Sunday, February 22, 2026

 

Phép chiếu ngược – Quán chiếu – Retroject

Một cạm bẫy nhận thức trong phê phán lịch sử - Phần I

Retroject theo Google - Định nghĩa: Chiếu một điều gì đó vào quá khứ, hoặc đưa một yếu tố không phù hợp với thời đại vào bối cảnh lịch sử. Nguồn gốc: Đây là một từ được tạo ra vào thế kỷ 19 (khoảng năm 1850), được hình thành từ tiền tố retro- ("ngược lại") và -ject (từ tiếng Latinh jacere, "quăng đi"). Ý nghĩa: Retroject mô tả hành động đặt những ý tưởng, đồ vật hoặc từ ngữ hiện đại vào một thời kỳ mà chúng chưa từng hiện hữu.

(Definition: To project something into the past, or to insert something anachronistically into a historical context. Origin: It is a 19th-century word (coined around 1850), formed from the prefix retro- ("backwards") and -ject (from Latin jacere, "to throw"). Meaning: It describes the action of placing modern ideas, objects, or words into a time period where they did not exist.)

Retroject (thường được hiểu gần với projection ngược hay hồi chiếu hay quán chiếu trong ý nghĩa của Phật giáokhông phải là một thuật ngữ chuẩn duy nhứt, mà là cách dùng linh hoạt trong tâm lý học, xã hội học, lịch sử tư tưởng và phê bình nhận thức.

Trong các cuộc tranh luận về lịch sử, chính trị và chính sách công, đặc biệt tại các xã hội đang chuyển đổi như Việt Nam, ta thường gặp một hiện tượng tưởng như hợp lý nhưng thực chất rất nguy hiểm: dùng tri thức và chuẩn mực hiện tại để phán xét, kết án các quyết định của quá khứ. Hiện tượng này có thể gọi là Retroject – phép chiếu ngược.

Retroject không chỉ là một sai lệch nhận thức đơn thuần, mà còn là một sai lệch đạo đức và phương pháp luận, làm nghèo khả năng học hỏi từ lịch sử và cản trở đối thoại cải cách.

1- Retroject là gì?

Một sai lầm phổ biến trong phân tích lịch sử và chính sách là hiện tượng retroject – tức chiếu ngược hệ giá trị và tri thức hiện đại lên những quyết định được hình thành trong bối cảnh hoàn toàn khác.”

Retroject có thể hiểu là: “Quá trình chiếu ngược các khái niệm, hệ giá trị, chuẩn mực đạo đức và tri thức khoa học của hiện tại về quá khứ, rồi dùng chính sự chiếu ngược đó để đánh giá, biện minh hoặc kết án các hành vi lịch sử.”

Nói cách khác là yêu cầu người của hôm qua phải suy nghĩ và hành động như người của hôm nay.

Điểm cốt lõi của Retroject không nằm ở việc “phê phán”, mà nằm ở sự thiếu ý thức về bối cảnh về trình độ tri thức lúc bấy giờ, về điều kiện kinh tế, xã hội, cũng như áp lực chính trị, chiến tranh, sinh tồn…

Nói cho gọn là dùng cái biết hôm nay để áp đặt lên cái đã xảy ra hôm qua.

Tiếng Việt có thể diễn đạt như: Phép chiếu ngược - Hồi chiếu nhận thức - Áp đặt ngược thời gian - Diễn giải hồi cố mang tính áp đặt.

2- Phân biệt Retroject với các khái niệm gần gũi

2.1- Retroject khác với  Thiên kiến hồi tưởng - Hindsight bias

  • Hindsight bias: “Tôi biết trước là nó sẽ xảy ra.”
  • Retroject: “Họ đáng lẽ phải suy nghĩ và hành xử giống như chúng ta hôm nay.”

 

Vì vậy, Retroject mang tính cách nghiêm trọng hơn, vì retroject không chỉ sai lệch nhận thức mà còn sai lệch đạo đức và lịch sử.

2.1- Retroject khác với Quán chiếu tâm lý - Projection

  • Projection: chiếu cảm xúc của mình lên người khác
  • Retroject: chiếu hệ giá trị của thời đại sau lên thời đại trước

 

3- Retroject trong lịch sử và chính trị Việt Nam

Trong các tranh luận về lịch sử cận đại Việt Nam, Retroject xuất hiện dưới nhiều hình thức như phán xét các quyết định thời chiến bằng tiêu chuẩn quản trị thời bình, kết án chính sách kinh tế tập trung mà không đặt trong bối cảnh hậu thuộc địa, cấm vận, chiến tranh kéo dài, và nhứt là đòi hỏi các nhà lãnh đạo quá khứ phải hành xử theo chuẩn mực dân chủ, nhân quyền của thế kỷ XXI. Điều này không sai về mặt giá trị, nhưng sai về phương pháp nếu thiếu bối cảnh về thời điểm của quá khứ. Nhưng từ đó đưa đến hệ quả là lịch sử bị đạo đức hóa cực đoan, và người học lịch sử hôm nay học cung cách kết án, nhưng không học cách hiểu và cải sửa những gì đã xảy ra trong quá khứ.

Ví dụ điển hình:

  • Phê phán các nhân vật lịch sử vì không tôn trọng nhân quyền theo chuẩn thế kỷ XXI.
  • Lên án xã hội nông nghiệp truyền thống vì không bình đẳng giới theo chuẩn hậu hiện đại của thời phong kiến.

Vấn đề không nằm ở phê phán, mà ở chỗ phê phán mà không đặt đúng trong bối cảnh lịch sử và xã hội của thời đó. Từ đó, đưa đến hệ quả là biến lịch sử thành công cụ đạo đức hóa làm mất khả năng học bài học thực tế từ quá khứ. Sau cùng, tạo ra ảo tưởng rằng “chúng ta đạo đức hơn, thông minh hơn”… người xưa!

4- Retroject trong khoa học và chính sách

Trong phân tích chính sách đặc biệt về môi trường, y tế, giáo dục, đem áp dụng tiêu chuẩn khoa học hiện tại để kết án những quyết định xảy ra trong quá khứ, trung lúc quên đi trình độ công nghệ lúc đó bị hạn chế dữ liệu, xã hội bị nhiều áp lực chính trị và kinh tế. Chính suy nghĩ trên làm nghèo khả năng cải cách, vì chỉ trích thì dễ, nhưng hiểu đúng điều kiện hình thành chính sách ở thời điểm xưa thì khó.

Nếu không ý thức về Retroject, ta dễ rơi vào phê phán đạo đức rỗng mà không rút ra được bài học thể chế thực tế

Muốn phê phán đúng đắn phải trả lời hai câu hỏi riêng biệt:

  1. Vì sao chính sách đó hình thành trong bối cảnh đó?
  2. Hôm nay, với điều kiện khác, ta cần làm gì để không lặp lại những lỗi lầm cũ?

 

5- Retroject trong đời sống xã hội và đạo đức

Trong gia đình và giáo dục: Cha mẹ bị phán xét vì không “nuôi dạy con cái dựa theo khoa học”, trong khi họ hành động theo tri thức và điều kiện thời họ sống và chúng ta phán xét về quá khứ, thời của cha mẹ.

Trong đạo đức: Retroject dễ biến thành một loại chủ nghĩa đạo đức ngược thời gian
(moral anachronism).

6- Cách sử dụng khái niệm Retroject một cách lành mạnh

Trong xã hội ngày nay, chúng ta không nhắm mục tiêu là để tránh phê phán, mà là để phê phán đúng cách. Đo đó, cần phải tách bạch hai câu hỏi:

    • Họ đã làm gì, trong bối cảnh nào?
    • Nếu hôm nay làm lại, ta sẽ làm khác ra sao?

 

Từ đó, việc phê phán sẽ hướng về tương lai, mà không cần phải kết án quá khứ, và nhứt là tránh được ngôn ngữ kết tội đạo đức tuyệt đối

7- Mối liên quan tinh thần xây dựng, không hận thù

Hiện tại, chúng ta ngồi lại, phê phán những chính sách của người xưa đã được áp dụng trong quá khứ, nhưng không quy kết con người, nhìn lỗi của hệ thống hành chánh trong hoàn cảnh một xã hôi phong kiến trong việc phân tích và nhận định lịch sử. Nhưng điều nầy không có nghĩa là không quy kết con người hay nhóm người một khi “lỗi hệ thống, lỗi cơ chế” liên tục xảy ra trong một thời gian dài, và trong nhiều “thời đại” khác nhau!

Tránh Retroject không có nghĩa là dung túng cho sai lầm, mà là phê phán để cải cách, không để kết án lịch sử. Nhận thức được Retroject ở một chiều sâu hơn nữa, điều đó có thể giúp ta khiêm tốn hơn với quá khứ, có nhiều trách nhiệm hơn với hiện tại, và nhìn tương lai với cặp mắt nhân bản hơn.

8- Thay lời kết

Retroject là một cạm bẫy phổ biến của trí thức và người làm chính sách. Đó là cạm bẫy của kẻ đến sau nhưng tưởng mình đứng cao hơn, hiểu rõ vấn đề hơn!

Thiết kế ngược là gì? Giải pháp quét 3D cho thiết kế ngượcMột xã hội trưởng thành không phải là xã hội không có sai lầm trong quá khứ, mà là xã hội biết nhìn quá khứ như một bài học, chứ không như một bị cáo. Tránh Retroject chính là điều kiện cần để đối thoại lịch sử một cách lành mạnh hơn, cải cách chính sách hiệu quả hơn, và hàn gắn xã hội trong tương lai một cách thiết thực và có tính cách xây dựng.

Trong bối cảnh Việt Nam, Retroject thường xuất hiện khi thể hiện một tầm nhìn chủ quan như:

  • Đánh giá các quyết định thời chiến hoặc hậu chiến bằng tiêu chuẩn quản trị thời bình;
  • Phê phán chính sách kinh tế tập trung hay công nghiệp hóa sớm mà không xét đến điều kiện nghèo đói vì chiến tranh triền miên, và khả năng kiến thiết và xây dựng quốc gia trong tâm trạng của một lính chiến còn ám ảnh khói súng … hận thù!
  • Áp dụng tiêu chuẩn môi trường, y tế, giáo dục hiện đại để phủ định toàn thể chính sách quá khứ, thay vì rút bài học thể chế trong một giai đoạn lịch sử.

 

Vấn đề của Retroject không nằm ở phê phán, mà nằm ở chỗ tách rời bối cảnh lịch sử. Khi đó, lịch sử bị biến thành một tòa án đạo đức, còn phân tích chính sách trở thành sự kết án hơn là tìm kiếm con đường cải sửa.

Một cách tiếp cận lành mạnh là tách hai tầng lớp phân tích tách bạch Như:

  1. Thấu hiểu và thông cảm các quyết định quá khứ trong bối trường hợp tri thức bị hạn chế, tâm thức “nô lệ”, nguồn lực còn hạn hẹp, và áp lực từ nhiều phía trong nước và quốc tế vào thời điểm đó.
  2. Từ hiểu biết và thông cảm trên, nhằm đề nghị những cải cách quốc gia phù hợp với điều kiện hiện tại, điều kiện chúng ta đang sống, và hoạch định tương lai cho dân tộc

Chỉ có cách làm nầy cho phép phê phán mà không quy kết con người, nhận diện lỗi hệ thống thay vì nuôi dưỡng hận thù lịch sử. Đồng thời, nó giúp các lĩnh vực như môi trường, y tế và giáo dục, những lĩnh vực gắn với sinh mệnh xã hội, tránh rơi vào đạo đức hóa cực đoan, vốn không mang lại năng lực cải cách xã hội về thực chất và đạo lý. Nhưng vấn đề đặt ra ở đây là, sau khi tiếp nhận được những đóng góp tích cực và xây dựng từ xã hội, nếu không được cải sửa, cá nhân lãnh đạo quốc gia phải chịu hoàn toàn trách nhiệm và không thể “đổ lỗi” cho “hê thống hay cơ chế” nữa. Đây mới thực sự là một diễn nghĩa “Retroject” đúng đắn nhứt!

Ở tầng lớp sâu và lắng đọng hơn nữa, ý thức về Retroject cũng phù hợp với tinh thần vô thường và tâm cảnh của mọi giá trị căn bản của xã hội là không có mô hình nào đúng vĩnh viễn, mà chỉ có những lựa chọn tương đối trong từng giai đoạn lịch sử mà thôi.

Tránh Retroject không phải để tha thứ cho sai lầm quá khứ, mà để học từ quá khứ một cách hữu ích cho tương lai.

Xin đón đọc Phần II

Mai Thanh Truyết

Ngày tưởng niệm Martin Luther King Jr

19-1-2026

 


 


 

 

Tuesday, February 17, 2026

 Những lời đầu năm Bính Ngọ 2026:


Triết lý của sự Bất toàn - Wabi-sabi II

Wabi-sabi và Đạo đức Chính trị

 

ThumbnailLời người viết: Ngày 20/12/2020, người viết có viết bài “Triết lý về sự bất toàn” và có đăng trên mạng Dân Làm Báo. Một độc giả tên Năm Nổ có góp ý như sau:” Năm Nổ • 18 hours ago - Wabi Sabi chỉ là một loại triết lý về Thiền Đạo Nhật về tính phù du của đời người:”Wabi sabi is an ancient aesthetic philosophy rooted in Zen Buddhism, particularly the tea ceremony, a ritual of purity and simplicity in which masters prized bowls that were handmade and irregularly shaped, with uneven glaze, cracks, and a perverse beauty in their deliberate imperfection.”

Người Nhật vốn có một nền Văn hóa lâu đời và khá đa dạng. Họ chịu ảnh hưởng Khổng Giáo nhiều nhất qua tính kỷ cương và tôn trọng chữ tín cũng như danh dự. Họ cũng chịu ảnh hưởng bởi Thiền Tông Phật Giáo trong mỹ thuật và thi ca. Cả Lão Trang và ngày nay là Thiên Chúa Giáo đều hiện diện trong tâm linh người Nhật.

Nó chẳng phải là chuộng sự bất toàn như nhiều người (VN) nhầm lẫn. Nó nhằm thực tập tính trong sạch và đơn tự nhiên của tạo hóa. Cũng như nét đẹp trong sự cũ kỹ hay hao mòn của vật thể chung quanh ta. Nói đến người Nhật, trước hết phải là đức tính kỷ luật trong làm việc và Kỹ thuật chính xác. Quý vị không thể nói chiếc xe Toyota (thí dụ) máy móc "bất toàn" được. Kỹ thuật hàm ẩn và đòi hỏi tính hoàn hảo. Wabi Sabi của Nhật cũng tương tự như câu thơ Cung Oán Ngâm Khúc của Việt Nam: - Trăm năm còn có gì đâu - Chẳng qua một món cỏ khâu xanh rì.

Có điều người Nhật biết cách ứng dụng vào môn trang trí mỹ thuật, người Việt Nam thì chỉ rung đùi nhâm nhi rồi thôi. Wabi Sabi trong trang trí. Thật ra nó cũng chỉ hợp với ai thích xì tin này thôi. Người Nhật cũng trang trí theo nhiều trường phái và khuynh hướng khác nhau trên thế giới.”

…Và hôm nay, giữa cái tĩnh mịch của “ngày tảo mộ, 25 tháng Chạp năm Ất Tỵ”, bài viết Wabi-sabi II ra đời sáu năm sau như dưới đây:

***

1- Wabi-sabi là gì?

Wabi-sabi không phải chỉ là một phong cách trang trí nội thất Nhật Bản, mà là một nhãn quan sống. Wabi-sabi là cái đẹp của sự không hoàn hảo, không vĩnh cửu và không trọn vẹn. Nó dựa trên ba nhận thức nền tảng:

Vô thường vì mọi thứ đang đổi thay từng sát na;

Bất toàn vì không có gì hoàn mỹ cả;

Giản dị vì giá trị của cái mộc mạc, ít phô trương.

Từ nhận thức trên, “Wabi” và “Sabi” có thể được thêm là sự phối hợp của hai “nửa của một linh hồn”, tức: Wabi, ban đầu có nghĩa là nghèo, cô quạnh. Nhưng trong thiền học, nó chuyển thành vẻ đẹp của sự giản dị, thanh đạm, tự tại trong thiếu thốn, và Sabi là vẻ đẹp của thời gian, là lớp rêu trên đá, là vết nứt trên chiếc bình cổ, và là tiếng gỗ kêu nhẹ sau nhiều mùa mưa.

Vì vậy, cái đẹp không phải ở sự mới mẻ mà ở những vết hằn của đời sống.

Khi một tách trà bị bể hay bị nứt, người Nhật không bỏ đi. Họ dùng sơn và bột vàng để hàn lại các đường nứt. Điều đặc biệt là họ không che giấu vết nứt, mà làm nó nổi bật lên. Từ đó, tách trà sau khi vỡ… lại đẹp hơn trước; những vết thương trở thành đường chỉ vàng.

Triết lý ở đây rất nhân bản: “Con người không cần che giấu những vết nứt của chính mình mà nhờ chính những đổ vỡ đó làm nên bản sắc của bản thân”.

Wabi-sabi đi ngược với hình thức văn hóa hoàn hảo, chủ nghĩa tiêu thụ, ám ảnh “phải trẻ mãi”, và ám ảnh thành công bề ngoài.

Wabi-sabi không cần Photoshop, mà Wabi-sabi yêu nếp nhăn.

Trong một xã hội tôn sùng sự tăng trưởng, sự nhanh nhẩu, trái lại, Wabi-sabi chấp nhận sự chậm lại, sự trầm mặc.

2- Wabi-sabi và Phật giáo

Thật ra, gốc rễ của Wabi-sabi nằm sâu trong Thiền tông, rất gần với:

Vô thường (anicca)

Khổ (dukkha)

Vô ngã (anatta)

Nhưng Wabi-sabi không giảng đạo, không triết lý hóa bằng khái niệm, mà Wabi-sabi để một chiếc lá khô, một cơn gió nhẹ nói… thay mình. Có lẽ vì vậy mà Nhật Bản, dù hiện đại, vẫn giữ được một sợi dây tâm linh thầm lặng và bề bĩ, nối kết cả dân tộc lại với nhau trước bao biến cố trong lịch sử bao đời…

3- Wabi-sabi trong đời sống hôm nay

Giả sử mỗi người trong chúng ta thử hỏi: - Ta có chấp nhận mình già đi không? - Ta có tha thứ cho những sai lầm của mình không? – Hoặc ta có thể nhìn một căn nhà cũ mà vẫn thấy ấm không?

Nếu ta trả lời “có”, tức là ta đang sống Wabi-sabi rồi đó.

Và nếu đặt vào bối cảnh Việt Nam, một dân tộc từng trải qua chiến tranh, nghèo khó, đổ vỡ…và, nếu nhìn theo cung cách Wabi-sabi, chiều dài lịch sử suốt trên ngàn năm ấy không chỉ là những bi kịch mà còn là vết hằn tạo nên bản sắc dân tộc Việt.

Câu hỏi được đặt ra không phải là: “Tại sao chúng ta từng bị đổ vỡ?”

Mà là: “Chúng ta có dám trét vàng lên những chỗ nứt đó như người Nhựt không?”

4- Wabi-sabi: Cái đẹp của cái Không đang chuyển động

Trong Phật giáo, Tánh Không (Śūnyatā) không có nghĩa là “trống rỗng vô nghĩa” mà có nghĩa là: Mọi sự vật không có tự tính cố định và tồn tại nhờ duyên sinh.

Một chiếc bình là đất, nước, lửa, tay người, và thời gian. Còn con người là thân, tâm, ký ức, điều kiện xã hội, và nhân duyên lịch sử. Vì vậy, không có cái “tôi” cố định, bất biến.

Wabi-sabi không nói bằng thuật ngữ triết học, nhưng Wabi-sabi sống đúng tinh thần Tánh Không: - Một chiếc chén trà không “hoàn hảo” vì nó đang đổi màu theo năm tháng - Một bức tường loang lổ vì thời gian đã chạm vào nó.

Cái đẹp nằm ở sự đang trở thành, không phải ở sự “đã hoàn tất”.  Vì vậy, nếu Tánh Không là triết học, thì Wabi-sabi là mỹ học của Tánh Không.

Tuy nhiên, có một điểm khác biệt là Tánh Không đi đến giải thoát tâm linh, còn, Wabi-sabi dừng lại ở điểm thẩm mỹ và thái độ sống.

Phật giáo có thể dẫn đến niềm tĩnh thức và giác ngộ, trong lúc đó, Wabi-sabi dẫn đến niềm tĩnh lặng và an nhiên tự tại.

Một bên là con đường tâm linh. Một bên là cách sống giữa đời.

Nhưng cả hai đều cùng nêu lên thao thức chung:”Đừng bám víu vào sự hoàn hảo tưởng tượng.”

5- Vấn đề của chính trị hiện đại - Ảo tưởng hoàn hảo

Một trong những nguy cơ lớn nhất của chính trị trên thế giới hiện tại là chủ nghĩa hoàn hảo, từ tư bản chủ nghĩa hay xã hội chủ nghĩa. Mỗi hệ tư tưởng đều có xu hướng tự xem mình là một giải pháp tối ưu, hay con đường đương nhiên phải hướng đến, hoặc là một mô hình lý tưởng cần phải được … tung hô. Từ đó phát sinh ra hai hệ quả nguy hiểm là không thừa nhận sai lầm, hay loại trừ quan điểm khác biệt.

Lịch sử thế giới cho thấy, khi một hệ thống tin rằng mình “hoàn chỉnh”, nó sẽ không còn cơ chế tự sửa sai. Và khi không còn tự sửa sai, nó sẽ tự khép kín và đương nhiên trở thành độc tài, độc đoán dù phát xuất từ một định chế chính trị nào đó.

Ở đây, triết lý Wabi-sabi mở ra một hướng tiếp cận khác là Không có hệ thống nào hoàn hảo cả, nghĩa là không có mô hình nào vĩnh viễn cũng như không có quyền lực nào không cần tự điều chỉnh.

Bất toàn như điều kiện của sự sáng suốt chính trị

Thừa nhận giới hạn: Một nhà lãnh đạo hiểu tinh thần Wabi-sabi sẽ nhận ra rằng chính sách đã được đề xướng luôn luôn có những hệ lụy ngoài dự kiến, quyền lực luôn có nguy cơ sai lệch, và mọi quyết định đều mang tính tạm thời. Một nhà lãnh đạo có tầm cỡ và có viễn kiến sẽ chấp nhận và thừa nhận mức giới hạn của chính mình, và điều đó không làm suy yếu uy tín cá nhân, mà ngược lại, nó tạo ra niềm tin cho người dân.

Trong chính trị, chính sách cũng cần có cơ chế phản hồi và điều chỉnh.

Tinh thần ấy chính là đạo đức của sự bất toàn.

Sửa chữa thay vì phủ định: Wabi-sabi không đập bỏ chiếc bình hay chiếc tách bị bể, mà nó hàn lại. Trong đời sống chính trị, có hai cực đoan thường gặp, hoặc là bảo thủ tuyệt đối: không thay đổi gì. Hoặc là phủ định toàn diện và xóa sạch quá khứ.

Cả hai đều thiếu chiều sâu trong thực tế. Một lãnh tụ chính trị trưởng thành và có đạo đức cần thể hiện khả năng gìn giữ những giá trị còn hữu ích cho xã hội, chỉ cần sửa những phần sai lệch.

Đó là phương pháp cải sửa liên tục, thay vì cách mạng triệt để và triệt tiêu những giá trị tồn tại từ quá khứ đối lập.

Văn hóa chính trị không hận thù: Một xã hội từng trải qua chiến tranh hay chia rẽ ý thức hệ thường mang ký ức đau thương. Nếu ký ức ấy không được chuyển hóa, nó trở thành nguồn năng lượng tiêu cực kéo dài qua nhiều thế hệ, như trường hợp Việt Nam hiện tại.

Wabi-sabi gợi ý một thái độ khác, dứt khoát không phủ nhận vết thương, không nuôi dưỡng hận thù, không thần thánh hóa quá khứ của “những thành quả cách mạng”, và thay vào đó, nhìn quá khứ như một phần của tiến trình đi đến sự trưởng thành của dân tộc. Trong đạo đức chính trị, điều này rất quan trọng, làm cách mạng hay cải cách không nhất thiết phải đi cùng sự hủy diệt thành quả và danh dự của phía bên kia!

Một quốc gia muốn phát triển bền vững cần xây dựng được văn hóa đối thoại, không phải văn hóa loại trừ.

Minh bạch và trách nhiệm: Nghệ thuật Kintsugi không dấu vết nứt. Nó làm nổi bật nó bằng “Đường nứt bằng vàng”. Trong chính trị cũng như vậy, điều tương đương là công khai hóa sự sai sót, chấp nhận trách nhiệm, và sau cùng đưa ra biện pháp sửa chữa.

Minh bạch không phải là sự yếu đuối mà là sự trưởng thành. Một chính quyền mạnh không phải là chính quyền không bao giờ sai, mà là chính quyền có khả năng sửa sai mà không sụp đổ.

Đó chính là “đường nứt bằng vàng” của thể chế.

Khiêm nhường quyền lực: Triết lý của sự bất toàn đặt ra một câu hỏi căn bản, nếu mọi thứ đều vô thường, thì quyền lực có thể tuyệt đối được không?

Câu trả lời là không.

Bất kỳ quyền lực nào cũng cần có sự kiểm soát, sự phản biện, và sự luân chuyển của bánh xe lịch sử. Không phải vì nghi ngờ con người, mà vì được hiểu bản chất vô thường và giới hạn của con người. Và chính nhờ sự khiêm nhường trước vô thường mới có thể tạo nên nền tảng cho một hệ thống bền vững.

Ứng dụng vào bối cảnh Việt Nam

Việt Nam đang đứng giữa nhiều dòng chảy từ hiện tượng toàn cầu hóa và bảo tồn bản sắc, cộng thêm việc phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường, cùng cần phải ổn định chính trị và yêu cầu đổi mới nhằm đuổi kịp các mô hình phát triển quốc gia trên thế giới.

Nếu chọn con đường hoàn hảo hóa cho một mô hình cố định, xã hội có thể rơi vào trì trệ.
Nếu chọn phủ định triệt để, xã hội có thể rơi vào hỗn loạn và đi vào sự phát triển không tưởng!

Tinh thần Wabi-sabi đề nghị một con đường trung đạo, tức là thừa nhận giới hạn của mô hình hiện tại, để rồi cải tiến từng bước. Tinh thần Wabi – sabi biết tôn trọng lịch sử nhưng không bị trói buộc bởi nó.

Đây là một phương thức tiến hóa thay vì đột biến vì xóa bỏ tất cả vết tích của lịch sử trong quá khứ.

Triết lý của sự bất toàn không làm xã hội yếu đi, mà nó làm xã hội bớt ảo tưởng. Một dân tộc không trưởng thành, không phải vì chưa từng sai lầm, mà vì biết sửa sai mà không tự hủy.

Vì vậy, Wabi-sabi nhắc chúng ta rằng, vết nứt là một phần của lịch sử, và đường chỉ vàng “khâu vá” lại vết nứt là phần của trí tuệ.

Nếu Việt Nam có thể xây dựng một đạo đức chính trị dựa trên sự khiêm nhường, minh bạch và cải sửa liên tục, thì chính những bất toàn trong quá khứ sẽ trở thành nền tảng cho một tương lai vững chắc hơn.

Không có thể chế nào hoàn hảo.

Nhưng có những thể chế đủ bản lĩnh để tự hoàn thiện mình.

Và đó mới là vẻ đẹp thực sự của một quốc gia đang trưởng thành.

 

6- Đoạn Kết – Tuyên ngôn về sự bất toàn

1-    Năm 2020, trong bài viết “Triết lý của sự bất toàn” (I), người viết đã nghĩ…

 

“Kết luận trong đời thường là:

  • Ngày hôm nay chúng ta không còn thấy cần thiết phải lấy tư tưởng về giáo dục, luân lý, những lời giảng dạy của Khổng Tử làm mẫu mực trong cuộc sống nữa;
  • Cũng không còn là lúc bình luận chiến lược, chiến thuật …đánh nhau qua các thế trận của …Binh pháp Tôn Tử nữa!

 

Chính vì vậy mà con người và Đất Nước Việt phải chịu sự trì trệ biết bao thế hệ, đặc biệt trong chiều dài lịch sử trong suốt hơn 45 năm qua.

Vì vậy,

  • Chúng ta cần phải áp dụng ý tưởng dân tộc từ tiền nhân để lại cộng thêm chiều hướng đổi mới của dòng lịch sử dân tộc để tiến đến sự toàn hảo trong cái bất toàn của trời đất.
  • Và một người bạn trên mạng đã góp ý như sau:” Nếu nói về sự 'không hoàn hảo' thì có thể lấy ngay trường hợp Việt Nam Cộng Hòa làm ví dụ là rất phù hợp. Nước VNCH từng nức tiếng là Hòn Ngọc Viễn Đông tức là VNCH là một đất nước xinh đẹp, tự do, phồn thịnh rồi, phải không ạ? Trước khi bị CS cướp nước, cũng có nhiều điều tiếng này nọ chê bai, chỉ trích nền Tự do, Dân chủ và các vị lãnh đạo của Nước VNCH. Nhưng đến hôm nay, sau mấy mươi năm nhìn lại, thì cũng chính các vị chê bai đấy, kể cả các vị từng 'Ăn cơm Quốc gia, thờ ma CS', thì hầu hết đều nhìn nhận Nước VNCH dù "không hoàn hảo" nhưng đã rất đẹp, rất Tự do, Dân chủ đấy sao??!!” Xin hãy chấp nhận sự bất toàn của dân tộc để làm kim chỉ nam cho những hướng mới trong việc mưu tìm sự toàn bích trong cái bất toàn…

 

Hiện tại, trước ngày Mồng Một của Bính Ngọ, chúng ta đang sống trong một thời đại mà mọi thứ được đánh giá bằng tốc độ và bề mặt. Những thành tựu được đo bằng con số, uy tín cá nhân được đo bằng hình ảnh, phát triển quốc gia được đo bằng chiều cao của công trình, bằng giá trị của đồng đô la! Người viết nghĩ rằng, lịch sử hiện đại cho thấy không có nền văn minh nào tồn tại lâu dài chỉ nhờ vào những bề ngoài hoàn hảo trên.

Sự bền vững không sinh ra từ ảo tưởng hoàn mỹ. Nó sinh ra từ khả năng tự sửa sai. Một dân tộc trưởng thành không phải là dân tộc chưa từng vấp ngã, mà là dân tộc biết nhìn thẳng vào những sai lầm của mình mà không tự hủy, biết cải sửa mà không hận thù, biết giữ truyền thống văn hóa dân tộc mà không đóng băng trong quá khứ.

Nếu kẻ nắm quyền lực tự tin rằng mình hoàn hảo, quyền lực đó sẽ tự cô lập. Nếu những chính sách được tin rằng là bất biến, chính sách đó sẽ trở nên lỗi thời. Nhưng nếu thể chế chấp nhận sự bất toàn như bản chất của con người, thì thể chế ấy sẽ luôn có chỗ cho đối thoại, cho điều chỉnh và cho tiến bộ.

Triết lý Wabi-sabi không dạy chúng ta yếu mềm mà dạy chúng ta can đảm hơn. Can đảm để thừa nhận giới hạn quyền lực của con người. Can đảm để nói “chúng ta có thể sai”. Can đảm để sửa chữa thay vì phủ định lẫn nhau. Can đảm để thấy thế giới đang chuyển động và luôn chuyển động trong chiều hướng tiến bộ và … đi tới. Chỉ có đảng ảo tưởng mới có suy nghĩ rằng … toàn dân phải đi theo tấm bảng chỉ đường của đảng mà thôi!

Trong một thế giới đầy biến động, bản lĩnh của một quốc gia không nằm ở việc khẳng định mình đúng tuyệt đối, mà ở khả năng học hỏi liên tục.

Chúng ta không cần một xã hội hoàn hảo, nhưng chúng ta cần một xã hội biết tự hoàn thiện, và tự chữa lành những vết thương của chính mình…

Chúng ta không cần xóa những vết nứt của lịch sử, mà chúng ta cần biến chúng thành những đường chỉ vàng của minh triết. Và có lẽ, chính khi chấp nhận sự bất toàn như một chân lý tự nhiên, chúng ta mới thật sự bước vào tuổi trưởng thành của dân tộc, và đi những bước vững chắc vào tương lai.

Lịch sử Việt Nam có rất nhiều vết nứt qua suốt hơn 4.000 năm, nhưng chính trong những vết nứt ấy là ánh sáng của kinh nghiệm, của hy sinh, của trưởng thành. Chúng ta không cần ảo tưởng về sự hoàn mỹ, nhưng chúng ta cần bản lĩnh để thừa nhận sự bất toàn của trí tuệ để chuyển hóa nó.

Một dân tộc lớn không phải vì không từng sai, mà vì biết sửa sai mà không đánh mất nhân tính.

Không có quốc gia nào hoàn hảo, chỉ có những quốc gia dám tự sửa mình.

Không có thể chế nào bất biến, chỉ có những thể chế biết học hỏi trước khi quá muộn.

Nếu chúng ta hiểu được những điều trên, thì mỗi vết nứt của hôm nay sẽ là đường chỉ vàng của ngày mai.

Nếu một ngày nào đó, chúng ta có thể nói với nhau rằng:“Chúng ta chưa hoàn hảo nhưng chúng ta đang học”, thì ngày đó, chúng ta đã trưởng thành.

Và trong sự trưởng thành ấy, ánh sáng không đến từ bề mặt trơn láng, mà từ những đường chỉ vàng âm thầm trong chiều sâu, hàn gắn những vết nứt, những bất toàn trong tâm khảm.

Mai Thanh Truyết

Xuân Bính Ngọ - Con Ngựa Lửa 2026

 












Saturday, February 14, 2026

 


Tết Việt ở hải ngoại - Sự dung hóa giữa các thế hệ

 

May include: A golden illustration of a horse with flowing mane and tail, set against a black background. The horse is surrounded by a glowing aura and the number 2026 in gold. Stars are scattered around the horse.Năm Ngọ năm 2026 có phải là năm may mắn không?

Hãy tận dụng tối đa năm Ngọ, một năm tốt lành mang đến sự chuyển đổi, phát triển và thịnh vượng.

Tết Nguyên đán năm 2026 đánh dấu sự khởi đầu của năm Ngọ Lửa, kéo dài từ ngày 17 tháng 2 năm 2026 đến ngày 5 tháng 2 năm 2027. Đại diện cho năng lượng, sự phiêu lưu và tham vọng, năm Ngọ Lửa được dự đoán sẽ mang đến những thay đổi nhanh chóng, mang tính đột phá và táo bạo, báo hiệu một thời kỳ cần hành động chủ động, dũng cảm và theo đuổi mục tiêu một cách quyết liệt.

Những khía cạnh chính của năm Ngọ Lửa 2026

Nguyên tố Lửa: Năm 2026 kết hợp bản chất năng động, độc lập của con Ngựa với nguyên tố Lửa, làm tăng cường năng lượng của nó, có thể đại diện cho một thời kỳ đầy đam mê nhưng cũng tiềm ẩn những thay đổi nhanh chóng và hỗn loạn.

Ý nghĩa: Con Ngựa là biểu tượng của sự chăm chỉ, dũng cảm, kiên cường và nhanh nhẹn trong tử vi Trung Cộng.

Các năm trước: Các năm Ngọ gần đây bao gồm 1930, 1942, 1954, 1966, 1978, 1990, 2002, 2014 và 2026.

Ý nghĩa văn hóa: Là con giáp thứ bảy trong chu kỳ 12 năm, con ngựa được coi là biểu tượng của tài năng và sự cao quý, và năm nay được kỳ vọng sẽ khuyến khích sự táo bạo, kết nối mạng lưới và hành động xã hội.

Dự đoán: Năm nay được dự đoán sẽ mang lại "sự tiến lên phía trước", khuyến khích mọi người đưa ra những lựa chọn nhanh chóng, quyết đoán và đón nhận sự thay đổi trong cả cuộc sống cá nhân và bối cảnh toàn cầu rộng lớn hơn.

Năm nay hứa hẹn sẽ năng động và nhanh chóng, thúc giục các cá nhân tận dụng những phẩm chất của con Ngựa, đặc biệt là Ngựa Lửa, để phát triển cá nhân và nghề nghiệp.

***

Tết Nguyên đán là dịp lễ được người Việt trân trọng nhất. Tuy nhiên, đối với những người Việt sống ở hải ngoại, Tết không còn đơn thuần là một ngày lễ; nó trở thành một thử thách về bản sắc văn hóa, sự gắn kết gia đình và kết nối cộng đồng. Việc trải nghiệm Tết ở nước ngoài đòi hỏi phải cân bằng giữa ký ức và kỳ vọng của nhiều thế hệ, đồng thời thích nghi với thực tế xã hội và văn hóa của nơi cư trú.

1-    Nhận thức về sự khác biệt giữa Tết Nguyên đán ở Bắc Trung Nam

Tết Nguyên Đán là dịp lễ quan trọng nhất trong năm của người Việt, không chỉ là thời gian sum họp gia đình mà còn là khoảnh khắc để mỗi người hoài niệm về truyền thống, gửi gắm lời cầu chúc an lành và thể hiện tinh thần văn hóa dân tộc. Mặc dù chung một tên gọi, Tết ở ba miền Bắc, Trung, Nam lại mang những sắc thái khác nhau, phản ảnh qua sự khác biệt về khí hậu, lịch sử và thói quen sinh hoạt của từng vùng.

miền Bắc, không khí Tết thường trang nghiêm, ấm áp nhưng cũng có chút se lạnh của mùa Đông. Người Bắc chú trọng đến các nghi thức truyền thống như dọn dẹp nhà cửa, lau chùi bàn thờ tổ tiên, chuẩn bị mâm cỗ đầy đủ với bánh chưng vuông, giò chả, dưa hành và “nem rán”. Hoa đào, trái quất và câu đối đỏ trở thành những biểu tượng không thể thiếu, góp phần tạo nên vẻ đẹp vừa trang nhã vừa rực rỡ cho ngày đầu năm. Lì xì cho trẻ em là một nét đẹp quen thuộc, trong khi các trò chơi dân gian như cờ tướng, đánh đu, ô ăn quan vẫn được giữ gìn để trẻ em vui chơi, gắn kết gia đình.

Miền Trung mang một sắc thái khác, Tết ở đây thường thanh tịnh, trang nghiêm và đôi khi trầm lặng, phản ảnh khí hậu lạnh hoặc mưa phùn hết sức đặc biệt. Người miền Trung cũng dọn dẹp nhà cửa, chuẩn bị mâm cỗ thờ cúng tổ tiên, nhưng thường gói bánh tét nhỏ, kết hợp xôi, thịt kho và canh măng. Mâm cỗ miền Trung thường giản dị nhưng cân đối, ít món cầu kỳ so với miền Nam nhưng vẫn đầy đủ vị ngọt, mặn, chua. Lì xì ít phổ biến, nhưng lời chúc và câu ca dao tục ngữ vẫn được trao gửi để thể hiện tình cảm và đạo lý. Một phong tục quan trọng khác là đi lễ chùa cầu may, đặc biệt vào những ngày đầu năm. Tết miền Trung ít ồn ào, mọi hoạt động đều mang màu sắc trầm lắng, nhấn mạnh giá trị gia đình và tâm linh. Giống miền Bắc, người miền Trung cũng coi trọng việc chọn người xông nhà đầu năm (người đầu tiên bước vào nhà sau giao thừa), nhưng thường chọn người có tuổi hợp với gia chủ và được cho là tốt lành, thành đạt. Tóm lại, Tết miền Trung vừa giữ gìn nghi thức cúng bái cổ truyền, vừa giản dị và đậm chất địa phương, tạo nên một không khí vừa trang trọng vừa ấm cúng, khác biệt so với miền Bắc (trọng nghi lễ) và miền Nam (trọng vui chơi, sum họp).

Ngược lại, miền Nam đón Tết trong không khí vui tươi, sôi nổi và ấm áp. Trời xuân phương Nam hiếm khi lạnh, vì vậy các hoạt động ngoài trời, như chợ hoa, hội xuân hay du xuân, diễn ra rất nhộn nhịp. Người Nam gói bánh tét tròn hoặc dài, trang trí nhà bằng mai vàng, cây kiểng và câu đối đỏ. Lì xì được trao rộng rãi, không chỉ cho trẻ em mà còn cho người lớn, như một cách thể hiện sự thân thiện, cởi mở. Ngoài ra, đi chùa cầu an, tham dự lễ hội Xuân, gặp gỡ bạn bè, họ hàng trở thành những phong tục quan trọng, góp phần tạo nên không khí Tết đầy sinh khí.

So sánh Tết ba miền, ta thấy mỗi vùng đều có nét riêng nhưng vẫn giữ được những giá trị chung là sum họp gia đình, thờ cúng tổ tiên, gửi gắm lời chúc tốt đẹp và gìn giữ truyền thống văn hóa.

Miền Bắc trang nghiêm và ấm áp; miền Trung thanh tịnh và trầm lắng; miền Nam vui tươi và náo nhiệt. Chính sự đa dạng này tạo nên bức tranh Tết Việt Nam phong phú, vừa khác biệt, vừa thống nhất, phản ánh tính đa chiều của văn hóa dân tộc.

Dẫu phong tục có khác nhau, Tết vẫn là dịp để mọi người, từ Bắc chí Nam, cùng hướng về cội nguồn, trân trọng tình thân và niềm tin vào một năm mới an khang, thịnh vượng. Sự dung hợp của ba miền không chỉ là việc chia sẻ món ăn, câu chúc hay trò chơi, mà còn là cách duy trì tình cảm, truyền thống và tinh thần Việt Nam trong mỗi gia đình và cộng đồng.

2-    Nguyên tắc “dung hóa” (harmonization) Tết ba miền

Nói về việc tôn trọng những nét đặc trưng của mỗi miền, thiết nghĩ không bắt người Bắc phải “vui như miền Nam”, hay người Nam phải “cúng như kiểu miền Bắc”, hay, tất cả phải trang nghiêm, thanh tịnh và “trầm mặt” như miền Trung. Tại sao chúng ta giữ nguyên các nghi thức, món ăn, phong tục đặc trưng, coi đó là biểu tượng đa dạng của văn hóa Việt của từng miền, để rồi từ đó tìm các điểm chung để kết nối như:

·         Chia sẻ ý nghĩa nguyên sinh của Tết là sum họp gia đình, tưởng nhớ tổ tiên, chúc nhau khởi đầu tốt đẹp;

·         Dùng hoạt động chung như bữa cơm Tết, chúc Tết, lì xì, hoa mai/đào, trò chơi dân gian… để kết nối Bắc Trung Nam, dù cách thực hiện khác nhau;

·         Sáng tạo các hình thức “trộn nhưng không lẫn” không giống như một “melting pot” của xã hội Mỹ vào thập niên 60 của thế kỷ trườc. Ví dụ: trong một bữa tiệc Tết chung cộng đồng, có cả bánh chưng miền Bắc, bánh tét bé bé, nhưn màu đỏ cẩm của miền Trung, và bánh tét “bự tổ chảng” của miền Nam, nhưng… mỗi loại giữ cách gói và trình bày riêng.Trẻ em và người lớn có thể tham gia cả hai cách gói, cả hai món ăn, giúp trải nghiệm đa dạng và hiểu sự khác biệt mà vẫn gắn kết;

·         Kể chuyện, giải thích, giáo dục văn hóa; Giải thích cho con cháu hoặc khách tham dự tại sao miền Bắc làm như vậy, miền Nam làm khác, giúp họ thấy tính đa dạng là sức mạnh của dân tộc;

·         Có thể làm “góc trải nghiệm” trong nhà hoặc cộng đồng như trình bày bánh chưng, bánh tét, mứt Tết, viết chữ thư pháp, câu đối…Từ đó, thúc đẩy tinh thần “hòa hợp trong đa dạng” như xem sự khác biệt là bổ sung, không xung đột.

 

3-    Tết với các thế hệ Việt ở hải ngoại

Thế hệ đầu tiên, những người di cư khi đã trưởng thành mang theo ký ức trọn vẹn về Tết ở Việt Nam. Đối với họ, Tết không chỉ là nghi lễ mà còn là kho tàng văn hóa, là cách gìn giữ liên kết tổ tiên và truyền lại giá trị cho thế hệ sau. Việc tổ chức Tết ở nước ngoài giúp họ tái tạo ký ức này, tạo nên sự liên tục và ổn định trong một môi trường xa lạ.

Thế hệ thứ hai, lớn lên trong xã hội bản địa nhưng dưới ảnh hưởng truyền thống của cha mẹ, trải nghiệm Tết như một cuộc thương lượng giữa ký ức và thực tiễn. Họ giữ lại các giá trị nguyên thủy, như sum họp gia đình và tưởng nhớ tổ tiên, nhưng điều chỉnh hình thức nghi lễ cho phù hợp với đời sống thực tế hiện đại. Thế hệ này đóng vai trò là cầu nối, chuyển hóa các nghi thức truyền thống thành trải nghiệm có ý nghĩa cho cả người già và trẻ.

Thế hệ thứ ba, sinh ra và lớn lên hoàn toàn ở hải ngoại, nhìn Tết như một biểu tượng và trải nghiệm văn hóa. Nghi lễ thường ít quan trọng hơn bầu không khí trong những ngày lễ, các hoạt động chung, và ý nghĩa gắn kết bản sắc mà nó mang lại. Sự tham gia của họ thường mang tính sáng tạo và vui chơi, tập trung vào trải nghiệm hơn là tuân thủ nghi thức. Thế hệ nầy không muốn bị áp đặt trong khuôn khổ mang từ Việt Nam ra hải ngoại.

4-    Sự khác biệt về Tết theo vùng miền trong nước

Ngoài sự khác biệt về thế hệ, Tết còn khác nhau theo vùng miền trong nước và được người Việt mang theo ra hải ngoại. Truyền thống miền Bắc nhấn mạnh nghi lễ, cúng gia tiên và các món ăn tượng trưng như bánh chưng, hoa đào và câu đối đỏ. Trong khi đó, Tết miền Nam thường vui tươi, rộn ràng với bánh tét, hoa mai, dưa món, trò chơi dân gian và lời chúc thân mật. Còn miền Trung, thanh tịnh, trang nghiêm, đôi khi khắc nghiệt do thời tiết lạnh hoặc mưa phùn.

Giữ gìn cả ba truyền thống đồng thời tạo cơ hội cho việc trải nghiệm chung giúp cộng đồng người Việt tôn trọng sự đa dạng mà vẫn giữ được sự thống nhất. Cách tiếp cận “trộn nhưng không lẫn” giống như “một salad bowl” ở xã hội Mỹ hiện tại, giữ nguyên đặc trưng từng miền, đồng thời nhấn mạnh các giá trị chung như sum họp gia đình, tưởng nhớ tổ tiên, và chúc nhau năm mới tốt đẹp. Từ đó, suy nghĩ và hành động trên giúp sự đa dạng trở thành sức mạnh của cộng đồng, thay vì tạo ra chia rẽ.

Tết hải ngoại cũng là cơ hội để kết nối cộng đồng và xây dựng thiện cảm với người bản xứ. Mời bạn bè, hàng xóm, đồng nghiệp tham gia các hoạt động Tết như thưởng thức các món ăn truyền thống, tham gia trò chơi, nghe kể chuyện, và cung cấp cơ hội trải nghiệm văn hóa Việt.

Việc ghi nhận sự đóng góp của mọi thế hệ chắc chắn sẽ bảo đảm Tết Việt ở hải ngoại  trở thành không gian văn hóa chung, củng cố cảm giác thuộc về cộng đồng, đồng thời làm tăng thiện cảm với cộng đồng người bản xứ.

5-    Tại sao việc dung hóa là cần thiết

Làm thế nào để cho việc tổ chức tổ chức Tết ở hải ngoại vừa có ý nghĩa truyền thống, vừa thực tế, và tạo cho người bản xứ hiểu được một nét văn hóa đặc thù của dân tộc Việt, chúng ta có thể áp dụng những bước căn bản trong suốt các giai đoạn Tết như:

·         Đầu tiên, xác định ý nghĩa nguyên thủy của Tết như sum họp gia đình, tưởng nhớ tổ tiên, và là một khởi đầu mới;

·         Thứ hai, phân cách vai vế của từng thế hệ: thế hệ I là người giữ ký ức, thế hệ II là người cảm nhận và phiên dịch văn hóa, thế hệ III là người trải nghiệm;

·         Thứ ba, cùng chia sẻ với người bản xứ như mời họ tham gia, giải thích ý nghĩa và các tập tục trong ngày Tết Âm lịch như thế nào;

·         Thứ tư, tạo sự trải nghiệm tương tác như cùng tham dự bữa cơm sum họp, trò chơi dân gian như chơi bầu cua cá cọp, đổ xí ngầu lác, hay đua ngựa v.v…, hoặc người lớn kể chuyện Tết ngày xưa ở thôn quê…

·         Và thứ năm, cùng ghi nhận và truyền giữ kỷ niệm như chụp ảnh, quay video, khuyến khích trẻ em kể chuyện, giúp mọi người thấy mình là chủ thể cùng tham gia và sinh hoạt chung trong những ngày Tết.

Làm thế nào để cho các thế hệ cảm được tinh thần “hòa hợp trong đa dạng”, coi khác biệt trong tập tục cá biệt là những bổ túc văn hóa lẫn nhau, vì vậy không thể nào xảy ra  xung đột văn hóa được.

Việc dung hóa Tết giữa các thế hệ thành công không dựa trên sự áp đặt đồng nhất, mà là cho phép mỗi thế hệ tham gia theo vai trò phù hợp giữ gìn ký ức, “phiên dịch” văn hóa, hay sáng tạo trải nghiệm. Nhờ đó, Tết ở hải ngoại trở thành một không gian văn hóa sống động, nơi ký ức, trải nghiệm và sáng tạo tồn tại song song trong sự tương kính lẫn nhau.

Dung hóa là tạo không gian chung mà vẫn giữ bản sắc riêng, để cả ba miền Bắc Trung Nam đều cảm thấy Tết là của mình, của dân tộc Việt, không bị pha loãng hay lấn át, ngõ hầu nhắm tới lợi ích của cái Tết chung của cả hai miền.

  • Giữ gìn tình cảm dân tộc: Các thế hệ trẻ thấy văn hóa đa dạng nhưng thống nhất trong giá trị.
  • Tăng trải nghiệm văn hóa: Trẻ em và người lớn đều học hỏi, gắn kết qua trò chơi, ẩm thực, câu chuyện.
  • Gắn kết cộng đồng: Khi Bắc Trung Nam hiểu nhau hơn, Tết trở thành cầu nối văn hóa và tình cảm, đặc biệt trong hải ngoại hoặc giữa các vùng miền khác nhau trong nước.

Dung hóa Tết Bắc Trung Nam không phải là xóa bỏ khác biệt, mà là tôn trọng và kết nối sự khác biệt. Khi mỗi miền được giữ nguyên bản sắc của vùng miền, nhưng cùng tham gia trải nghiệm chung, từ đó, Tết trở thành biểu tượng sống động của tình cảm dân tộc Việt, gắn kết các thế hệ và miền đất, từ Bắc chí Nam, trong và ngoài nước.

Tóm lại, Tết hải ngoại không phải là bản sao của Tết Việt Nam mà là một truyền thống sống, thích nghi và kết nối các thế hệ. Khi dung hóa nghi thức Bắc Trung Nam, gắn kết các thế hệ và mở cửa cho cộng đồng bản xứ bước vào, Tết Việt trở thành không gian chung của ký ức, trải nghiệm và sáng tạo. Khi được tổ chức với tinh thần cởi mở, linh hoạt nhưng vẫn giữ giá trị cốt lõi, Tết ở hải ngoại sẽ giúp mọi người cảm nhận Tết là của chính họ, đồng thời tăng sự hiểu biết và thiện cảm với người ngoài cộng đồng. Nhờ đó, Tết hải ngoại vẫn là biểu tượng sống động của bản sắc văn hóa và tình cảm dân tộc, kết nối quá khứ, hiện tại và tương lai của dân tộc Việt.

May include: A fiery horse gallops across a night sky filled with stars and a full moon. The image features the text "2026 Year of the Fire Horse" in gold. The horse is surrounded by flames, creating a dramatic and dynamic scene.“Không giữ Tết để níu quá khứ, mà giữ Tết để các thế hệ tìm thấy một điểm chung, nơi họ nhận ra mình thuộc về nhau.”

Người Việt nên coi Tết hải ngoại vừa là thời điểm kết nối nội bộ, vừa là cơ hội giao tiếp văn hóa với người bản xứ, tạo thiện cảm và nâng cao hiểu biết lẫn nhau.

Dung hóa ở đây là khả năng mỗi thế hệ nhận ra giá trị của Tết và tham gia theo cách của mình, tạo ra một “Tết chung” từ nơi ký ức, trải nghiệm, và sáng tạo gặp nhau, thay vì bắt buộc một thế hệ phải tuân theo thế hệ kia.

Điều quan trọng là Tết hải ngoại không phải là Tết Việt nguyên gốc, nhưng có thể trở thành một phiên bản sống động, thích nghi, giúp các thế hệ gắn kết với nhau và vẫn duy trì căn tính văn hóa Việt.

Mai Thanh Truyết

Tết Bính Thân – 2026

 

***

 

Vietnamese Tet - The harmonization between generations.

 

 

Tết Nguyên Đán, or the Lunar New Year, is the most cherished celebration for Vietnamese people. However, for Vietnamese communities living overseas, Tết is no longer simply a holiday; it becomes a test of cultural identity, family cohesion, and community connection. Experiencing Tết abroad requires balancing memories and expectations across generations while adapting to the social and cultural realities of the host country. 

1. Awareness of Regional Differences in Tết Across Northern, Central, and Southern Vietnam

Tết Nguyên Đán is the most important festival of the year for Vietnamese people. It is not only a time for family reunions but also a moment for reflection on tradition, for offering wishes of peace and prosperity, and for expressing national cultural values. Although it shares the same name nationwide, Tết in the North, Central, and South carries distinct characteristics shaped by differences in climate, history, and daily life. 

In Northern Vietnam, Tết is typically solemn and warm in spirit, yet accompanied by the chill of winter. Northerners place great emphasis on traditional rituals such as cleaning the house, tending ancestral altars, and preparing elaborate ceremonial meals featuring square bánh chưng, pork rolls, pickled onions, and fried spring rolls. Peach blossoms, kumquat trees, and red calligraphy banners are indispensable symbols, creating an atmosphere that is both elegant and festive. Giving lì xì (lucky money) to children is a cherished custom, while traditional folk games such as Chinese chess or ô ăn quan help strengthen family bonds.

 Central Vietnam presents a different tone. Tết here is often tranquil, solemn, and sometimes introspective, reflecting the region’s cold weather or persistent drizzles. Families still clean their homes and prepare offerings for ancestors, but meals are generally simpler, featuring smaller bánh tét, sticky rice, braised pork, and bamboo shoot soup. The Central Vietnamese Tết feast is modest yet balanced in flavor, sweet, salty, and sour, less elaborate than in the South but rich in meaning. Giving lucky money is less emphasized; instead, well-wishes and traditional verses convey affection and moral values. Visiting pagodas to pray for good fortune is an important custom, especially during the first days of the year. Like the North, the Central region values the tradition of selecting the first visitor of the year (xông đất), often choosing someone believed to bring good luck and prosperity. Overall, Tết in Central Vietnam preserves ancestral rituals while remaining simple and deeply local, creating an atmosphere that is both dignified and intimate distinct from the North’s formality and the South’s exuberance. 

By contrast, Southern Vietnam celebrates Tết in a joyful, lively, and warm atmosphere. The southern spring is rarely cold, encouraging outdoor activities such as flower markets, spring festivals, and leisure travel. Southerners prepare round or long bánh tét, decorate homes with yellow apricot blossoms, ornamental plants, and red banners. Lucky money is generously given not only to children but also to adults as a gesture of friendliness and openness. Visiting pagodas, attending spring festivals, and gathering with friends and relatives are central activities that create a vibrant and energetic holiday spirit. 

Comparing Tết across the three regions reveals that each has its own unique character, yet all share core values: family reunion, ancestor worship, well-wishing, and the preservation of cultural traditions. The North is solemn and warm; the Central region is serene and reflective; the South is cheerful and dynamic. This diversity forms a rich and unified picture of Vietnamese Tết, reflecting the multidimensional nature of national culture.

Despite regional differences, Tết remains a time for people from North to South to turn toward their roots, cherish family bonds, and renew their hope for a peaceful and prosperous new year. Harmonizing these regional traditions is not merely about sharing food or greetings, but about sustaining emotional ties, cultural continuity, and the Vietnamese spirit within families and communities. 

2. Principles of “Harmonizing” Tết Across the Three Regions

Respecting regional characteristics does not mean forcing Northerners to celebrate as joyfully as Southerners, or Southerners to observe rituals in the Northern style, nor imposing the solemnity of Central Vietnam on everyone. Instead, each region’s rituals, foods, and customs should be preserved as symbols of Vietnam’s cultural diversity, while common ground is cultivated through shared values such as: 

  • Emphasizing the original meaning of Tết: family reunion, ancestor remembrance, and a hopeful new beginning;
  • Using shared activities—Tết meals, New Year greetings, lucky money, peach or apricot blossoms, folk games—to connect North, Central, and South, even if practiced differently;
  • Creating “blended but not merged” experiences. For example, at a community Tết gathering, one may serve Northern bánh chưng, small Central-style bánh tét with red-hued fillings, and large Southern bánh tét, each prepared and presented in its own way. Children and adults can learn to wrap and taste all varieties, experiencing diversity while remaining connected;
  • Storytelling, explanation, and cultural education—helping younger generations or guests understand why regions differ, reinforcing the idea that diversity is a source of strength;
  • Establishing cultural “experience corners” at home or in community spaces, featuring traditional cakes, Tết sweets, calligraphy, and couplets, thereby promoting the spirit of “unity in diversity,” where differences complement rather than conflict. 

3. Tết Across Generations in the Vietnamese Diaspora 

The first generation, who migrated as adults, carries vivid memories of Tết in Vietnam. For them, Tết is not merely a ritual but a cultural repository, a way to maintain ancestral connections and pass values to younger generations. Celebrating Tết abroad helps recreate these memories and provides continuity and stability in a foreign environment.

The second generation, raised in the host society but influenced by their parents’ traditions, experiences Tết as a negotiation between memory and reality. They retain core values such as family reunion and ancestor remembrance, while adapting rituals to modern life. This generation acts as a bridge, translating traditional practices into meaningful experiences for both elders and children. 

The third generation, born and raised entirely overseas, tends to view Tết as a cultural symbol and experiential event. Rituals are less central than atmosphere, shared activities, and identity-building. Their participation is often creative and playful, focused on experience rather than strict adherence to tradition. They generally resist rigid frameworks imported directly from Vietnam.

 4. Regional Traditions Carried Overseas 

Beyond generational differences, regional variations in Tết are also carried abroad. Northern traditions emphasize ritual, ancestral worship, and symbolic foods like bánh chưng and peach blossoms. Southern Tết is lively and festive, with bánh tét, apricot blossoms, preserved vegetables, folk games, and warm greetings. Central Vietnam’s Tết remains solemn and restrained, shaped by harsher weather conditions. 

Preserving all three traditions while creating shared experiences allows overseas Vietnamese communities to respect diversity without losing unity. The “blended but not merged” approach, similar to the American “salad bowl”, maintains each region’s identity while highlighting shared values such as family reunion, ancestor remembrance, and New Year blessings. In this way, diversity becomes a source of strength rather than division. 

Overseas Tết also offers an opportunity to connect with the host society by inviting friends, neighbors, and colleagues to participate in traditional foods, games, storytelling, and cultural experiences. Recognizing the contributions of all generations ensures that overseas Tết becomes a shared cultural space, strengthening community belonging while fostering goodwill with the broader society.

 5. Why Harmonization Is Necessary 

To ensure that overseas Tết remains meaningful, practical, and accessible to non-Vietnamese, several fundamental steps may be applied throughout the celebration:

  • First, clarify the core meaning of Tết: family reunion, ancestor remembrance, and renewal.
  • Second, define generational roles: the first generation preserves memory, the second interprets and translates culture, and the third experiences and innovates.
  • Third, share Tết with the host community by inviting participation and explaining customs;
  • Fourth, create interactive experiences such as communal meals, folk games, storytelling, and shared memories of rural Tết in the past;
  • Fifth, document and transmit memories through photos, videos, and storytelling, enabling everyone to feel like active participants.


When generations embrace the spirit of “unity in diversity,” differences in customs become cultural complements rather than sources of conflict. Successful harmonization does not impose uniformity, but allows each generation to participate according to its role, preserving memory, interpreting culture, or creating new experiences.

Harmonization creates a shared space that preserves distinct identities, ensuring that all three regions, North, Central, and South, feel that Tết belongs to them and to the Vietnamese nation as a whole. Its benefits include: 

  • Preserving national sentiment, as younger generations see diversity united by shared values;
  • Enriching cultural experience through food, games, and storytelling;
  • Strengthening community bonds, especially in overseas settings or among different regions within Vietnam. 

Harmonizing Tết does not erase differences; it respects and connects them. When each region retains its identity while participating in shared experiences, Tết becomes a living symbol of Vietnamese cultural affection, uniting generations and regions from North to South, at home and abroad. 

In summary, overseas Tết is not a replica of Tết in Vietnam but a living, adaptive tradition that connects generations. By harmonizing regional rituals, bridging generations, and welcoming the host community, Vietnamese Tết becomes a shared space of memory, experience, and creativity. When celebrated with openness and flexibility while preserving core values, overseas Tết allows everyone to feel that it truly belongs to them, while fostering understanding and goodwill beyond the community. 

“We do not preserve Tết to cling to the past, but to help generations find common ground, where they recognize that they belong to one another.”

Vietnamese people should view overseas Tết as both an internal bond and a cultural dialogue with the host society. Harmonization means enabling each generation to recognize Tết’s value and participate in its own way, creating a shared Tết where memory, experience, and creativity meet without forcing one generation to conform to another.

What matters most is that overseas Tết, though not identical to its original form in Vietnam, can become a vibrant and adaptive version that unites generations while preserving Vietnamese cultural identity.

Top of Form

 


 


Bottom of Form