Wednesday, July 1, 2026

 Con đường GS Nguyễn Ngọc Huy, Anh Ba đi

Phần II – Phản bác trực diện trước Cộng sản Bắc Việt

 


Trong tranh luận, điều đáng chú ý là GS Nguyễn Ngọc Huy ít sử dụng ngôn ngữ tuyên truyền một chiều hay hằn học, hay tỏ ỳ mất bình tĩnh, hay nóng giận. Ông luôn viện dẫn luật quốc tế, luật đối chiếu, phân tích hiến pháp, sử dụng khoa học chánh trị trong lý luận, so sánh kinh nghiệm các nước Tây phương và đang phát triển thành công trong tranh đấu dành lại độc lập, tự chủ. Đặc điểm của Ông là tránh công kích cá nhân.

Điều này khiến nhiều học giả phương Tây đánh giá ông như một nhà nghiên cứu hơn là một nhà tuyên truyền và vận động chánh trị.

1- Về tính chính danh của Việt Nam Cộng Hòa

Trước hết, cần phân tích lập luận của CSBV, Hà Nội luôn luôn và lúc nào cũng tuyên bố:”Chỉ có một nước Việt Nam”, và Việt Nam Cộng Hòa là một "chính quyền tay sai" do Hoa Kỳ dựng lên nên không có tư cách pháp nhân độc lập.

Vì vậy, GS Nguyễn Ngọc Huy phản biện lại rằng, Ông phân biệt tách bạnh giữa khái niệm quốc gia - nation và nhà nước -state. Theo Ông:

  • Dân tộc Việt Nam chỉ có một và một mà thôi.
  • Nhưng sau Hiệp định Genève năm 1954 đã tồn tại hai chính quyền với hai hệ thống pháp luật, hành chánh, quân đội và mối quan hệ ngoại giao khác nhau được quốc tế công nhận.
  • Vì vậy, trên thực tế quốc tế đã tồn tại hai thực thể nhà nước: VNCH có liên lạc ngoại giao cấp Đại sứ với gần 40 quốc gia trên thế giới, còn CSBV, tức Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa chỉ có các nước trong khồi cộng sản và trong thế giới Tây phương, chỉ có Thụy Điển là quốc gia duy nhứt công nhận họ mà thôi.

Ông cương quyết đối đầu và phản bác CSBV rằng, việc phủ nhận hoàn toàn sự hiện hữu và tồn tại của Việt Nam Cộng Hòa là không phù hợp với thực tế và luật pháp quốc tế thời bấy giờ.

2- Về Hiệp định Genève 1954

CSBV Hà Nội đưa ra lập luận, Hiệp định Genève chỉ tạm chia đôi đất nước qua vĩ tuyến 17, vì vậy mọi hoạt động nhằm thống nhất đều hợp pháp.

GS Huy phản bác lại, Hiệp định Genève không phải là hiệp định thống nhất đất nước, đường ranh giới tuyến quân sự tại vĩ tuyến 17 chỉ mang tính tạm thời, và, rốt ráo hơn nữa, Hiệp định không cho phép một bên nào đó sử dụng vũ lực để thống nhất dất nước. Ông căn cứ vào Điều 3 của Chương 2 là:” Điều 3 - Các bên cam kết giữ vững ngừng bắn, bảo đảm hoà bình lâu dài và vững chắc.

Bắt đầu từ khi ngừng bắn:


a) Các lực lượng của Hoa kỳ và của các nước ngoài khác đồng minh của Hoa kỳ và của Việt Nam cộng hoà sẽ ở nguyên vị trí của mình trong lúc chờ đợi thực hiện kế hoạch rút quân. Ban liên hợp quân sự bốn bên nói trong điều 16 sẽ quy định những thể thức.

b) Các lực lượng vũ trang của hai bên miền Nam Việt Nam sẽ ở nguyên vị trí của mình. Ban Liên hợp quân sự hai bên nói trong điều 17 sẽ quy định vùng do mỗi bên kiểm soát và những thể thức trú quân.

c) Các lực lượng chính quy thuộc mọi quân chủng và binh chủng và các lực lượng không chính quy của các bên ở miền Nam Việt Nam phải ngừng mọi hoạt động tấn công nhau và triệt để tuân theo những điều quy định sau đây:

- Ngăn cấm mọi hoạt động vũ lực trên bộ, trên không và trên biển;

- Ngăn cấm mọi hành động đối địch, khủng bố và trả thù của cả hai bên.Đẻ phản biện lại mọi tấn công quân sự và xâm nhập vũ khí vào Nam của CSBV sau ngày 27/1/1973. Lịch sử được giải mã cho thấy, chính Lê Duẫn đã có mặt ở căn cứ Vàm Nao nhiều năn trước 1975!

Và theo ông, việc thống nhất nếu có, phải dựa trên việc tổ chức bầu cử tự do dưới sự giám sát của Liên Hiệp Quốc, có sự đồng thuận của người dân hai miền, không sử dụng chiến tranh quân sự để dành thắng lợi.

Đây chính là điểm ông thường nhấn mạnh trong các bài nghiên cứu.

3- Về Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam

CSBV Hà Nội khẳng quyết, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam là phong trào nổi dậy tự phát của nhân dân miền Nam.

GS Nguyễn Ngọc Huy phản bác lại:

  • Mặt trận không hoàn toàn độc lập. mà do sự dàn dựng của CSBV;
  • Các vị trí lãnh đạo như Nguyễn Hữu Thọ, Trịnh Đình Thào, Dương Quỳnh Hoa v.v…chỉ là những trí thức bù nhìn được Hà Nội dựng lên. Lãnh đạo quân sự và hậu cần đều hoàn toàn chịu ảnh hưởng từ Hà Nội;
  • Đường mòn Hồ Chí Minh là bằng chứng rõ rệt cho thấy có sự trực tiếp điều khiển và tiếp vận quy mô từ miền Bắc.

Theo Ông, vì vậy không thể xem đây chỉ là một cuộc nội chiến Bắc – Nam thuần túy, mà là một cuộc chiến ý thức hệ giữa khối cộng sản và tự do.

            4- Về Quyền dân tộc tự quyết và Chiến tranh cách mạng

Đây có lẽ là luận điểm quan trọng nhất của GS Nguyễn Ngọc Huy. Ông luôn lập luận, nếu Hà Nội khẳng quyết mọi người dân ở Việt Nam có quyền tự quyết thì, thì dân chúng ở miền Nam cũng có quyền quyết định tương lai chính trị của mình vậy. Theo Ông, không thể vừa viện dẫn nguyên tắc tự quyết dân tộc vừa phủ nhận quyền lựa chọn của 17 triệu người đang sống tại miền Nam được.





Về chiến tranh cách mạng, CSBV Hà Nội coi chiến tranh vũ trang là chiến tranh giải phóng dân tộc, cứu nước, và chống xâm lược Mỹ.

GS Nguyễn Ngọc Huy cho rằng, chiến tranh sau năm 1965 không còn đơn thuần là cuộc nổi dậy trong nước mà đã trở thành cuộc chiến quy mô lớn với sự tham gia trực tiếp của quân đội miền Bắc, Hoa Kỳ, và các đồng minh của cả hai phía. Khối cộng sản quốc tế gồm Liên Sô và 15 quốc gia trong khối như Hung, Tiệp, Đông Đức, v.v…, với Cu Ba, Bắc Hàn v.v… và nhứt là Trung Cộng với sự hiện diện của trên 340 ngàn lính Tàu (sau khi được giải mã gần đây). Theo Ông, điều này làm thay đổi bản chất pháp lý và chính trị của cuộc chiến.

5- Về mô hình chính trị

Một phản biện ít được ai nhắc đến của GS Nguyễn Ngọc Huy nhưng khá sâu sắc. Đó là Ông không chỉ phản bác bằng các vấn đề quân sự, như sự hiện diện của những người lính trong khối cộng sản trên đất Bắc Kỳ, cũng như các nguồn viện trợ vũ khí và lương thực cùng quân nhu vô giới hạn. Từ đó, Ông đặt câu hỏi:”Sau khi thống nhất bằng bạo lực thì Việt Nam sẽ xây dựng một xã hội như thế nào?

Ông cho rằng, chế độ độc đảng sẽ dẫn tới việc kiểm soát quyền lực theo cung cách trung ương tập quyền và từ đó, đưa đến một thể chế độc tài dảng trị. Thêm nữa, kinh tế kế hoạch hóa và tập trung sẽ khó tạo động lực phát triển qua chính sách hợp tác xã. Và sau cùng, việc thiếu vằng giáo dục nhân bản và tự do sẽ làm trì trệ tiến trình phát triển Việt Nam thời hậu chiến.

Những lập luận này sau năm 1975 đã được chứng minh, và vẫn được ông tiếp tục phát triển trong các công trình nghiên cứu về dân chủ và hiến pháp cho đến cuối đời.

6- Suy nghĩ từ người viết

Từ góc nhìn ngày nay, chúng ta có thể thấy các phản biện của GS Nguyễn Ngọc Huy có nhiều điểm mạnh và điểm hạn chế.

Điểm mạnh là ông đưa ra những lập luận nhất quán về pháp lý quốc tế, quyền tự quyết và thể chế dân chủ. Nhiều phân tích của ông về nguy cơ tập trung quyền lực và sự cần thiết của nhà nước pháp quyền vẫn còn giá trị tham khảo.

Điểm hạn chế là các lập luận của ông xuất phát từ lập trường của Việt Nam Cộng Hòa, nên ít chú trọng đến các yếu tố mà phía Hà Nội và nhiều nhà sử học khác nhấn mạnh, như mục tiêu thống nhất đất nước, di sản của chủ nghĩa thực dân và mức độ ủng hộ của một số người dân miền Nam không đồng ý với chính sách của Đệ I và Đệ II Cộng Hòa qua cá nhân TT Ngô Đình Diệm và TT Nguyễn Văn Thiệu. Vì vậy, các công trình của ông cần được đọc song song với các nguồn từ nhiều phía để có cái nhìn toàn diện hơn.

Nếu nghiên cứu lịch sử tư tưởng chính trị Việt Nam, GS Nguyễn Ngọc Huy được xem là một trong những học giả tiêu biểu của dòng tư tưởng quốc gia dân chủ, với nỗ lực xây dựng một nền tảng lý luận cho nhà nước pháp quyền, đa nguyên và quyền tự quyết trong bối cảnh cuộc đối đầu ý thức hệ của thời Chiến tranh Lạnh. Thiết nghĩ, một mai khi Đất và Nước không còn bóng dáng CSBV, nền dân chủ pháp trị sẽ biến cải tương lai Việt Nam thành một quốc gia tự do và cường thịnh.

Xem tiếp Phần III – Thời Đệ II Cộng Hòa - Lãnh đạo Đảng Tân Đại Việt

Mai Thanh Truyết

Tháng Tưởng niệm GS NNH

Houston – 1-7-2026

Tuesday, June 30, 2026

 Con đường GS Nguyễn Ngọc Huy, Anh Ba đi

Phần I – Câu chuyện Hội đàm Paris 1968 – 1973

 


Những lời tâm tình của người viết: Bạn đọc loạt bài dưới đây trả dài qua ký ức hơn 60 năm qua, từ những ngày còn là một câu sinh viên xa lạ lang thang trên những nẻo đường Paris, cho đến những ngày tha hương của một ông già 84 tuổi nơi quê hương tạm dung Hoa Kỳ. Có thể nói, GS Nguyễn Ngọc Huy và tôi có một duyên tình hết sức đặc biệt, mỗi lần gặp nhau đều trong những trường hợp đặc biệt, buồn nhiều hơn vui. Người viết đã từng “ăn mòn răng” ở một quán ăn nhỏ ở quận 5 ème Paris (sẽ ráng nhớ tên), lúc GS đã về lại Việt Nam rồi. Quán nầy mở ra vào đầu thập niên 60 của thế kỷ trước, được xử dụng như làm nơi hội họp và kinh tài của Đảng Đại Việt do BS Nguyễn Tôn Hoàn và GS Nguyễn Ngọc Huy phụ trách. Quán do nhạc sĩ Phạm Trọng Cầu quản lý. Do duyên tình đưa đầy, người viết gặp được Gs lần đầu tiên trong giai đoạn Hội đàm Paris tại Tòa Đại sứ Việt Nam tại Pháp do Cố vấn Văn hóa, BS Trần Văn Bình (Bs riêng của cố Tổng thống Trần Văn Hương sau đó) triệu tập. Kết qua là tôi được danh dự làm hướng dẫn viên cho phái đoàn của GS, Bs Trần Văn Bình đi vận động và thăm hỏi đồng hương và sinh viên miền Đông nước Pháp. Chuyến đi dài nhứt trong đời cùng với GS hơn một tuần lễ gây nhiều ấn tượng trong tôi. GS Huy có rất nhiều điều cần học hỏi.

 

Lần gặp GS lần thứ hai và sau đó nhiều lần năm 1973 khi tôi về nước, hoặc ở nhà riêng 2/57 (?) Đường Cao Thắng, một hẻm bên cạnh Nhà sản xuất bàn ghế Anh Đào của gia đình bạn tôi là Nguyễn Đại Thức và Nguyễn Đại Thể. Những lần gặp GS cùng với TS Phan Văn Song để thảo luận về cung cách làm thế nào đẩy mạnh ảnh hưởng của Phong trào Quốc gia Cấp tiến và Đảng Tân Đại Việt  lên sinh viên và giáo sư ở miền Nam. Và chính vì thế, mà TS Phan Văn Song hiện diện và là Viện trưởng Đại Học Cao đẳng Thương mãi Minh Trí, và tôi, Giám đốc Học vụ Viện Đại học Cao Đài Tây Ninh. Kế tiếp, xin trích từ bài viết của Song:” Thừa lệnh Giáo sư, tôi đã giới thiệu Truyết vào Đảng và Truyết bí mật «Tê Đơ» Tân Đại Việt tại nhà Ông Cụ tôi, là anh Ba Xướng, đường Nguyễn Duy Dương, sau lưng trường Nam Sinh Mù chợ An Đông. Hôm ấy có mặt Giáo sư do ông cậu tôi là Thiếu tá Nguyễn Trọng Đệ chở đến.

Lần gặp GS tiếp theo là ngày viếng quan tài của Bà NN Huy, mất vì tai nạn ở Vũng Tàu tại tư gia đường Cao Thắng.

 

Qua hải ngoại, lần đầu năm 1986, tình cờ tôi gặp GS tại Boston nhân chuyến đi thăm người học trò Nguyễn Đình Tấn, Kỹ sư hóa học, được cho biết là GS đang ở tầng thứ ba trong một căn phòng kiến trúc xưa, dành riêng cho “người hầu” trong nhà (chambre de bonne). Căn phòng rất nhỏ, mái nghiên và trần rất thấp, chỉ có một ô vuông bằng kiếng độ 2 feet mỗi bề, và một chiếc bàn nhỏ làm văn phòng cho GS, bên cảnh một chiếc giường đơn nhỏ nhít và một kệ sách và đồ vật linh tinh. Và tầng thứ hai dành riêng cho ông bà Giác Đức. Còn gia đình người học trò ở tầng dưới cùng. Cuộc sống của GS là thế đó…

 

Và lần cuối cùng tôi gặp được GS là ở Minnesota năm 1987, lúc tôi làm postdoctoral cho National Institute of Health. Gặp GS hai lần trong hai buổi ăn sáng tại nhà GS Stephen Young. Lần cuối nầy, GS tiều tụy hơn trước nhiều do chứng ung thư cuống họng. Giọng nói ông yếu ớt, phát âm không thành tiếng rõ rệt, Ông có vẽ mệt mõi…

 

Và định mệnh đã mang GS Nguyễn Ngọc Huy vào vùng… miên viễn ngày 28 tháng 7 năm 1990 tại Paris, kết thúc một số kiếp của một người con Việt cô đơn và cô độc!

 

***

Xin có vài tóm lược về GS Nguyễn Ngọc Huy: Ông là thành viên của Đảng Đại Việt, tốt nghiệp Tiến sĩ Chính trị học năm 1961 tại Paris. Về Việt Nam Ông giảng dạy tại Học viện Quốc gia Hành chánh, Saigon. Nơi đây, Ông sang lập Phong trào Quốc gia Cấp tiến cùng với GS Nguyễn Văn Bông, Viện trưởng HVQGHC. Ông tham chính một thời gian rất ngắn qua vai trò Chánh sự vụ, bên cạnh Tướng Nguyễn Khánh đầu năm 1964. Tháng 11/1964, Ông vùng với BS Nguyễn Tôn Hoàn thành lập Đảng Tân Đại Việt và nắm vai trò Tổng Thơ Ký. Cuộc đời của GS Nguyễn Ngọc Huy dường như đã được an bài và gắn liền với Paris: Tốt nghiệp ở Paris. Trong thời Đệ II Cộng hòa Ông được đề cử là Cố vấn cho phái đoàn VNCH tham dự Hội đàm Paris năm 1968 – 1973. Và sau cùng ngày 28/7/1990, Ông mất tại Paris trên đường đi vận động quốc tế cho một giải pháp Việt Nam. Quả thật đó là một định mệnh oan nghiệt cho Ông. Quốc gia mất đi một người con Việt yêu dấu!

GS Nguyễn Ngọc Huy là một trong những nhân vật chính trị và học giả có ảnh hưởng lớn ở miền Nam Việt Nam trước năm 1975. Trong giai đoạn diễn ra cuộc đàm phán tại Hội nghị Paris về chấm dứt chiến tranh và tái lập hòa bình ở Việt Nam, ông không phải là thành viên chính thức của phái đoàn Việt Nam Cộng hòa, nhưng lại đóng một vai trò quan trọng trên mặt trận chính trị, học thuật và vận động dư luận quốc tế.

1-    Vai trò một nhà chiến lược chính trị


Các bên chính thức tham gia Hội nghị Paris gồm: Hoa Kỳ - Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (miền Bắc) - Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam - Việt Nam Cộng hòa. Phái đoàn Việt Nam Cộng hòa do Đại sứ tại Pháp, Phạm Đăng Lâm làm Trưởng phái đoàn; sau đó là  Phụ tá Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, Ông Nguyễn Phú Đức, đảm trách.

GS Nguyễn Ngọc Huy không giữ chức vụ chánh thức trong đoàn đàm phán này. Trong thời gian ở Pháp và châu Âu, GS Nguyễn Ngọc Huy hoạt động trên ba mặt:

  • Nghiên cứu chính trị và đóng góp ý kiến cùng nghiên cứu các phản biện cho phái đoàn VNCH;
  • Tiếp xúc giới học giả và báo chí, sinh viên và đồng hương cự ngụ tại Pháp;
  • Vận động dư luận quốc tế ủng hộ lập trường của Việt Nam Cộng hòa.

Ông cho rằng cuộc chiến Việt Nam không đơn thuần là nội chiến mà nằm trong bối cảnh đối đầu của Chiến tranh Lạnh, cuộc chiến ý thức hệ, đồng thời nhấn mạnh quyền tự quyết của người dân miền Nam.

2- Phản biện lập luận của Hà Nội

Một đóng góp đáng chú ý của Ông là xây dựng các lập luận học thuật chánh trị nhằm phản bác quan điểm của phía cộng sản Bắc Việt. Ông thường nhấn mạnh những nét căn bản trong ký kết ở Geneve ngày 20/7/1954 (xin ghi nhớ VNCH không có ký) rằng:

·        


Hiệp định Genève không trao chủ quyền giám sát toàn thể Việt Nam cho nhà cầm quyền Hà Nội;

  • Việt Nam Cộng hòa là một thực thể chánh trị có bộ máy nhà nước và liên quan ngoại giao với quốc tế riêng rẽ, có những cuộc phổ thông đầu phiếu công khai và dân chủ;
  • Việc sử dụng lực lượng quân sự từ miền Bắc vào miền Nam là yếu tố sau hiệp định Geneve của Bắc Việt là vi phạm Hiệp định, và làm leo thang chiến tranh.

Những lập luận này được trình bày trong các bài nghiên cứu, hội thảo và các cuộc tiếp xúc riêng với các học giả phương Tây.

3- Liên lạc với giới trí thức Pháp

Trong thời gian Hội nghị Paris kéo dài gần năm năm, Paris trở thành trung tâm tranh luận quốc tế về Việt Nam. GS Nguyễn Ngọc Huy đã diễn thuyết tại nhiều diễn đàn, gặp gỡ các giáo sư đại học ở Pháp và các quốc gia như Thụy Sĩ, Bỉ, Đức và Hòa Lan, trao đổi thường xuyên với giới báo chí Tây phương …nhằm giải thích rõ lập trường của Việt Nam Cộng hòa bằng tiếng Pháp và tiếng Anh.

Nhờ nền tảng học thuật và khả năng ngoại ngữ, ông được đánh giá là một trong những trí thức Việt Nam có sức thuyết phục trong các cuộc tranh luận quốc tế.

4- Đánh giá về Hiệp định Paris 1973

Sau khi Hiệp định Paris được ký kết, GS Nguyễn Ngọc Huy cho rằng:

  • Hoa Kỳ đã đạt được mục tiêu rút quân trong chính sách Việt Nam hóa chiến tranh.
  • Việt Nam Cộng hòa bị suy yếu về quân sự do việc giảm thiểu ngân sách quân sự và dân sự (USAID) cũng như làm suy yếu Việt Nam Cộng hòa trong lãnh vực  ngoại giao với quốc tế
  • Hiệp định Paris không tạo ra cơ cấu hữu hiệu để bảo đảm việc ngừng bắn ở miền Nam, cũng như ngăn chặn sự xâm nhập của quân đội Bắc Việt qua đường mòn Hồ Chí Minh.
  • Sự hiện diện của quân đội miền Bắc tại miền Nam vẫn còn mơ hồ, trong lúc đó, việc rút quân của quân đội Hoa Kỳ được xác nhận lịch trình chấm dứt sự hiện diện rất rõ ràng.  

Những nhận định trên về sau, được nhiều nhà nghiên cứu xem là có phần phù hợp với diễn biến dẫn đến sự sụp đổ của Việt Nam Cộng hòa năm 1975.

5 – Lượng giá chung


Nếu phân loại vai trò của GS Nguyễn Ngọc Huy trong giai đoạn Hội nghị Paris, chúng ta có thể tóm tắt lần lượt như sau:

-       Trong lãnh vực ngoại giao, vai trò của GS Nguyễn Ngọc Huy không phải là thành viên chánh thức của phái đoàn VNCH trong việc đàm phán;

-       Nhưng trong lãnh vực ngoại giao đại chúng, ông rất tích cực dấn thân ngày đêm cho công cuộc đấu tranh dành chánh nghĩa cho VNCH;

-       Về học thuật chánh trị, Ông phân tích và bảo vệ lập trường của VNCH;

-       Về chánh trị, Ông lãnh đạo Phong trào Quốc gia Cấp tiến nhằm đào tạo một tầng lớp trí thức cộng hòa mới dựa trên tinh thần dân chủ pháp trị, cũng như thành lập Đảng Tân Đại Việt, ngõ hầu xây dựng những cán bộ có trình độ lý luận dân chủ, quốc gia – cộng sản …nhằm đối đầu với triết lý cách mạng chuyên chính vô sản của CSBV;

-       Về mặt quốc tế, Ông, ngày đêm, tiếp xúc với các học giả, báo chí, và với giới chánh trị ở Pháp và các quốc gia Âu châu;

-       Đặc biệt, với tính giản dị và bình dân, Ông hòa mình vào lớp sinh viên, đồng hương trong khi đi vận động khắp nơi ở Pháp (người viết có duyên cơ đã đi cùng Ông ở nhiều nơi trong giai đọan nầy) như hòa mình ăn ngủ trong các trung tâm sinh viên giống như mọi người.

Nhiều sử gia nhìn nhận rằng nếu các trưởng đoàn đàm phán như Phạm Đăng Lâm hay Nguyễn Phú Đức là những người đại diện VNCH trên bàn hội đàm Paris, GS Nguyễn Ngọc Huy thuộc nhóm "kiến trúc sư tư tưởng" ở hậu trường. Ảnh hưởng của ông không nằm ở việc trực tiếp ký kết các văn kiện, mà ở việc hình thành và truyền bá cơ sở lý luận cho lập trường của Việt Nam Cộng hòa trong các diễn đàn học thuật và dư luận quốc tế. Đây là vai trò gián tiếp nhưng có ý nghĩa đáng kể trong bối cảnh cuộc chiến Việt Nam cũng là một cuộc đấu tranh về chính trị và tuyên truyền trên trường quốc tế.

Các phản biện của Nguyễn Ngọc Huy đối với lập trường của Hà Nội trong thời kỳ Hội đàm Paris (1968–1973) chánh yếu mang tính học thuật, pháp lý và chính trị, chứ không phải là những bài diễn văn công kích CSBV. Ông cố gắng sử dụng các nguyên tắc của luật lệ về bang giao quốc tế và khoa học chính trị để bảo vệ lập trường của Việt Nam Cộng hòa.


Rất tiếc, một tinh hoa của đất nước, một hòn ngọc của dân tộc đã ra đi rất sớm trên chặng đường tranh đấu cho độc lập tự do cho Việt Nam Cộng Hòa.

Chú thích: Qua những tài liệu, văn bản nghiên cứu của GS Nguyễn Ngọc Huy cùng những đúc kết trong những lần phản biện cùng phái đoàn cs Bắc Việt, có hai thành viên của phái đoàn hòa đàm là:

-       Ông Nguyễn Hữu Nghĩa, đặc trách báo chí cho phái đoàn, đã đúc kết và thành công trong tiểu luận cho bằng Maitrise ès Lettres ở Đại học Besancon;

-       LS Trần Thanh Hiệp, thành viên của phái đoàn cũng đã thành công trong luận án cho văn bằng Diplôme d’Études Approfondies en Droit ở cùng đại học trên.

Tất cả do người viết giới thiệu các vị trên với giáo sư bảo trợ và giúp đỡ trong những lần các vị trên về Besancon. Rất trân quý tinh thần học hỏi của hai vị, người thứ nhứt là bạn, thứ hai là bậc huynh trưởng. Cả hai vẫn còn mạnh khỏe và sống tại Paris.

Mời đọc tiếp Phần II- Phản bác trực diện với CSBV

Mai Thanh Truyết

Một thời Paris

Houston – 30-6-2026

 

Sunday, June 28, 2026

 Tình tự Dân tộc qua “Hận Sông Gianh” và “Hận Sông Bến Hải”

 

 


Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, có một bài thơ, sáng tác vào khoảng đầu thập niên 1950 nói về một nỗi đau của đất nước. Đó là bài “Hận Sông Gianh” của Đằng Phương tức GS Nguyễn Ngọc Huy đã đi vào lòng người miền Nam trước 1975. Và, trong một số bài viết chính luận và hồi ký, người ta thường dùng cụm từ:"Sau Hận Sông Gianh là Hận Sông Bến Hải" để ví von rằng sau nỗi đau chia cắt thời Trịnh–Nguyễn (Sông Gianh). Rồi đến nỗi đau chia cắt đất nước ở vĩ tuyến 17 (Sông Bến Hải) giai đoạn 1954–1975. Anh Việt Thu viết bài “Tám điệp khúc” khi vừa qua tuổi 20, tức là vào năm 1965. Bài nhạc ngũ cung rất đậm đà cái mùi của kiểu Nam Kỳ Lục Tỉnh. Tác giả thường nhắc đi nhắc lại:”Mẹ Việt Nam ơi! Hai mươi năm ngăn lối rẽ đường về - Mẹ Việt Nam ơi! Ai chia ly tan tác cả ngàn đời - Mẹ Việt Nam ơi! Con xin dâng xin hiến trọn cả đời."

 

Cả hai đều lấy tên một dòng sông làm biểu tượng nói lên những trăn trở về nỗi đau chia cắt đất nước. Quá khứ hơn 200 năm đối với Sông Gianh, và 20 năm đối với Sông Bến Hải, mãi cho đến hôm nay vẫn tiếp tục là một đề tài chúng ta suy gẫm, đề từ đó, có thể tìm một hướng đi mới cho tương lai Việt Nam. Với lời thơ:“Đây sông Gianh đây biên cương thống khổ Đây sa trường đây nấm mộ dân nam Đây giòng sông, giòng máu Việt còn loang Đây cổ độ xương tàn xưa”, nội dung nói về nỗi đau dân tộc vì cảnh phân tranh Trịnh–Nguyễn và sự chia cắt đất nước. Bài thơ này của thi sĩ Đằng Phương tức GS Nguyễn Ngọc Huy từng được nhiều thế hệ học sinh miền Nam biết đến trước 1975.

 

1-   


Điểm chung của hai dòng sông

 

Con sông Gianh ở Quảng Bình đã ghi dấu mốc lịch sử qua cuộc phân tranh Trịnh – Nguyễn vào thế kỷ 17, 18, và con sông Bến Hải, Quãng Trị nhắc nhở chúng ta về Hiệp định Genève, ký kết 20/7/1954 chia đôi đất nước qua vĩ tuyến 17. Nói về hai biến cố trên, kết quả là hận thù, tiếc nuối qua cuộc nội chiến dai dẳng giữa Đàng Trong và Đàng Ngoài. Ở thời Trịnh–Nguyễn, chiến tranh kéo dài hơn 200 năm làm cho đất nước suy yếu, ngoại bang có cơ hội can thiệp. Ở cuộc chiến ý thức hệ Bắc - Nam, có hàng triệu người chết và bị thương, gia đình ly tán, hận thù ý thức hệ kéo dài nhiều thế hệ cho đến ngày hôm nay 2026. Và dĩ nhiên, sau chiến tranh, sau ngày 30/41975, vẫn còn những vết thương chưa lành.

 

Cả các bài viết trên đều không nguyền rũa một bên nào. Tác giả chỉ “hận dòng sông” vô tình làm ranh giới ngăn đôi. Hận chứ không đau, chứ không phải kêu gọi trả thù. Và tình tự dân tộc thể hiện qua ba chữ: ĐAU - NHỚ - MONG.

·         Đau vì “một nhà” bị xé đôi, Nguyễn Ngọc Huy làm bài thơ “Hận Sông Gianh”, sau khi đất nước lại bị chia đôi lần nữa qua câu: “Non nước ngàn năm sao nỡ chia đôi”. Anh Việt Thu 1965 viết tiếp:“ Mẹ Việt Nam ơi! Hai mươi năm ngăn lối rẽ đường về - Mẹ Việt Nam ơi! Ai chia ly tan tác cả ngàn đời”, câu than thở cùng Mẹ Việt Nam vì ai mà dân tộc bi chia ly ngàn đời…chỉ vì vĩ tuyến 17. Nơi đây, người con Việt coi “non nước ngàn năm là một”, cho nên khi bị cắt đôi thì “đau như cắt ruột”.

·         Nhớ vì cùng một cội nguồn, cà hai bài đều nhắc “bến xưa”, “dòng sông”, “cầu”, “người yêu bên kia sông”. Sông Gianh/Bến Hải không phải sông của riêng ai. Người Bắc có họ hàng ở Nam, người Nam có mồ mả tổ tiên ở Bắc. Từ đó, tình dân tộc vẫn nhớ và còn nhận nhau là đồng bào. Dù chính kiến khác, dù sao vẫn còn, vẫn gọi “anh em một nhà”.

·         Mong vì không chấp nhận chia cắt mãi vì “Hận Sông Bến Hải” kết bằng “Ngày thống nhất, cầu nối đôi bờ”, “Hận Sông Gianh” dù tên là “Hận” nhưng thực chất là tiếc cho 200 năm Trịnh - Nguyễn nhằm nhắc chừng đừng để lịch sử lặp lại. Tình tự dân tộc nơi đây mong thống nhất không phải vì phe nào thắng, mà vì “Nam -  Bắc một nhà” mới là trạng thái bình thường của dân tộc.

 

Vận dụng “hận dòng sông” để nói lên một điều: “Người Việt sợ nhất là chia cắt. “Hận” ở đây không phải hận con người, mà hận hoàn cảnh, hận chiến tranh, hận ranh giới vô hình. Càng hận chia cắt, càng chứng tỏ tình yêu với “một dải non sông” vẫn còn nguyên vẹn. Vì vậy, bài thơ của Đằng Phương cho tới giờ, lời thơ trên vẫn được ngâm mãi. Không phải để khơi lại thù cũ, mà để nhắc rằng, đất nước nầy, dân tộc nầy, chỉ đẹp nhứt khi không còn sông nào làm đường ranh biên giới cả!   


Có phải "ngăn đôi đất nước" chỉ là lỗi của một phía?

 

Khúc quành của Sông Gianh

 

Nếu nhìn bằng lăng kính chính trị, mỗi phía đều có lý lẽ riêng, nếu nhìn bằng lăng kính dân tộc, người chết đều là người Việt, người mất nhà cửa đều là người Việt và người gánh hậu quả và phải chịu thiệt thòi cũng đều là người Việt. Do đó, người con Việt hôm nay có thể giữ quan điểm chính trị khác nhau, nhưng cũng cần thừa nhận một sự thật là chia cắt dân tộc luôn là bi kịch, không phải chiến thắng dù là của một phía nào.

Vì vậy, thái độ ứng xử hiện nay của những vị thức giả sẽ nên như thế nào?

Chúng ta không quên lịch sử, không phủ nhận sự thật lịch sử, không bóp méo quá khứ, không biến lịch sử thành công cụ tuyên truyền một chiều. Và chắc chắn chúng ta không nuôi dưỡng hận thù. Sau hơn 50 năm kể từ năm 1975, thế hệ trẻ không có trách nhiệm trả thù quá khứ và họ có trách nhiệm học từ quá khứ. Một dân tộc mạnh là dân tộc biết nhớ lịch sử, nhưng không sống bằng hận thù lịch sử. Người Việt trong nước, người Việt hải ngoại, người từng ở miền Bắc, người từng ở miền Nam, đều là thành phần của cộng đồng dân tộc Việt Nam.

Không ai có độc quyền yêu nước cả, kể cả Đàng Cộng sản Bắc Việt.

3-    Tình tự dân tộc cần được định nghĩa lại

 


Cầu Hiền Lương

 

Không phải là mọi người phải suy nghĩ giống nhau. Tình tự dân tộc cần được hiểu là cùng nhận chung một nguồn cội, cùng chia sẻ trách nhiệm với tương lai đất nước, cùng tôn trọng phẩm giá của đồng bào mình.  Người Việt có thể khác chính kiến, khác vùng miền, khác trải nghiệm lịch sử; nhưng vẫn có thể cùng mong muốn đất nước thịnh vượng, xã hội công bằng, môi trường được bảo vệ, con cháu có tương lai tốt đẹp hơn. Người Việt cần nên, dù bất đồng thế nào, vẫn nhận nhau là đồng bào. Tinh thần ấy từng được Nguyễn Trãi nhắc đến qua tư tưởng "lấy đại nghĩa thắng hung tàn", và qua Phan Châu Trinh khi đề cao “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”.

 

Người Việt thời trí tuệ nhân tạo - AI có thể rút gọn bài học của Sông Gianh và Sông Bến Hải thành một câu:”Chia rẽ làm dân tộc suy yếu; hòa giải trên nền tảng sự thật làm dân tộc mạnh lên”. Và có lẽ câu hỏi quan trọng nhất hôm nay không phải là:"Ai thắng trong quá khứ?" mà là:"Người Việt sẽ cùng nhau xây dựng tương lai như thế nào?".

 

Và câu hỏi:” Hận Sông Gianh, Hận Sông Bến Hải có làm mất tình tự dân tộc không? Câu trả lời ngắn sẽ là có thể làm suy yếu tình tự dân tộc, nếu hận thù được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Nhưng chúng ta không thể xóa bỏ hoàn toàn tình tự dân tộc, vì ý thức mình là người Việt vẫn tồn tại sâu trong văn hóa, ngôn ngữ và lịch sử chung. Không một cá nhân nào, một nhóm nào, một đảng phái nào… có thể triệt tiêu được tình tự dân tộc Việt hết cả! Đó là hồn nước, hồn thiêng sông núi. Đó là di sản của tổ tiên Việt. Và đó cũng là căn tính Việt.

4-    Bài học cho người Việt hôm nay

Nếu chỉ giữ lại hận Sông Gianh hay hận Sông Bến Hải, dân tộc sẽ tiếp tục bị quá khứ dẫn dắt.Nếu giữ lại bài học của Sông Gianh và bài học của Sông Bến Hải, dân tộc có thể trưởng thành hơn, và có những bước đi tích cực hơn. Có lẽ điều đáng suy ngẫm là không phải vì quên hận thù mà người ta mất chính nghĩa, mà vì biết đặt tương lai dân tộc cao hơn hận thù, người ta mới thực sự gìn giữ được tình tự dân tộc. Với tư thế của một người con Việt, dù đứng ở phía nào của lịch sử, câu hỏi cuối cùng vẫn là, điều gì có lợi nhất cho dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XXI?"

Khi câu hỏi ấy được đặt lên trước, hận thù thường nhỏ lại, còn tình tự dân tộc thường lớn lên, và ngày càng tăng trường thêm lên, và con đường tương lai Việt Nam rộng mở hơn.

5- Tình tự dân tộc để thoát khỏi bế tắc hiện tại

Lịch sử đã qua trang hơn 50 năm qua rồi, người Việt trong nước hay hải ngoại đều có tri thức, đều có kinh nghiệm, và đều có lòng yêu quê hương theo cách riêng. Nếu còn nhìn nhau bằng lăng kính thắng - thua của thế kỷ XX thì rất khó huy động toàn bộ nguồn lực dân tộc. Nhật Bản, Đức, Hàn Quốc đều từng trải qua chia rẽ, chiến tranh và đổ vỡ. Điều giúp họ đi lên là hướng về tương lai, xây dựng thể chế hiệu quả, phát huy tài năng của mọi công dân. Tất cả là vì tình tự dân tộc của mỗi nước.

Xin nói với người cộng sản Bắc Việt là, tài sản lớn nhất của Việt Nam không phải là đất đai hay khoáng sản, hay việc cầm chịch quyền lực để cai trị. Mà, “Tài sản lớn nhất của nước Việt Nam là hơn 100 triệu con người Việt Nam”. Do đó, tôi, người viết nói:“các ông” cần:

5.1- Khơi mở Giáo dục khai phóng

Một nền giáo dục hiện đại cần có các giá trị sau: - Nhân bản - Dân tộc - Khai phóng - Khoa học. Đó thực ra cũng là những giá trị phù hợp với thế kỷ XXI. Một nền giáo dục tốt phải đào tạo ra con người biết suy nghĩ độc lập, biết phản biện, biết tôn trọng sự thật, và nhứt là biết tương tác với nhau. Giáo dục từ chương, và việc học thuộc lòng ngày càng kém giá trị vì nó đánh mất khả năng sáng tạo và suy nghĩ phản biện của học sinh/sinh viên.

5.2- Bảo vệ môi trường như bảo vệ tương lai dân tộc

Nhìn từ góc độ dân tộc, việc mất rừng là mất tương lai, việc ô nhiễm nguồn nước là mất tương lai, và việc suy thoái đồng bằng sông Cửu Long là mất tương lai. Sau hơn 50 năm, những vấn đề như việc khai thác tài nguyên thiếu kiểm soát, việc ô nhiễm công nghiệp, việc suy giảm đa dạng sinh học;, việc sạt lở và việc xâm nhập mặn ở đồng bằng sông Cửu Long v.v… không phải là vấn đề của riêng một địa phương. Đó là vấn đề sinh tồn của quốc gia. Một dân tộc không thể giàu lâu dài nếu môi trường bị hủy hoại.

5.3- Xây dựng thể chế khuyến khích sáng tạo

Các nhà kinh tế như Douglass North, Daron Acemoglu và James A. Robinson đều nhấn mạnh rằng, sự thịnh vượng lâu dài của một quốc gia phụ thuộc rất nhiều vào phẩm chất của thể chế. Một xã hội phát triển cần có luật pháp được tôn trọng, tài sản được bảo vệ, cơ hội tương đối bình đẳng cho mọi công dân; và tài năng cá nhân đều được trọng dụng. Khi người dân tin rằng nỗ lực của họ được ghi nhận, xã hội sẽ năng động hơn, và được điều hợp nhuần nhuyễn hơn.

5.4- Giữ độc lập dân tộc trong một thế giới đang cạnh tranh khốc liệt

Việt Nam nằm ở vị trí địa chính trị rất đặc biệt. Lịch sử cho thấy, nếu quá lệ thuộc vào bất kỳ cường quốc nào đều có rủi ro; nếu tự cô lập với thế giới cũng có rủi ro. Điều quan trọng là cần tăng nội lực bằng cách tạo sự đồng thuận của đa số người dân nếu có một chính sách phát triển quốc giá đúng đắn và thích hợp với hoàn cảnh đất nước. Một quốc gia mạnh không chỉ vì quân đội được trang bị vũ khí tối tân, mà một quốc gia mạnh vì người dân có tri thức và niềm tin vào tương lai.

Sau hơn 51 năm thống nhứt toàn cõi đất nước, nhưng người CSBV vẫn còn khư khư quản lý đất nước qua những giáo điều đã từng bị chính “cái nôi” cộng sản đã từ bỏ từ lâu rồi. Chính vì vậy quê hương vẫn còn trì trệ trong phát triển và lòng người vẫn còn chia rẽ triền miên. Chính người cộng sản Việt phải hiểu được điều trên, để rồi mạnh dạn điều chỉnh những vấn nạn vừa kể trên, May ra, nếu CSBV thực hiện được những điều đó, chắc chắn chỉ trong một thời gian ngắn ngắn, một Việt Nam sẽ được thành hình với sự đóng góp của những con Việt đúng nghĩa từ khắp bốn phương…

6- Hình dung suy nghĩ của một “đứa con Việt thế hệ AI”

 

Tuổi trẻ thế hệ trí tuệ nhân tạo nhìn bằng dữ liệu, không bằng hận thù: Thế hệ Tôi (tuổi trẻ hiện tại 2026) lớn lên với Google Maps, không có vĩ tuyến 17 trên bản đồ nữa. Nếu gỏ “Sông Bến Hải” sẽ ra ngay cầu Hiền Lương sơn 2 màu, gỏ “Sông Gianh” ra cầu Quán Hàu kết nối Bắc - Nam. Vì vậy cho nên “hận dòng sông” với Tôi không còn là hận ranh giới, nhưng mà là hận vì ngày xưa ông bà Tôi phải chọn “bên này hay bên kia”. Dữ liệu lịch sử cho tôi thấy hơn 200 năm Trịnh-Nguyễn phân tranh, 20 năm chia đôi đất nước vì ý thức hệ... người thiệt nhất luôn là người dân bình thường, là “cô gái bên sông” trong các bài “hận”. Chúng Tôi hận chiến tranh, chứ không hận đồng bào.

 

“Một nhà Bắc – Nam” được định nghĩa rộng hơn: Ông bà trước đây định nghĩa “một nhà” là Bắc và Nam không bị chia cắt. Thế hệ AI chúng Tôi định nghĩa “một nhà” với 54 dân tộc thiểu số, trên 90 triệu người Việt trong nước, cùng với 5 triệu người Việt hải ngoại. Nghe “Hận Sông Bến Hải”, Tôi không chỉ nghĩ tới Quảng Trị. Tôi nghĩ tới mọi “dòng sông vô hình” đang chia cắt dân tộc mình, mặc dù chúng ta không định hình được những lằn ranh chia cắt. Chúng ta chia cắt vì vùng miền chê nhau, chia cắt vì giàu - nghèo, chia cắt vì suy nghĩ “phe này - phe kia” trên mạng xã hội. Chúng ta chia cắt vì hai chữ Quốc gia – Cộng sản? GS Nguyễn Ngọc Huy “hận sông” vì sông làm chia đôi đất nước. Còn chúng Tôi “hận” vì kỹ thuật toán, tiến bộ khoa học … chia đôi con người.

 

Từ “mong thống nhất” đến “mong kết nối”: Các ông bà xưa ở hai miền mong xe tăng vượt qua cầu Hiền Lương từ phía Bắc xuống hay từ phía Nam lên. Còn chúng Tôi mong một cú nhích “chuột” là gọi facetime cho bà ngoại ở Nghệ An, cho anh họ ở Sài Gòn, cho cô ở Cali, chúng Tôi mong data chạy nhanh hơn đạn, mong wifi mạnh hơn bom. “Hận Sông Gianh” hơn 200 năm mới liền. Hận Sông Bấn Hải mất 20 năm mới thông thương lại. Bây giờ có cáp quang AAG rồi, chỉ cần một giây thôi là có thể nối liền được ngay.  

 

Thống nhất địa dư đã xong từ năm 1975 rồi.

Bây giờ là thống nhất “tinh thần”.

 

Nếu cố GS Nguyễn Ngọc Huy còn sống tới năm 2026, Tôi nghĩ bác sẽ không viết “Hận Sông Gianh” nữa. Mà sẽ viết:“Nhớ về Sông Gianh” hay “Thương Sông Bến Hải”. Thương vì sông từng là vết thương đẫm máu của cả hai miền. Và nhớ vì nhờ vết thương chia rẽ Đàng Trong và Đàng Ngoài đó mà dân tộc mình hiểu được sự chia cắt đau lắm. Cho nên, hiện giờ có AI, có 4G, có 5G rồi, xin đừng tự cắt - chia nhau nữa!

 

Nói gọn lại là Ông bà đã từng “hận sông” vì sông chia đôi nước. Chúng Tôithương sông” và hứa không để ý tưởng, định kiến... chia đôi lòng người nữa.

7- Lời trần tình của người viết

Sông Gianh và Sông Bến Hải là hai vết thương rỉ máu trong dòng lịch sử Việt, nhưng dù có đau thương đến đâu, các vết thương đó cũng không thể xóa bỏ được tình tự dân tộc Việt Nam. Điều làm dân tộc suy yếu không phải là ký ức lịch sử, mà là hận thù kéo dài và chia rẽ kéo dài. Người Việt có thể khác nhau về quan điểm lịch sử trong quá khứ, nhưng vẫn có thể cùng chung một tình yêu quê hương và trách nhiệm với hiện tại và tương lai đất nước.


Người viết đã từng quan niệm:”Dù muốn dù không, những người CSBV cũng là những người con Việt, cùng nói một ngôn ngữ Việt, chẳng lẽ không cùng đối thoại với nhau hay sao?”. Chính suy nghĩ trên làm cho người viết quyết định ở lại Sài Gòn ngày 30/4/1975. Cũng như quyết định “ra đi” sau hơn bảy năm “sống cùng với chế độ”. Hôm nay, nhìn lại hai quyết định trên, người viết vẫn nghĩ là hai quyết định trên “vẫn không trật” cho dù cũng đã trả một giá tương đối đắt vì đã mất hơn bảy năm… đóng góp cho quê hương?

Hôm nay, xin tiếp tục suy nghĩ, trong thế kỷ XXI và thời đại trí tuệ nhân tạo AI, bài học lớn nhất là:”Lấy tương lai thay cho hận thù, lấy tri thức thay cho giáo điều, lấy việc dung hợp dân tộc thay cho sự chia rẽ dù đứng dưới hình thức nào hay nhãn quan nào!” Và có lẽ điều quý giá nhất mà người Việt cần giữ là:"Chúng ta trước hết là người Việt Nam, rồi sau đó, mới thuộc về bất kỳ phe phái, vùng miền hay thế hệ nào."

Đó chính là cốt lõi của tình tự dân tộc và cũng là con đường để dân tộc Việt Nam phát triển bền vững trong tương lai.

Một người Con Việt – Mai Thanh Truyết

Mùa Vu lan trong Phật giáo - 2026

Tháng của hy vọng và sự biến đổi tâm hồn trong Thiên Chúa giáo