chính trị của đảng vẫn được giữ nguyên. Hay nói một cách khác:“ Mở” ở phương pháp; chưa chắc “mở” ở giới hạn tư tưởng.

Đó là điểm cần phân biệt thật rõ.

3- Nghị quyết lần này nói thẳng về “niềm tin”

NQ25 nhiều lần dùng chữ “niềm tin của Nhân dân là thước đo cao nhất”. Đây là một câu rất đáng suy nghĩ. Trước đây, một hệ thống chính trị có thể nhấn mạnh đi đúng đường lối, đúng tổ chức, đúng kỷ luật, đúng quan điểm. Nhưng ở đây xuất hiện một tiêu chuẩn khác nói về niềm tin của người dân.

Điều đó có nghĩa gì? Có phải, lãnh đạo hiện nay đã nhìn thấy một vấn đề căn bản là sự ổn định chính trị lâu dài không thể chỉ dựa vào quyền lực, mà còn phải dựa vào sự tin tưởng. Và niềm tin không thể được ban hành bằng nghị quyết. Mà niềm tin phải được tạo ra bằng hành động, minh bạch, công lý, đối thoại, khả năng sửa sai, và cách đối xử với những người bất đồng chính kiến.

Đây chính là nơi mà NQ25 sẽ bị thử thách qua kết quả sau khi được khai triển và thực thi.

4- Thêm một câu chữ đáng chú ý: “Đối thoại và tiếp thu phản biện xã hội”

Nghị quyết viết “tăng cường đối thoại và tiếp thu phản biện xã hội”, và yêu cầu “mỗi chủ trương, chính sách lớn phải đánh giá tác động về tư tưởng và phương án tuyên truyền, giải thích, đối thoại.” Nếu Đảng và Nhà nước thực hiện đúng tinh thần câu này, đây có thể là một thay đổi lớn. Nhưng vấn đề nằm ở một câu hỏi: Ai được quyền phản biện?

Nếu “phản biện” chỉ là những người đã đồng ý sẵn với chính sách phản biện về kỹ thuật và đã được quy định, nghĩa là phản biện có “quy trình”, thì đó chưa phải phản biện thực sự. Phản biện thật sự phải bao gồm cả những người có quan điểm khác, những trí thức độc lập, người Việt nằm ngoài hệ thống, và, ở một mức độ nhất định, người Việt ở hải ngoại.

Đây chính là phép thử lớn cho đảng!

Nếu NQ25 chỉ dùng chữ “đối thoại”, nhưng vẫn loại trừ người có ý kiến khác, thì “đối thoại” chỉ là một kỹ thuật tuyên truyền mà thôi. Ngược lại, nếu họ thực sự lắng nghe những người từng bất đồng nhưng có thiện chí với đất nước, thì NQ25 có thể mở ra một chương mới. Điều sau cùng nầy vẫn là một chấm hỏi lớn.

5- Điểm liên quan trực tiếp đến người Việt hải ngoại

NQ25 không chỉ nói đến công tác tư tưởng “ở trong nước”, mà lặp đi lặp lại nhiều lần, “ở trong nước và ngoài nước”, và đặt mục tiêu xây dựng mạng lưới trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.

Phần 7 trong NQ25 còn ghi rõ là: - Đẩy mạnh thông tin, tuyên truyền đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài - Xây dựng mạng lưới nòng cốt gồm trí thức, doanh nhân, văn nghệ sĩ, nhà báo, người lao động và sinh viên - Hỗ trợ hội đoàn và truyền thông tiếng Việt, - Khơi dậy niềm tự hào và sự đóng góp cho đất nước.

“Giữa các dòng chữ” trên, người viết đọc thấy một điều là người Việt hải ngoại không còn chỉ được nhìn như một đối tượng vận động kiều bào, mà họ đang được đặt vào một chiến lược thông tin và tư tưởng rộng hơn. Đây là điểm vừa có mặt tích cực, vừa có mặt cần theo dõi.

Về mặt tích cực, nếu được thực hiện với tinh thần rộng mở, trí thức hải ngoại có thể được lắng nghe, mối liên quan giữa trong và ngoài có thể thực dụng và bình đẳng hơn, Việt Nam có thể tận dụng tri thức của cộng đồng hải ngoại, và những người từng ở hai phía đối nghịch có thể cùng đóng góp cho tương lai.

Nhưng mặt cần thận trọng cần nên chú ý là, nếu “xây dựng mạng lưới nòng cốt” trở thành một cơ chế phân loại ai là người “tích cực”, ai là người “không tích cực”, thì nó có thể tạo thêm chia rẽ. Đây là điểm mà NQ25 chưa có ngôn từ nào trong văn bản ghi rõ.

6- Nhà nước muốn “hiểu với đảng” trước khi xã hội phản ứng

Các cụm từ dự báo, cảnh báo sớm, phân tích dữ liệu, AI, dữ liệu lớn, phát hiện sớm, xử lý từ cơ sở, không để tích tụ thành điểm nóng v.v… xuất hiện nhiều lần trong cả hai văn bản. Khi đọc giữa các dòng, chúng ta thấy, họ không muốn chờ khủng hoảng xảy ra rồi mới giải quyết. Họ muốn biết tâm trạng, tình trạng của xã hội trước khi nó biến thành khủng hoảng.

Đây là một tư duy quản trị hiện đại, nhưng nó có hai phương hướng:

·         Hướng tốt: Nhà nước nghe được tiếng nói của dân sớm hơn và sửa chữa chính sách.

·         Hướng xấu: Nhà nước phát hiện sự bất mãn sớm hơn để kiểm soát hay triệt tiêu nó.

NQ25 đang thể hiện và dung chứa cả hai khả năng trên! Chỉ biết wait and see mà thôi!

7- Có một “mâu thuẫn sáng tạo” trong NQ25

Nghị quyết đồng thời nói, một bên là công khai, minh bạch, đối thoại, tiếp thu phản biện, và một bên, nói “bảo vệ nền tảng tư tưởng, an ninh tư tưởng, phản bác, xử lý vi phạm”. Đây là hai lực tréo ngược nhau, nếu bên thứ hai thắng tuyệt đối sẽ biến NQ25 chỉ là một NQ kiểm soát thông tin bằng công nghệ hiện đại hơn. Nếu bên thứ nhất thực sự được thực hiện, NQ25 có thể là bước chuyển từ tuyên truyền sang quản trị niềm tin.

Đó là “ngã ba đường” của NQ25.

8- Có thể nào vụ Nguyễn Sỹ Cương và phản ứng của phong trào Gen Z khiến cho Việt Nam cần mở hơn nữa chằng?

 

Xin trích báo chí trong nước:”GEN Z DÍ ĐẾN CÙNG: VTV PHẢI XÓA, SỬA, ĐĂNG LẠI LIÊN TỤC


Chưa đầy 24 giờ sau khi bản phóng sự về vụ Nguyễn Sỹ Cương lên sóng, VTV rơi vào tình thế mà có lẽ họ chưa từng lường trước. Gen Z bắt đầu bóc tách từng chi tiết, chỉ ra từng điểm phi lý, từng lỗ hổng logic trong nội dung được dàn dựng. Áp lực lớn đến mức nhà đài phải xóa bài, chỉnh sửa, đăng lại, rồi lại tiếp tục lặp lại quy trình đó nhiều lần.

Đây là điều đáng chú ý về mặt hiện tượng xã hội. Trước đây, khi truyền thông nhà nước phát sóng một nội dung, phản ứng thường chỉ dừng lại ở việc bàn tán, chia sẻ, đôi khi là chỉ trích trong phạm vi hạn chế. Nhưng lần này, phản ứng không chỉ là chỉ trích. Nó là một quá trình phân tích chi tiết, có hệ thống, nơi từng câu nói, từng hình ảnh, từng khung cảnh trong phóng sự đều bị soi xét kỹ lưỡng để tìm ra sự vô lý.

Đó là một hình thức phản biện đòi hỏi kỹ năng phân tích thông tin ở mức độ cao, không phải chỉ là cảm xúc bột phát….”

Như vậy, câu trả lời là rất có thể, và theo tôi đây là một giả thuyết khá đáng chú ý, vì có một sự trùng hợp thời điểm rất đáng suy nghĩ. Vụ Nguyễn Sỹ Cương và làn sóng phản ứng của Gen Z Việt đã trở thành một vấn đề công khai đáng kể trong tháng 8/2026, mặt dầu sự kiện đã xảy ra hơn một năm trước đó. Sức ép trên mạng xã hội đã khiến chính quyền lần đầu công khai xác nhận danh tính người lái xe sau nhiều tuần tranh luận; tuy nhiên, phản ứng công chúng không chấm dứt mà tiếp tục xoay quanh các câu hỏi về minh bạch, công lý và trách nhiệm giải thích.

NQ25 được ký ngày 22/8/2026, chỉ ít ngày sau khi làn sóng tranh luận về sự việc này lên cao. Người viết không thấy bằng chứng công khai để khẳng quyết rằng “vụ Nguyễn Sỹ Cương đã trực tiếp gây ra NQ25”. Nói như vậy sẽ là suy đoán quá mức. Nhưng sự kiện này có thể đã trở thành một tín hiệu thực tế rất mạnh, củng cố nhận thức rằng phương pháp cũ để kiểm soát người dân trong và ngoài nước… không còn đủ hiệu quả nữ.

Điều đáng chú ý hơn cả là phản ứng của thế hệ trẻ. Gen Z không bắt đầu bằng khẩu hiệu chính trị lớn, mà bắt đầu bằng những câu hỏi rất cụ thể:

  • Tại sao sự việc không được minh bạch ngay từ đầu?
  • Tại sao người có địa vị lại được xử trí như vậy?
  • Cơ sở pháp lý của việc miễn trách nhiệm hình sự là gì?
  • Tại sao đòi công bằng lại bị nghi ngờ hoặc gán cho động cơ chính trị?

Các phân tích gần đây về làn sóng này đều ghi nhận một điểm chung về sự quan tâm của người trẻ tập trung nhiều vào công lý, minh bạch, bình đẳng trước pháp luật và trách nhiệm giải thích, chứ không nhất thiết là một chương trình thay đổi chế độ. Và, đây mới là điều có thể khiến Việt Nam phải suy nghĩ lại sâu hơn.

Có thể nói một cách đơn giản là Gen Z đang tạo ra một thực tế mà NQ25 buộc phải đối diện, càng khó buộc người ta tin, càng phải học cách thuyết phục họ. Như vậy, đây có thể là một “cú cảnh báo thực tế” cho đảng và nhà nước cộng sản. Những phản ứng như vụ Nguyễn Sỹ Cương cho thấy một thực tế xã hội mới đang hình thành, và chính thực tế đó có thể làm cho nhu cầu chuyển từ “quản lý” sang “thuyết phục” của Nghị quyết trở nên cấp bách hơn.

9- Suy nghĩ cá nhân

Theo suy nghĩ chủ quan khi phân tích hai NQ 23 và NQ25, tôi, một người sinh hoạt ở hải ngoại, có lịch sử hoạt động lâu dài, có quan điểm độc lập và đôi khi phê phán, nhưng vẫn quan tâm đến tương lai Việt Nam, xin thử tự nhận là một trường hợp thử nghiệm cho tính chân thực của tinh thần “đối thoại” trong NQ25.

Nếu tinh thần hai nghị quyết mới là thật, thì không nên được đánh giá trước hết bằng quá khứ hoặc bằng việc đã từng bất đồng với Nhà nước. Điều đáng tự hỏi phải là, tôi đã nói gì về đảng và nhà nước Việt Nam? Nói có căn bản khoa học hay không? Có thiện chí hay không? Có lợi cho đất nước hay không? Và có thể đối thoại với trong nước hay không?

Và tôi nghĩ, điều quan trọng nhất bây giờ không phải là vội tin hay vội bác bỏ. Hãy quan sát hành động của Việt Nam. Nghị quyết có thể nói rất hay, nhưng chỉ cách họ đối xử với một người có quan điểm độc lập mới cho chúng ta biết chữ “mở” có thật hay không, hay mở lớn hay nhỏ như thế nào!

Việc Nghị quyết tự thừa nhận hạn chế của tư duy “quản lý thông tin” và chủ trương chuyển sang “dẫn dắt nhận thức”, “củng cố niềm tin”, “đối thoại”, “tiếp thu phản biện” v.v… là một thay đổi đáng chú ý về mặt nhận thức. Đó là sự thừa nhận rằng, trong xã hội hiện đại, quyền lực có thể kiểm soát hành vi, nhưng không thể ra lệnh cho người dân phải tin. Nếu một khi nghị quyết nói “lấy thuyết phục làm phương thức chủ đạo”, thì người có ý kiến khác biệt về chính trị không thể mặc nhiên bị xem là đối tượng cần loại trừ.

Cảm nhận sau cùng của tôi là “Mật độc hay mật ngọt?”

Trước tiên, không nên xem và kết án NQ25 là “mật độc”. Nhưng, hiện nay, cũng chưa có đủ chứng cớ để gọi đó là “mật ngọt”. Hiện nay, qua NQ25, Đảng và nhà nước Việt Nam chưa thể hiện một chỉ dấu tích cực nào chứng tỏ NQ25 là một lời hứa chiến lược rất lớn. Và, muốn biết lời hứa đó thật hay không, phải nhìn vào 5 dấu hiệu trong thực tế:

·         Có thực sự cho phép đối thoại với người bất đồng không?

·         Có tiếp thu phản biện độc lập không?

·         Có phân biệt giữa phản biện và chống phá không?

·         Có sửa sai công khai một khi chính sách sai lầm không?

·         Có đối xử với người Việt hải ngoại như những người cùng có quyền góp ý cho tương lai dân tộc hay chỉ như đối tượng cần vận động?

Nếu câu trả lời cho năm câu hỏi trên là “”, thì NQ25 có thể xem như là một bước chuyển thực sự. Còn nếu không, những chữ đẹp như “đối thoại”, “niềm tin”, “thuyết phục”, “phản biện” có thể chỉ trở thành ngôn ngữ mới cho một phương thức quản lý cũ mà thôi.

Đó là cách người viết đọc những hàng chữ giữa các dòng chữ của NQ25. Người viết cũng chưa thấy đủ để kết luận rằng sự thay đổi đó đã trở thành một chính sách “mở” thực sự đối với tư tưởng độc lập và người có quan điểm khác biệt.

Vì vậy, quan điểm cuối cùng là hãy cho NQ25 một cơ hội để chứng minh bằng hành động, nhưng đừng trao niềm tin vô điều kiện trước khi những hành động tích cực của nghị quyết xuất hiện và đã được chứng minh.

Mai Thanh Truyết

Houston – Tháng 9-2026

 

 

 

 

Sunday, September 6, 2026

 Suy nghĩ sau cùng về Nghị quyết 23

 

Có một hiện tượng gọi là “đồng nhất hóa chính trị. Một số người không phân biệt được Nhà nước Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam, và Dân tộc Việt Nam. Khi họ không đồng ý với Đảng hoặc Nhà nước, họ có thể vô thức chuyển sang phủ nhận luôn mọi chính sách liên quan đến Việt Nam. Ngược lại, cũng có người mắc lỗi đánh đồng hiện tượng, tức là một khi ủng hộ Việt Nam, tức nhiên phải ủng hộ NQ23. Cả hai đều không phải là suy nghĩ phản biện.

 

Một nghị quyết có thể có điểm tích cực, điểm đáng hoan nghênh, điểm chưa rõ, điểm cần cảnh giác, và những vấn đề phải chờ xem cách thực thi. Một người có suy nghĩ độc lập phải có khả năng nói “đồng ý điểm này, không đồng ý điểm kia, và điểm nọ cần phải điều chỉnh để thích hợp với hoàn cảnh hiện tại v.v…”

Thiết nghĩ, tiến trình hòa hợp dân tộc thật sự không bắt đầu từ một nghị quyết, một khẩu hiệu hay một nghi thức chính trị. Nó phải bắt đầu từ một sự thay đổi trong cách người Việt nhìn người Việt.

1-    Hòa hợp phải bắt đầu từ sự thừa nhận con người của nhau:

Điều đầu tiên cần nói là, không ai có độc quyền về lòng yêu nước. Nếu chúng ta bắt đầu hòa hợp bằng câu hỏi:“Anh thuộc phe nào?” thì hòa hợp sẽ không bao giờ xảy ra.

Nhưng nếu bắt đầu bằng câu hỏi: “Dù quá khứ khác nhau, hôm nay chúng ta có thể cùng nghĩ, nói, hỏi với nhau, và làm gì cho tương lai Việt Nam?” thì cánh cửa của một thời đại mới mới có thể mở ra.

2-    Phải có can đảm nhìn thẳng vào quá khứ, nhưng không trở thành tù nhân của quá khứ:

Hòa hợp không có nghĩa là bắt mọi người quên đi. Không ai có quyền bảo một người đã mất cha, mất con, mất gia đình hoặc mất cả cuộc đời hãy quên đi để hòa hợp. Đó không phải hòa hợp. Đó là áp đặt.

Nhưng ngược lại, chúng ta cũng không thể để nỗi đau của thế hệ trước trở thành bản án vĩnh viễn cho các thế hệ sau. Lịch sử cần được nhìn lại một cách trung thực. Những sai lầm cần được thừa nhận, những đau thương cần được tôn trọng, những ký ức trong quá khứ cũng cần nên giữ lại, vì… tất cả là một phần lịch sử cận đại của dân tộc việt. Nhưng sau khi nhìn lại lịch sử, dân tộc phải biết tự hỏi:”Chúng ta sẽ mang bài học nào từ quá khứ để không tiếp tục phá hủy tương lai? Đó mới là tinh thần hòa giải thực sự.

Và điều nguy hiểm nhất là, mỗi bên đều có thể tin rằng chỉ mình mình mới là người yêu nước thật sự, mới là chính nghĩa! Khi một dân tộc còn dùng nhãn hiệu để thay thế cho đối thoại, thì chưa thể hòa hợp. Đó là lúc đối thoại chết. Và khi đối thoại chết, chỉ còn định kiến, muôn đời ngăn chia.

3-    Hòa hợp phải bắt đầu bằng sự tôn trọng quyền bất đồng:

Một dân tộc trưởng thành không phải là một dân tộc trong đó mọi người cùng nói một tiếng nói. Một xã hội trưởng thành là xã hội trong đó hai người có thể nói:“Tôi không đồng ý với anh, nhưng tôi vẫn tôn trọng quyền của anh được suy nghĩ khác tôi.” Do đó, thiết nghĩ, người Việt cần học cách phân biệt: - Bất đồng không phải là thù địch - Phê phán chính quyền không mặc nhiên là chống dân tộc - Ủng hộ một chính sách nào đó không mặc nhiên là tay sai của cộng sản - Sống ở hải ngoại không có nghĩa là hết yêu quê hương - Sống trong nước cũng không có nghĩa là không có quyền suy nghĩ khác – Và, khi chúng ta hiểu được những điều đơn giản ấy, hòa hợp dân tộc mới có nền móng và có thể phát triển trong tinh thần bao dung và tôn trọng lẫn nhau.

4- Tương lai phải thuộc về thế hệ trẻ:

Thế hệ trẻ Việt Nam hôm nay không thể tiếp tục sống mãi trong cuộc chiến mà họ không trực tiếp trải qua. Họ cần được biết lịch sử, nhưng không bị bắt buộc phải kế thừa lòng thù hận. Họ cần biết cha ông đã đau khổ thế nào, nhưng không phải để tiếp tục chia rẽ dân tộc. Họ cần tách bạch rõ ràng ký ức lịch sử đau buồn của dân tộc và tướng lai dân tộc hướng về phía trước. Họ cần hiểu, quá khứ là nơi để học lịch sử, chứ không phải nơi để sinh sống mãi mãi, vái lạy hàng năm!

Một Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới phải là một Việt Nam trong đó người trẻ có thể gặp nhau, hợp tác với nhau, đối thoại trong tinh thần tôn trọng lẫn nhau, và sau cùng, tranh luận với nhau và cùng xây dựng đất nước mà không cần đât vấn đề gia phả của anh, hay của tôi từ nơi đâu!

5- Và sau cùng: hòa hợp phải được chứng minh bằng hành động, không phải bằng lời kêu gọi hay khẩu hiệu:

Muốn hòa hợp thật sự, cần tạo ra những không gian cụ thể để người Việt cùng làm việc trong nhiều lãnh vực như: khoa học và giáo dục; môi trường; kinh tế và công nghệ; y tế và an sinh; văn hóa và lịch sử; bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia; đào tạo thế hệ trẻ. Khi hai người Việt cùng nhau giải quyết một vấn đề chung, họ sẽ dần nhận ra rằng, điều chúng ta có chung lớn hơn nhiều điều trong qua khứ và hiện tại… đang chia rẽ chúng ta.

Một điều tiên quyết là hòa hợp dân tộc phải bắt đầu từ sự từ bỏ độc quyền yêu nước. Và rào cản lớn nhất là tâm lý cho rằng người có suy nghĩ khác mình thì người đó không còn là người cùng một dân tộc. Chúng ta có thể có những ký ức khác nhau, những quan điểm khác nhau, thậm chí những đánh giá khác nhau về lịch sử, nhưng chúng ta không thể có một tương lai tốt đẹp nếu tiếp tục xem nhau là kẻ thù.

Dứt khoát là phải xóa bỏ suy nghĩ trên nếu muốn kết hợp dân tộc.

Và có lẽ, thông điệp mạnh nhất hướng về thế hệ trẻ là:“Hãy giữ ký ức, nhưng đừng nuôi thù hận. Hãy tôn trọng lịch sử, nhưng đừng làm tù nhân của lịch sử. Hãy tranh luận để tìm ra con đường tốt hơn, nhưng, quan trọng hơn cả là… đừng biến người Việt thành kẻ thù của người Việt.”

Đó, mới có thể là điểm khởi đầu thật sự của một cuộc hòa hợp dân tộc, và của một kỷ nguyên mới cho Việt Nam.

Mai Thanh Truyết

Tháng 9-2026