Wednesday, February 4, 2026

 

Người bạn, Người đồng chí


Thành ngữ Pháp có câu: "Le moi est haïssable! - nói về cái tôi rất dễ ghét!" Tại sao bắt đầu bài giới thiệu sách của một người bạn bởi thành ngữ nầy? Vì viết, nói về Mai Thanh Truyết, giới thiệu những bài viết của Mai Thanh Truyết, một người bạn, một người đồng chí là nói ra những cái tâm tư tuy là giấc mơ, là tâm huyết của bạn nhưng cũng là của tôi nữa. Nói về Mai Thanh Truyết, nói về sách, nói về bài viết của Mai Thanh Truyết là nói về mình. Nói về những giấc mơ của mình.

Lần đầu bỡ ngỡ:

Hòa đàm Paris năm 1968. Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy được Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cử sang Paris cố vấn phái đoàn Việt Nam Cộng Hòa. Mùa Đông 1969, tôi nhận điện thoại từ Paris cho biết là Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy cần gặp tôi. Nhớ lại từ 1964 khi Bác sĩ Nguyễn Tôn Hoàn và Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy trở về nước tham chánh tôi chưa gặp lại hai chú bác ấy. Tôi vẫn thường gọi Bác sĩ Nguyễn Tôn Hoàn là Bác Tư và Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy là Chú Ba; chú Ba gọi là tôi phải lên ngay. May quá, năm ấy tuy làm phụ giảng (assistant) ở Viện Nghiên Cứu Quốc tế ở Toulouse, tôi không có giờ dạy học mà chỉ làm quản thủ cho thư viện của Viện thôi, và tôi có thể xin nghỉ một tuần, bù vào ngày nghỉ mùa hè để lên Paris gặp chú Ba.

Chú Ba muốn được giới thiệu những người tin tưởng để đưa Chú Ba đi gặp đồng bào ở Âu châu. Dĩ nhiên, vùng nào đều có thổ công đó. Vùng Toulouse và phụ cận mình lo được chứ những vùng khác phải làm sao tìm cho được thổ công, vừa đáng tin cậy, vấn đề an ninh và an toàn cho giáo sư Huy, phải quen biết nhiều, có uy tín.

Tôi đã biết Mai Thanh Truyết trước rồi, nhưng thật sự, trong dịp ấy, chúng tôi mới quen nhau. Mai Thanh Truyết đang học Tiến sĩ Hóa học ở Besançon, một thành phố nằm ở miền Đông xứ Pháp, một trong những vùng lạnh nhứt nước. Với cặp mắt nhìn thẳng, nụ cười cởi mở, và cái ít gặp nơi người Việt ta, kể cả ở những sinh viên du học thời bấy giờ là "đúng giờ ". Mai Thanh Truyết là "con người đúng giờ", và tôi cũng thế, nên mới ngày đầu làm việc chung, tuy mới quen nhau, hai thằng đã y hẹn, "đúng giờ" và đã nghéo tay dễ dàng với nhau. Truyết "khó tánh" hơn tôi, dễ nổ, dễ "quạu" khi gặp những ai đi trễ giờ, hay làm sai hay  "quá du di không đúng với những giao ước", Truyết rất khoa học, chỉ "hoặc đúng hoặc sai" thôi, tôi dân luật nên thường "tùy trường hợp, tùy điều kiện" hơn.

Tuy dễ nhịn nhục hơn Truyết, nhưng vẫn "bực mình", nhưng nhờ Nam kỳ tánh, nên đành lầm bầm "chửi thề", cho đỡ đau dạ dầy. Vả lại, "chửi thề", ít "thất đức" hơn vì "mình chửi mình nghe", - ba tui dạy tui dzậy - vì khi mình chửi mắng người ta, mình bị tổn đức, và gây ơn oán giang hồ. Có lẽ vì vậy, ngày nay, tôi rất "dễ chửi thề". 

Chúng tôi lúc ấy chỉ lo cho công việc chung, không có thời gian làm quen và nói chuyện riêng; nên cả hai chúng tôi đều không ai giới thiệu vợ con với nhau cả. Và sau hai ngày ở Besançon, Truyết lãnh trách nhiệm vừa lái xe đưa Giáo sư đi vừa lo tổ chức những cuộc nói chuyện của Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy, tôi hết nhiệm vụ, hết ngày phép nên về lại Toulouse. Và chúng tôi cũng bặt tin nhau, chẳng ai gọi ai cả. Tại sao? Chính tôi ngày nay vẫn không hiểu.

Hội ngộ giữa Sàigòn:

Tháng 7 năm 72, sau khi An Lộc được giải tỏa, tôi được giải ngũ và biệt phái trả về bộ Giáo dục, Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy, lúc bấy giờ trách nhiệm lãnh đạo Tân Đại Việt và Phong trào Quốc gia Cấp tiến, giao cho tôi hai công tác:

-         Một là, tổ chức Trí thức vận. Tôi đi tìm và gặp Mai Thanh Truyết sau đó hơn một năm trời tức là năm 1973 tại Sài Gòn; sau đó, tôi rủ Truyết đi cùng tôi đến gặp Chú Ba Huy. Sau mấy năm không gặp nhau mà trông Truyết đã già dặn hẳn, có một tấm vóc rất "giáo sư", rất "lãnh đạo", một người đang dấn thân và sẵn sàng dấn thân. Tuy mới gặp lại nhau, nhưng chúng tôi, sau khi bắt tay nhau, đi vào thẳng vấn đề, như vừa xa nhau ngày hôm qua. Truyết và tôi được Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy, anh Ba chỉ thị lập thành một tổ riêng biệt, bí mật, tổ chức mạng lưới giáo chức. Chúng tôi tìm gặp những chuyên viên trong ngành giáo dục để tổ chức một mạng lưới giáo dục cho Việt Nam hậu chiến tranh.

Thừa lệnh Giáo sư, tôi đã giới thiệu Truyết vào Đảng và Truyết bí mật «Tê Đơ» Tân Đại Việt tại nhà Ông Cụ tôi, là anh Ba Xướng, đường Nguyễn Duy Dương, sau lưng trường Nam Sinh Mù chợ An Đông. Hôm ấy có mặt Giáo sư do ông cậu tôi là Thiếu tá Nguyễn Trọng Đệ chở đến. Hệ thống Trí thức Vận, Truyết và tôi, bị cạnh tranh rất mạnh bởi ảnh hưởng của ông cố vấn về sau Tổng trưởng Bộ Dân Vận là anh Hoàng Đức Nhã, cũng là anh bạn đồng môn trung học Lycée Yersin với tôi.

-         Công tác thứ hai nằm trong suy nghĩ tổ chức một Trường Đại học có nhiệm vụ năng luyện những quản trị gia chuyên nghiệp. Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy giao cho tôi và anh Trần Minh Xuân dựng một Viện Đại Học thương mãi, «Trường Cao đẳng Thương mãi Minh Trí». Công tác là phải tạo một lớp cán bộ cán sự và chủ sự trong những ngành công thương nghiệp tư doanh của mạng lưới kinh tế tương lai của Việt nam.  Tôi làm nhiệm vụ đảm nhận trách nhiệm Trường Cao Đẳng Minh Trí với giáo sư Trần Minh Xuân. Truyết lúc ấy đang làm việc ở Đại học Sư Phạm Sài Gòn và cũng có vị trí tổ chức ở Viện Đại học Cao Đài, Tây Ninh, nên không cùng tôi trong công tác ấy. 

Mạng lưới Đại học Sư phạm, Đại học Cao Đài, Cao Đẳng Minh Trí đan với mạng lưới Quốc Gia Hành Chánh và các sĩ quan Quân đội Việt Nam Cộng Hòa sẽ củng cố vai trò của Đảng Đại Việt và các đảng viên Đại Việt tái thiết một Việt Nam hậu chiến tranh, với một tư tưởng, một lý thuyết, trong một đồng thuận nhứt định mà chất keo là tư tưởng và lý thuyết Đại Việt. Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy, Giáo sư Nguyễn Văn Bông đã gieo rắc cán bộ hành chánh của nền Cộng hòa Việt Nam với những ý niệm, quan niệm, tư tưởng cho một nền tảng chánh trị, hành chánh công minh, sáng sủa, với những quan niệm rõ ràng về dân chủ hiến định thực sự, đối trọng ngang tầm với một  đối lập xây dựng, kiểm soát (Nguyễn Văn Bông), với những chu kỳ thay phiên cầm quyền (Nguyễn Ngọc Huy) Quan niệm "Check and Balance" biến thành tập tục chánh trị dân chủ. Cùng với hai Giáo sư, cũng cần nên nhắc đến Ký giả Phạm Thái Nguyễn Ngọc Tân, tức anh Bảy Bớp đi gieo những hạt giống dân chủ.

Và hiện nay, cả ba con chim đầu đàn đã đi vào thiên cổ. Xin đốt lên một nén hương để tưởng niệm Ba Vị đàn anh trong gia đình Đại Việt.

Đến phiên chúng tôi, anh Trần Minh Xuân và tôi, chúng tôi lãnh sứ mạng gieo rắc và tổ chức mạng lưới cán bộ dân sự tương lai đóng góp cho mạng lưới quản lý các công thương nghiệp tư doanh cho Việt Nam thời hậu chiến tranh. Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy đã nghĩ đến thời hậu chiến ngay từ những năm 70 của thế kỷ trước.

Viện Đại học Cao đẳng Thương mại Minh Trí khai giảng mùa nhập trường năm 1974 và tan hàng cùng với đất nước vào ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Những ngày mất ngày tháng

Sau ngày Việt Nam Cộng Hòa tan hàng rã ngũ, anh em tứ tán bốn phương trời, tù đày cực nhọc nhiều hơn thoải mái sung sướng. Ba tôi và hai em tôi đi tù, tôi giữ trách nhiệm quản lý công ty BGI La Ve, nước đá, nước ngọt, núp bóng qua ngày.

Còn bạn tôi, Truyết, chỉ một thời gian ngắn sau ngày 30 tháng 4, bị "mời" ra khỏi ban giảng huấn vì một tội danh, tuy không nói ra, nhưng qua những người đồng nghiệp, đó là tội "có tinh thần quần chúng" mà chế độ không thể chấp nhận một "đức tánh" chỉ dành riêng cho cán bộ đảng cộng sản mà thôi. Nhưng, với cái thông minh và tài năng của nghề nghiệp trong một cái ngành rất hiếm có ở Việt Nam, Truyết được một cán bộ ở Thành ủy lưu ý và mời về phụ trách Trạm Sản Xuất Thí Nghiệm, một tiền thân của Trung tâm Nghiên cứu Sản xuất thử, và sau cùng cho đến hiện tại là Ủy ban Khoa học thành phố ngụ tại 244 Đường Điện Biên Phủ, Sài Gòn.

Truyết cũng phải nín thở sang sông. Nhưng chúng tôi cũng bắt liên lạc lại với nhau. Cái hy hữu là chính những cán bộ quân quản Việt cộng ái mộ tài nghệ anh Tiến sĩ hóa học Mai Thanh Truyết giới thiệu Mai Thanh Truyết với tôi, Giám đốc một công ty sử dụng rất nhiều hóa chất, từ kỹ nghệ lạnh đến nước ngọt, la-ve...

Ban ngày, chúng tôi, hai chuyên viên, có đôi lần gặp nhau ở văn phòng tôi, đường Hai bà Trưng. Nhưng tối đến, tôi thường, cùng các nhơn viên ra bến tàu hóng mát, ăn hột vịt lộn nhậu la de, và bạn Truyết cũng "tình cờ" có dịp ra hóng mát ở bến tàu nhập bọn với chúng tôi. Chúng tôi giữ rất bí mật, không bao giờ gặp riêng hai đứa, cạnh chúng tôi, luôn luôn có người, hoặc là dân BGI làm việc cùng tôi, hay giáo chức quen với Truyết, có khi có cả cán bộ quân quản BGI nhập bọn với dân la-ve.

Trong cảnh tranh sáng tranh tối của bến tàu, chúng tôi cầm tay nhau, cố gắng ngó mắt nhau khích lệ lẫn nhau. Tôi không một lần hỏi thăm gia đình Truyết, xem vợ con Truyết thế nào? Cũng như Truyết không bao giờ hỏi thăm tình cảnh vợ con tôi.

Bạn với nhau cả nửa đời người, hai đứa chúng tôi vẫn không biết tên những đứa con của nhau. Gia đình Truyết, tôi chỉ thực sự gặp lần đầu, khi gặp nhau lại ở Mỹ năm 1994. Vợ chồng Truyết trái lại, đã đến thăm cha mẹ tôi sau năm 1978, sau khi Truyết ở tù về và trước khi vượt biển.  

Rồi đến phiên tôi đi tù, rồi đến phiên Truyết đi tù, Chúa Phật thương chúng tôi nên gởi anh bạn Truyết vào phòng giam của tôi. Chúa thương tôi nên tôi được bà vợ đầm la ó làm khó dễ với cơ quan công an quản thúc, nên tôi được đặc biệt thăm nuôi dồi dào và tử tế hơn những người tù khác. Để trả ơn Chúa, mâm cơm hằng ngày của tôi luôn luôn có những người bạn thay phiên chia sẻ, vì vậy tôi được hân hạnh làm quen với rất nhiều bạn, mà trong đời sống xã hội bình thường của Việt Nam tôi không có dịp gặp: những nhà văn nhà thơ văn nghệ sĩ, những tu sĩ, những cậu bé gan dạ anh hùng rải truyền đơn chống cộng sản như: các anh Nhà thơ Trần Dạ Từ, Họa sĩ Đằng Giao, Giáo sư Ma Xuân Đạo,  Linh mục Nguyễn Hữu Lễ, Nhà báo Đinh Quang Anh Thái thời còn là một cậu học sinh lưu lạc, bác cựu Đại sứ Nguyễn Quý Anh, các Luật sư Mai Văn Lễ, Vũ Ngọc Truy, các đồng môn Lycée Yersin Luật sư Trần Danh San, Luật sư Nguyễn Hữu Giao, các Thầy Vũ Quốc Thông... và nhiều bạn nữa nay không nhớ hết tên xin quý vị tha lỗi cho.

Thời gian Truyết ở tù chung phòng với tôi, Truyết ăn chung mâm cùng tôi và Đinh Quang Anh Thái. Thái không biết chúng tôi đã là anh em với nhau từ trước, vì tôi đối đãi với Truyết như là một người mới quen trong tù, sau nầy có thể qua Mỹ, Thái mới biết anh em chúng tôi quen nhau từ lâu.

Nhờ là chuyên viên trong ngành chuyên môn, nên Việt cộng không xem Mai Thanh Truyết là ác ôn và Truyết được thả ra sau một thời gian "dằn mặt". Còn tôi tiếp tục lật vài cuốn lịch nữa trước khi "được" hay "bị" trục xuất đuổi về "xứ vợ" tháng 6 năm 1980.

Tái ngộ

Năm 1989, sau bao năm tháng lưu lạc tha phương cầu thực ở châu Phi và châu Âu, tôi bỏ tất cả về định cư ở Poitiers và trở lại ngành dạy học. Hè 1994, nhờ vào ngành Giáo dục nên có nghỉ hè, tôi đi Mỹ thăm gia đình em gái, đây lần đầu tôi đi Mỹ. Và tôi gặp lại Mai Thanh Truyết và gia đình Bác sĩ Nguyễn Tôn Hoàn. Mặc dù với Đảng, tôi đã bắt lại liên lạc với Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy ngay từ những năm 1980 khi tôi vừa đặt chân đến đất Pháp, nhưng sau đó, vì cuộc sống bên kia biển Địa Trung Hải nên tôi không có dịp sinh hoạt với nhóm của giáo sư Huy ở Paris. Vả lại Giáo sư Huy vẫn muốn tôi giữ tung tích kín, vì ông cần sử dụng tôi trong những công tác đặc biệt. Ông thường gọi điện thoại để giao cho tôi những công tác ngoài đoàn thể. Bác sĩ Nguyễn Tôn Hoàn cũng thế, khi gặp lại tôi, ông cũng không muốn để tôi lộ mặt ra. Và đối với Mai Thanh Truyết cũng thế.

Đấu tranh

Gặp lại Truyết, câu đầu tiên là "bồ vẫn như ngày nào với mình sống chết có nhau" "Song sao Truyết vậy", và bắt tay cái cụp, chúng tôi có chụp bức hình kỷ niệm ấy, không biết Truyết, bồ còn giữ không? Mình trân quý nó lắm!

Và bạn Mai Thanh Truyết từ năm 2005, đã chấp nhận ra ánh sáng cùng với tôi điều hành Đại Việt Quốc Dân Đảng nên tôi mới kể chuyện nầy, trước là để cám ơn Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy đã dành cho tôi những ưu ái đặc biệt, sau cũng để giới thiệu bạn Mai Thanh Truyết.

Và chúng tôi, ngay những ngày ấy đã nhận rõ và chia vai trò với nhau: vai trò của Truyết phải trau dồi tài nghệ nghề nghiệp và để tái tạo một trận đánh trên lãnh vực khoa học, đánh vào cái chỗ yếu của Việt Cộng: môi sinh, môi trường, hóa chất, nước, nước thải, rác, hóa chất độc hại, cùng những vấn đề nhức nhối của Nhơn loại, và chỗ yếu của những nước kém phát triển và yếu kém về mặt quản trị. Vì đó là nghề của Truyết, Truyết sẽ đem nghề nghiệp, sở trường khả năng mình phục vụ cho chánh trị và đấu tranh cho dân chủ và tự do cho Việt Nam. Dùng nghề nghiệp, sở trường, và tấm lòng son sắt đối với quê hương của mình biến thành vũ khí đấu tranh chánh trị.

Còn vai trò tôi?

Tầm thường hơn, bổn phận tôi là tôi sẽ làm ông từ đường rán giữ cái nhà Đại Việt.

Gặp nhau lần đầu hai anh em đã thấy rõ chiến trường tương lai sẽ do môi sinh và môi trường chủ động, sông ngòi, nguồn nước, không khí, ô nhiễm, phân bón, rác rưới, nước thải... nói tóm lại kinh tế càng phát triển để nuôi sống con người, càng phải quản lý chặt chẽ và khoa học những đầu nguồn và những phế thải của sự sống của con người. Nói tóm lại phải biết phát triển bền vững và biết quản lý nguồn sống. Môi trường sẽ là một đề tài chánh trị lớn, trị nước an dân vẫn sẽ do chánh trị, kinh tế nhưng chánh trị kinh tế là quản trị với môi trường, với đạo đức, trong sạch trong sáng, luật lệ phân minh và sống với quốc tế liên lập, khu vực, vùng, hợp đồng qua lại thế lưỡng lợi (Win-Win situation).

Những lý thuyết chánh trị, Cộng sản chủ nghĩa hay Tư bản chủ nghĩa chỉ dựa trên những lý thuyết phát triển kinh tế và tổ chức xã hội không nghĩ đến vai trò của Thiên nhiên và Môi trường đối với con người.

Nói tóm lại, các chủ thuyết chánh trị đều tranh dành cầm quyền làm chủ căn nhà và tổ chức làm ăn trong một căn nhà, nhưng không một ai nghĩ phải làm sao bảo quản căn nhà, sửa cái cột, lợp cái mái, sơn cái tường, đào cái giếng... Hãy học bài học canh tác của người Thượng miền Cao nguyên Nam Trung phần, họ canh tác xoay vần trên nhiều thửa ruộng khác nhau, họ luôn luôn chừa một thửa ruộng bỏ "góa", không canh tác một năm để đất ruộng ấy nghỉ (terre en jachère). Chặt cây đốn rừng thì phải trồng cây mới... phải sống với thiên nhiên, phải bảo quản thiên nhiên. Không khí, nước dùng, sông ngòi biển cả, rừng núi không phải là vô tận, phải biết quản lý và quản lý một cách khoa học. 

Đề tài sông Mê kông và sự sống còn của đồng bằng sông Cửu Long, anh em Hội Khoa học & Kỹ thuật mà Mai Thanh Truyết là một thành viên nòng cốt đã thấy và đã báo động với cộng đồng Việt Nam Hải ngoại và thế giới từ những năm '90 của thế kỷ trước. Rồi Chất độc Da Cam, rồi nước thải, rồi những bãi rác, Bauxite... mỗi đề tài Mai Thanh Truyết nêu ra là những mũi tên bắn thẳng vào kẻ thù.

Tiếng nói của Mai Thanh Truyết là tiếng nói của một nhà khoa học.

Tiếng nói chánh trị của Mai Thanh Truyết là tiếng nói một nhà khoa học có trách nhiệm.

Trên bàn viết tại nhà Truyết, tôi thấy một tấm "phướng" ghi bài thơ của một Phật tử tên Phổ Kiên (hiện nay là một Đại Đức) gửi cho Truyết ngày 21/9/2003 nhân chuyến viếng thăm nhà máy xử lý nước, nơi Truyết làm việc ở West Covina. Bài thơ có nội dung như sau:

Bồ tát thanh lương thủy

Thường du bất cánh không

Chúng sanh thủy cấu tịnh

Bồ đề ảnh hiện trung

 

Bốn câu thơ trên cũng nói lên phần nào con người của Truyết mong hướng đến!

Tiến sĩ Mai Thanh Truyết không chống cộng vì cộng sản nó ngu nó dốt, nó khát máu, nó lưu manh, tóm lại nó không giống mình.

Tiến sĩ Mai Thanh Truyết chống cộng và chỉ trích, phê bình vào cái bê bối, cái vô trách nhiệm của những tay lãnh đạo Việt Nam, đang vì lòng tham tàn phá môi trường và đất nước chúng ta. Bù lại, TS Mai Thanh Truyết đề xướng ra những giải pháp hay phương cách nhằm giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường cũng như vấn nạn arsenic hay thạch tín trong nguồn nước ở Việt Nam.

Truyết chứng minh với dư luận cộng đồng Việt Nam trong và ngoài nước, với dư luận thế giới, rằng hành động phản quốc của nhà nước Cộng sản đương quyền của Việt Nam khi cho Tàu khai thác Bô xít ở Cao Nguyên Nam Trung phần Việt Nam là một hành động bán nước, vì về mặt kinh tế không có cái lợi gì cả mà chỉ phá nước hại dân, phá hoại môi trường vùng cao nguyên. Về mặt chánh trị làm chia rẽ đoàn kết dân tộc Việt, giữa các sắc tộc Thượng, Chàm và Việt (CSBV gọi là Kinh). Trung Cộng, khi trúng thầu (thực sự do Trung Cộng cầu kết với Cộng sản Việt Nam) khai thác Bauxite, khi trúng thầu xây nhà máy điện nguyên tử ở Ninh Thuận, Phan Rang là đang có âm mưu cắt vùng Đông Dương làm đôi bằng cách tổ chức lại bình nguyên Bolloven với chương trình Đặc khu Kinh tế Bolloven (gồm tỉnh Attopeu - Nam Lào, tỉnh Mondolkiri - Bắc Cao Miên và vùng cao nguyên Nam Trung phần), cùng tỉnh Bình Thuận - Phan Rang - Phan Rí, thành một vùng tự trị cho anh em dân tộc Thượng Chàm.

Hôm qua, Mai Thanh Truyết có mặt ở mọi mặt trận khoa học của Việt Nam, ngày hôm nay với những bài viết về sự hâm nóng trái đất Mai Thanh Truyết đang có mặt trong cuộc chiến của cả nhơn loại, đang lo cho cái sống còn của quả địa cầu và nhơn loại.

Mai Thanh Truyết lo cho địa cầu, lo cho tương lai nhơn loại. Mai Thanh Truyết vì có cái suy nghĩ của một nhà khoa học có trách nhiệm của những quốc gia đang phát triển, và cần phát triển, nên Mai Thanh Truyết không quá khích như những Đảng Xanh của thế giới các nước tiên tiến Âu Mỹ, đang có lý thuyết là đi ngược lại hay ngừng hẳn quá trình phát triển của các quốc gia. Các Đảng Xanh Âu Mỹ vì sống ở những xã hội sang giàu của thế giới tư bản, đang chống lại sử dụng nhiên liệu hầm mỏ cho rằng lạm dụng, phung phí và phá hoại môi trường, đòi dân chúng thế giới hãy bớt hay ngừng phát triển để khỏi tàn phá địa cầu. Nhưng các Đảng Xanh ấy quên các nước chậm tiến như Việt Nam của chúng ta cần phát triển, cần sử dụng cây rừng để có giấy, cần phân bón để canh tác, cần những hột giống đã được cũng cố hay thay đổi gène để chống sâu rầy (OGM-Organisme à gène modifié)... cần dầu mỏ nhiên liệu để có năng lượng cần cho phát triển...

Quả địa cầu ngày mai sẽ phải nuôi sống 9 tỷ dân, không biết tổ chức, bảo quản đàng hoàng sẽ có nạn đói, thiếu nước, thiếu đất canh tác sẽ là những vấn nạn nan giải.

Mai Thanh Truyết và tôi, hai anh em cùng một cái nhìn đấu tranh, chúng tôi chống cộng vì Cộng sản sau khi cướp chánh quyền bằng bạo lực, không biết quản trị đất nước, chống chủ nghĩa tư bản mà ngày nay chạy theo tư bản hỗn loạn, miệng nói xã hội chủ nghĩa mà hành động chống xã hội...

Chúng tôi đấu tranh cho dân chủ trở lại Việt Nam, cho người dân Việt Nam lấy lại quyền tự quyết, cho Việt Nam lấy lại Tự do...

Chúng tôi chống nhà nước đương quyền Cộng sản vì họ bất lực trước sự xâm lăng của Trung Cộng, vì họ ươn hèn không một tiếng phản đối khi lãnh thổ bị xâm lấn, khi người ngư phủ Việt Nam bị tàu lạ mang biển số Trung Cộng đụng chìm.

Chúng tôi đấu tranh chống Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền vì họ đang bán đất cho Trung Cộng, bán biển cho Tàu.

Sách là người, lời văn là tâm sự. Mai Thanh Truyết suốt những năm tháng qua cạnh tôi và các đồng chí chiến hữu thân hữu đại gia đình Đại Việt luôn luôn bằng ngòi bút, bằng những buổi nói chuyện trải lòng, trải giấc mơ của những anh em đồng chí chúng tôi. Tiến sĩ Mai Thanh Truyết, người bạn hiền, anh bồ tèo, với cái tên gọi rất hóa học, do các bạn Tây đồng môn gọi Truyết là "Méthane". Tôi dốt từ khoa học không biết Việt Nam ta gọi méthane là gì, nhưng méthane là khí tự nhiên của những cơ thể đang phân hủy tạo thành có thể biến thành khí đốt và năng lượng. MaiThanh – Méthane Truyết hiện quản lý một nhà máy lọc nước, nước dơ nước bẩn nước phế thải vào nhà máy, qua một quá trình biến thành nước trong, nước sạch và có thể thành nước uống.

Tái tạo, luợm nhặt, thay đổi sử dụng lại. "Không có gì tự sanh ra, không có gì tự hủy hoại, tất cả chỉ sự thay đổi - Rien ne se crée, rien ne se perd, tout se transforme" Truyết đang áp dụng câu nói bất hủ của ông đàn anh Truyết, nhà hóa học đại tài Pháp Antoine Lavoisier 1743-1794. Cũng như anh em đấu tranh chúng ta, những bài viết của Mai Thanh Truyết là những bài viết đấu tranh chánh trị chống độc tài cộng sản nhưng với những câu chuyện, những dẫn chứng, những biện minh khoa học.

Hãy đọc Mai Thanh Truyết để cùng đi với Mai Thanh Truyết trên một con đường đấu tranh cho sự tồn vong của dân tộc Việt Nam.

Hãy đọc Mai Thanh Truyết để cùng chúng tôi những đồng chí, những chiến hữu những thân hữu với Đại Việt, cùng đi trên con đường chủ thuyết Dân tộc Sanh tồn. Các chủ thuyết chánh trị hiện hành đều dựa trên những biện minh kinh tế và tổ chức xã hội. Dân tộc sanh tồn chúng tôi dựa trên con người.

Dân tộc sanh tồn là cái không gian sanh tồn của dân tộc Việt. Đảng trưởng Trương tử Anh, Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy đã dẫn dắt chúng tôi đi trên con đường ấy. Đảng trưởng dẫn những người cha chú chúng tôi đấu tranh chống Pháp dành Độc lập, cho dân Việt. Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy dẫn chúng tôi đi trên con đường dân chủ hiến định, tam quyền phân lập, đối lập thay quyền, tự do bầu cử, đa nguyên đa đảng.

Hãy đọc Mai Thanh Truyết để cùng chúng tôi đấu tranh cho Dân tộc Sanh tồn, đấu tranh cho cái không gian sanh tồn.

Mỗi dân tộc có một không gian sanh tồn, một môi trường sanh tồn không ai xâm lấn ai. Tôi trọng không gian sanh tồn anh, anh trọng không gian sanh tồn tôi.

Nam Quốc sơn hà Nam đế cư,

Tuyệt nhiên định phận tại thiên thư.

 

Hai câu muôn thuở của danh tướng Lý Thường Kiệt ngay từ đời Nhà Lý đã nói đến cái Không gian Sanh tồn của dân tộc Việt. Vua Nam ở nước Nam. Dân Việt ở đất Việt.

Hãy đọc Mai Thanh Truyết, để cùng chúng tôi tôi đòi lại cho dân Việt Nam cái quyền Dân tộc Sanh tồn của người dân Việt Nam, cho đất nước Việt Nam, quyền tự quyết của người dân Việt, cho đất nước Việt, cho không gian sanh tồn Việt. Không gian Sanh tồn dân tộc Việt do người Việt bảo quản người Việt quản lý.

Lúc xưa cha chú chúng ta chống Pháp để bảo vệ không gian sanh tồn, đòi quyền tự quản của không gian sanh tồn.

Hai mươi năm chống cộng cũng để bảo vệ cái không gian sanh tồn của người Việt Tự do, bảo vệ cái Quốc gia Việt Nam, cái không gian Sanh tồn dân tộc Việt. Khi miền Nam Việt Nam mất ngày 30 tháng 4 năm 1975, lúc ấy mọi người mới thấy rõ không gian sanh tồn người Việt không còn nữa, trốn chạy, tỵ nạn chỉ để tìm không gian sanh tồn mà thôi.

Hãy đọc sách Mai Thanh Truyết để cùng anh em chúng tôi chia sẻ con đường Dân tộc Sanh tồn để mãi mãi chúng ta có một không gian sanh tồn cho dân tộc Việt.

Cám ơn bạn Truyết đã gom lại thành sách những bài viết từ mấy năm nay, tâm sự tâm huyết của hai chúng mình, Truyết đã trải dài biến thành những dòng chữ.

Sách bạn sẽ là một đóng góp lớn cho công việc chung của tất cả các đồng chí và hai anh em chúng ta. 

Bạn sẽ tiếp tục cùng mình và các đồng chí lèo lái con thuyền Đại Việt. Đảng trưởng nhìn ta, anh Tư nhìn ta, anh Ba nhìn ta, anh Bảy, cậu Đệ, anh Ba Xướng... Truyết có nhớ ngày Truyết Tê Đơ, anh Ba Xướng dặn mình cái gì không? 

"Đường chông gai lắm, hai thằng nhớ nhẫn nại...  thua nhịn đã đành, thắng cũng phải biết nhịn".

Nhẫn nại nhé bạn!

Bạn viết bài là bạn mài gươm dưới trăng đó.

Hồi Nhơn Sơn July 4th, 2013.

Phan Văn Song









 




  


Wednesday, January 28, 2026

 


Cảm nghĩ về việc xuất cảng tôm cá của Việt Nam

 

Trong tiến trình toàn cầu hóa hiện nay, Hoa Kỳ là một thị trường trọng yếu đối với các mặt hàng thực phẩm nhập cảng, đồng thời cũng là một trong những quốc gia có hệ thống kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm chặt chẽ. FDA công bố các dữ liệu về các lô hàng bị từ chối nhập cảng (Import Refusal) và các cảnh báo nhập cảng (Import Alerts) nhằm tăng tính minh bạch và bảo vệ người tiêu dùng. Các dữ liệu này cũng cung cấp căn bản để nghiên cứu rủi ro an toàn thực phẩm của các nước xuất khẩu, trong đó có Việt Nam.

Việt Nam là quốc gia xuất khẩu nhiều mặt hàng thực phẩm như thủy sản, nông sản và thực phẩm chế biến. Tuy nhiên, các lô hàng bị FDA từ chối cho thấy tồn đọng các vấn đề có tính cách hệ thống trong quản lý phẩm chất, kiểm soát dư lượng hóa chất trong thực phẩm, và thực thi các quy định về nhãn mác.

Các dữ liệu từ FDA cho thấy việc từ chối nhập cảng thường phản ảnh các lỗ hổng trong kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm ở giai đoạn sản xuất, chế biến và đóng gói. Một số vấn đề mang tính hệ thống bao gồm:

  1. Kiểm soát vi sinh không đạt chuẩn: Các lô hàng bị từ chối thường liên quan đến vi khuẩn gây bệnh (Salmonella, Listeria, E. coli) hoặc các chỉ tiêu vi sinh vượt giới hạn. Điều này cho thấy hệ thống kiểm soát vệ sinh trong sản xuất và bảo quản chưa được chuẩn hóa theo tiêu chuẩn quốc tế.
  2. Quản lý dư lượng hóa chất và kháng sinh: Dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, chất bảo quản, kháng sinh vượt mức cho phép là lý do phổ biến trong các lô hàng thủy sản và nông sản. Đây là dấu hiệu cho thấy việc quản lý sử dụng thuốc và kiểm tra chất lượng đầu vào còn lỏng lẻo.
  3. Nhãn hiệu và ghi chú về  sản phẩm: Nhiều lô hàng bị từ chối vì nhãn hiệu không đúng quy định (thiếu thành phần, sai nguồn gốc, không có hướng dẫn sử dụng/ cảnh báo). Điều này phản ảnh thiếu chuẩn hóa trong việc đóng gói và kiểm soát phẩm chất.
  4. Hệ thống kiểm tra và kiểm soát nội bộ yếu: Việc tái diễn vi phạm cho thấy các doanh nghiệp chưa thực sự áp dụng hệ thống quản lý phẩm chất theo tiêu chuẩn quốc tế (HACCP, ISO 22000). Đồng thời, cơ chế kiểm tra trước khi xuất khẩu tại Việt Nam cần cập nhật hóa để phòng ngừa rủi ro.

Từ những nhận định trên cho thấy, vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm trong xuất cảng tôm và cá basa ở Việt Nam không thể giải quyết chỉ bằng tăng cường thanh tra hay xử phạt.

Điều cần thiết hơn là:

  • Chuyển từ suy nghĩ kiểm soát cuối chuỗi sang quản trị rủi ro toàn chuỗi sản xuất;
  • Thống nhất tiêu chuẩn an toàn thực phẩm cho cả thị trường nội địa và xuất cảng;
  • Xem việc bảo vệ người tiêu dùng trong nước là nền tảng của uy tín quốc tế.

Trong cách tiếp cận này, vai trò của Nhà nước không phải là người gác cổng thuần túy, mà là chủ thể chính nhằm kiến tạo hệ sinh thái sản xuất an toàn, giảm động cơ vi phạm thay vì chỉ trừng phạt hậu quả.

Các sự việc tôm và cá basa Việt Nam bị trả về hoặc tiêu hủy tại thị trường nhập cảng là những dấu hiệu cảnh báo sớm về giới hạn của mô hình tăng trưởng dựa trên sản lượng và giá rẻ. Nếu không được nhìn nhận như một vấn đề cấu trúc, những sự việc này sẽ tiếp tục tái diễn, với chi phí ngày càng lớn cho cả doanh nghiệp lẫn quốc gia.

Ngược lại, nếu được xem là cơ hội để tái thiết quản trị chuỗi giá trị, thì chính những thách thức trên có thể trở thành động lực cho một chiến lược phát triển thủy sản bền vững, có trách nhiệm và có phẩm giá.

Vì vậy, việc cải tiến chăn nuôi và chuẩn bị xuất cảng tôm, cá basa theo tiêu chuẩn quốc tế, xét đến cùng, không chỉ là vấn đề kỹ thuật hay thương mại, mà là vấn đề và đạo đức đối với người tiêu dùng, đạo đức sản xuất, đạo đức môi trường, và đạo đức quốc gia.

·         Trước hết, về đạo đức đối với người tiêu dùng, không thể chấp nhận tình trạng một sản phẩm bị từ chối tại thị trường quốc tế vì không bảo đảm an toàn thực phẩm, nhưng lại được tiêu thụ trong nước hoặc tái chế dưới hình thức khác. Nguyên tắc căn bản của đạo đức xã hội đòi hỏi rằng người dân trong nước phải được hưởng mức độ an toàn tối thiểu không thấp hơn người tiêu dùng nước ngoài. Bất kỳ sự phân biệt nào về tiêu chuẩn an toàn giữa “hàng xuất cảng” và “hàng nội địa” đều làm xói mòn niềm tin xã hội và đi ngược lại trách nhiệm bảo vệ sức khỏe cộng đồng của Nhà nước.

 

·         Thứ hai, về đạo đức đối với người sản xuất, đặc biệt là các nhà nuôi nhỏ lẻ, việc duy trì một hệ thống quản lý thiếu minh bạch, thiếu hỗ trợ kỹ thuật, nhưng lại đặt toàn bộ rủi ro vi phạm lên vai người chăn nuôi là không công bằng. Đạo đức chính sách đòi hỏi Nhà nước và doanh nghiệp phải tạo điều kiện để người chăn nuôi tuân theo, chứ không chỉ xử phạt khi họ không tuân thủ. Một hệ thống buộc người nuôi phải “đánh đu” với kháng sinh và hóa chất để tồn tại là một hệ thống cần được điều chỉnh về mặt đạo đức, không chỉ về mặt pháp lý.

 

·         Thứ ba, về đạo đức đối với môi trường, việc lạm dụng kháng sinh và hóa chất trong chăn nuôi thủy sản không chỉ gây rủi ro cho thực phẩm, mà còn làm suy thoái hệ sinh thái nước, gia tăg hiện tượng kháng kháng sinh và để lại gánh nặng lâu dài cho các thế hệ sau. Xuất cảng thủy sản trong bối cảnh đó, nếu chỉ nhìn vào lợi ích ngắn hạn, là chuyển giao chi phí môi trường và sức khỏe sang tương lai, điều vốn không thể biện minh về mặt đạo đức phát triển bền vững.

 

·         Thứ tư, về đạo đức quốc gia trong hội nhập, mỗi lô hàng không đạt chuẩn bị trả về không chỉ là thất bại của một doanh nghiệp, mà là tổn hại đến danh dự và độ tin cậy của quốc gia. Trong thương mại toàn cầu, uy tín không thể mua bằng giá rẻ, mà được xây dựng từ sự trung thực, minh bạch và nhất quán trong việc tuân thủ chuẩn mực chung. Một quốc gia chấp nhận “linh hoạt tiêu chuẩn” để đạt lợi thế trước mắt sẽ phải trả giá bằng sự giám sát kéo dài và sự nghi ngờ có hệ thống từ đối tác ngoại quốc.

Cuối cùng, xét từ góc độ đạo đức quản trị, cải tiến chăn nuôi và chuẩn bị xuất cảng theo tiêu chuẩn quốc tế là một cách biểu hiện của một Nhà nước kiến tạo, đặt lợi ích lâu dài của xã hội lên trên lợi ích ngắn hạn và cục bộ. Đó là sự lựa chọn giữa phát triển bằng cách né tránh chuẩn mực và phát triển bằng cách nâng cao chuẩn mực.

Tóm lại, khi một lô hàng thực phẩm nhập cảng từ cá basa đến tôm Việt Nam bị FDA xác định không đạt chuẩn, cơ quan này phản ứng tức khắc từ việc từ chối nhập cảng, đưa nhà máy sảng xuất tôm, cá vào Import Alert, cho tới khi truy xuất trách nhiệm của nhà nhập cảng, thậm chí giải quyết bằng hình sự trong những trường hợp nghiêm trọng. Mọi biện pháp dựa trên luật pháp và dữ liệu, không phụ thuộc cảm tính hay “thương lượng hành chính”.

Qua đó, vệ sinh an toàn thực phẩm trở thành một hàng rào thể chế, buộc cả nhà xuất cảng và nhập cảng phải chịu trách nhiệm pháp lý, minh bạch và chấp hành.

Bài học dành cho Việt Nam không chỉ là kỹ thuật chế biến hay xét nghiệm, mà là năng lực quản trị quốc gia, tính minh bạch và trách nhiệm giải thích mà thôi. Khi hệ thống quản lý quốc gia vận hành như một thể chế thực sự, doanh nghiệp mới có thể vượt qua các tiêu chuẩn khắt khe và duy trì uy tín lâu dài trên thị trường toàn cầu.

Vì vậy, việc thi hành tiêu chuẩn quốc tế trong chăn nuôi và xuất cảng tôm, cá basa không nên được xem là sự nhượng bộ trước áp lực bên ngoài, mà là cam kết đạo đức của Việt Nam đối với người dân, môi trường và cộng đồng quốc tế. Chỉ khi cam kết đó được thực thi một cách xuyên suốt, ngành thủy sản Việt Nam mới có thể phát triển bền vững, có trách nhiệm và xứng đáng với vị thế của một quốc gia xuất cảng lớn trong thế kỷ XXI.

Mai Thanh Truyết

Hội Bảo vệ Môi trường Việt Nam

Xuân Bính Ngọ 2026

 


 




Monday, January 26, 2026

 


Thực phẩm nhập cảng từ Việt Nam bị trả về

 

Những trái cây Việt đã được xuất khẩu vào Mỹ, 9 loại quả tươi từ Việt Nam,  gồm: xoài, nhãn, vải, chôm chôm, vú sữa, thanh long và chanh leo, Xuất khẩuTrong giai đoạn toàn cầu hóa hiện tại, Hoa Kỳ là một thị trường trọng yếu đối với các mặt hàng thực phẩm nhập khẩu, đồng thời cũng là một trong những quốc gia có hệ thống kiểm soát an toàn thực phẩm chặt chẽ. FDA công bố các dữ liệu về các lô hàng bị từ chối nhập cảng (Import Refusal) và các cảnh báo nhập cảng (Import Alerts) nhằm tăng tính minh bạch và bảo vệ người tiêu dùng. Các dữ liệu này cũng cung cấp tài liệu để nghiên cứu rủi ro an toàn thực phẩm của các nước xuất cảng, trong đó có Việt Nam.

 

Việt Nam là quốc gia xuất cảng nhiều mặt hàng thực phẩm như thủy sản, nông sản và thực phẩm chế biến.

 

Thực phẩm Việt Nam bị trả về hoặc thu hồi khi nhập cảng thường do không đáp ứng tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm, thiếu giấy tờ hợp pháp, hoặc bị phát hiện có thành phần cấm/không được phép tại nước nhập cảng, như vụ cá viên ba sa/tra không đủ điều kiện xuất cảng vào Mỹ, hoặc bị bắt giữ vì nhập lậu, không rõ nguồn gốc như thuốc lá sấy khô, thực phẩm bẩn. Các lý do phổ biến là vi phạm quy định về hóa chất, dư lượng kháng sinh, hoặc không có chứng nhận cần thiết. Tuy nhiên, các lô hàng bị FDA từ chối cho thấy tồn tại các vấn đề hệ thống trong quản lý phẩm chất, việc kiểm soát dư lượng, và việc chấp hành ác quy định về nhãn hiệu.

 

1-    Các lý do chính khiến thực phẩm Việt Nam bị trả về hay bị thu hồi ở nước ngoài

Không đáp ứng tiêu chuẩn an toàn vệ sinh qua việc phát hiện vi sinh vật/hóa chất độc hại như vi khuẩn hoặc dư lượng hóa chất vượt ngưỡng cho phép (như trong thủy sản).

Sử dụng phụ gia cấm: Một số nước cấm hoặc hạn chế các chất phụ gia được dùng ở Việt Nam.

Vi phạm quy định về nhãn mác và chứng nhận: Thiếu nhãn mác: Không có tin tức đầy đủ, chính xác hoặc không chấp hành yêu cầu của nước nhập cảng (ngôn ngữ, thành phần).

Thiếu giấy chứng nhận: Không có giấy chứng nhận kiểm dịch động thực vật (C/Q), giấy chứng nhận vệ sinh an toàn thực phẩm (HACCP, ISO, etc.).

Chứng từ giả mạo: Sử dụng hóa đơn, chứng từ không hợp pháp.

Vấn đề nguồn gốc và truy xuất: Không rõ nguồn gốc. đặc biệt với các mặt hàng như thực phẩm đông lạnh, lá thuốc lá, bị bắt giữ vì không có hóa đơn, chứng từ hợp pháp. Không tuân thủ quy định về truy xuất nguồn gốc (traceability): Khó xác định được lô hàng đến từ đâu và quy trình sản xuất như thế nào.

Sản phẩm không được phép: Một số sản phẩm bị trả về vì bị cấm nhập cảng vào thị trường đó (ví dụ: cá viên ba sa/tra bị thu hồi tại Mỹ vì không đủ điều kiện xuất khẩu). 

Các vụ này là hồi chuông cảnh báo về việc kiểm soát chất lượng, nguồn gốc và tuân thủ quy định pháp luật khi xuất khẩu thực phẩm và nông sản. 

 

Một thí dụ điển hình: Cá viên đông lạnh làm từ cá ba sa, cá tra của một công ty Việt Nam bị thu hồi vì không được phép xuất cảng sang Mỹ. Theo tin của tổ chức Thông Tin An Toàn Thực Phẩm (Food Safety News), Cơ Quan Kiểm Tra An Toàn Thực Phẩm (FSIS) thuộc Bộ Nông Nghiệp Mỹ (USDA) ra lệnh cho nhà nhập cảng Starway International Group LLC ở thành phố Maspeth, tiểu bang New York, về việc thu hồi cá viên đông lạnh nhập cảng từ Việt Nam năm 2018.

Cá viên đựng trong bao nhựa bị Cơ Quan Kiểm Tra An Toàn Thực Phẩm (FSIS) thuộc Bộ Nông Nghiệp Mỹ (USDA) ra lệnh thu hồi vì nhà sản xuất ở Việt Nam không được phép xuất cảng sang thị trường Mỹ. Theo đó, Starway nhận lệnh thu hồi 9,513 pound cá viên đựng trong bao nhựa của một công ty của Việt Nam “không được phép xuất cảng cá ba sa, cá tra sang Hoa Kỳ.” Lệnh thu hồi được đưa ra khi sản phẩm nói trên đã được bán ra trên thị trường nên FSIS sợ rằng nhiều người tiêu thụ đã mua chúng từ các siêu thị.

 

2-   FDA có kiểm soát 100% lô hàng thực phẩm từ Việt Nam hay không?

Trên thực tế, FDA không kiểm soát 100% tất cả các lô hàng thực phẩm nhập cảng từ Việt Nam hay bất kỳ nước nào. Tuy nhiên, cơ chế kiểm soát rất nghiêm ngặt nhờ dữ liệu, luật pháp và quản lý rủi ro.

Lý do không kiểm tra 100% lô hàng vì số lượng những lô hàng quá nhiều. Mỗi năm, ở hải cảng Long Beach, Los Angeles, CA tiếp nhận hàng trăm nghìn container thực phẩm. Việc mở tất cả để kiểm tra là không khả thi về mặt nhân lực và thời gian.

Thứ đến, chi phí và tác động thị trường một khi kiểm tra 100% sẽ làm tắc nghẽn chuỗi cung ứng, tăng chi phí cho doanh nghiệp và người tiêu dùng. Hơn nữa, nhiều lô hàng từ nhà sản xuất uy tín, có thành tích chấp hành các quy trình sản xuất và xuất cảng, rất ít bị rủi ro gây ra vi phạm.

Về cơ chế lựa chọn và kiểm tra theo rủi ro: FDA áp dụng kiểm tra theo rủi ro – risk based inspection như sau:

·         Thông báo trước - Prior Notice: nhà nhập khẩu phải khai báo thông tin chi tiết trước khi hàng lên tàu.

  • Hệ thống đánh giá rủi ro: Sản phẩm: cá basa, tôm, mắm, nước mắm… được phân loại theo nhóm rủi ro cao hay thấp.
  • Quốc gia xuất xứ: các cơ sở từng vi phạm sẽ tăng điểm rủi ro. Nếu nhà nhập cảng có lịch sử thi hành thủ tục tốt, lô hàng ít bị giữ.
  • Lấy mẫu ngẫu nhiên hoặc theo cảnh báo: lô hàng nào bị xếp vào “rủi ro cao” sẽ bị bắt buộc lấy mẫu và xét nghiệm, còn lô hàng khác có thể được thông quan ngay.

Từ đó, hệ quả trước mắt cho thực phẩm Việt Nam vi phạm những điều trên sẽ là, hoặc một số lô hàng được thông quan nhanh mà không bị mở vì hợp lệ, một số bị giữ lại, lấy mẫu, phân tích vi sinh/hóa chất. Những nhà máy hoặc lô hàng vi phạm có thể bị đưa vào Import Alert, khiến các lô tiếp theo bị giữ tự động.

Tóm lại, FDA không kiểm tra 100% lô hàng, nhưng hệ thống quản lý theo rủi ro, dữ liệu và luật pháp đảm bảo rằng nguy cơ vi phạm VSATTP được phát hiện và giải quyết có hiệu quả.

Dù được FDA giải thích như trên, chúng ta vẫn nhận biết rằng nguy cơ thực sự vẫn còn đó.

Vì sao?

Việc không kiểm tra 100% lô hàng đồng nghĩa với việc luồng hàng có rủi ro thấp vẫn có thể chứa vi phạm. Những lô hàng bị vi phạm nhưng không bị phát hiện có thể vượt qua cảng, đi thẳng vào thị trường chợ Việt, chợ Tàu hoặc bán lẻ, đặc biệt trong các cộng đồng nhỏ hoặc qua các đường giậy nhập cảng “không chính thức”.

3- Cơ quan và trang web niêm yết công khai

3.1- Hoa Kỳ — FDA Import Refusals Report

  • Cơ quan quản lý: U.S. Food and Drug Administration (FDA)
    • Trang web công khai về các lô hàng bị từ chối: FDA có một báo cáo công khai về các lô hàng nhập cảng bị từ chối (Import Refusal Report), cập nhật hàng tháng và có thể tra cứu trực tiếp. Đây là một nguồn chính thức để thấy lô hàng nào bị từ chối theo: Quốc gia xuất xứ - Mã sản phẩm/mô tả hàng hóa - Lý do bị từ chối - Thời gian nhập cảnh.

Đây là dữ liệu chính thức và miễn phí trên website chính thức của FDA. Các đường dây  tìm kiếm dữ liệu tham khảo (phi chính thức, tổng hợp dữ liệu FDA) là trang mang  ImportRefusal.com tổng hợp dữ liệu và cho phép tra cứu theo quốc gia, công ty hoặc sản phẩm, dựa trên dữ liệu FDA Dashboard từ 2001 đến nay. 

Như vậy, lô hàng bị từ chối nhập khẩu vào Hoa Kỳ là có niêm yết công khai trên web và có thể tra cứu.

Về dữ liệu được cập nhật hàng tháng và có thể tra cứu theo:

  • Country/Area (Quốc gia xuất xứ),
  • Product Code/Product,
  • Description (Mã sản phẩm/Mô tả),
  • Lý do vi phạm (ví dụ: dư lượng vi sinh vật, chất cấm, nhãn sai). 

Một ví dụ cụ thể: FDA có thể ghi rõ lô hải sản, tôm, cá nhập từ Vietnam bị từ chối vì “adulterated” (có tạp chất hoặc chất bị cấm). 

3.2- Liên minh Châu Âu - Hệ thống cảnh báo nhanh

Ngoài Hoa Kỳ, EU có hệ thống RASFF (Rapid Alert System for Food and Feed). Đây là một hệ thống được chia sẻ giữa các nước thành viên EU để cảnh báo về thực phẩm, thức ăn chăn nuôi, do:

  • Dư lượng thuốc bảo vệ thực vật vượt mức
  • Vi sinh vật gây bệnh
  • Kim loại nặng
  • Các sai phạm khác

Thông tin cảnh báo liên quan đến hàng Việt Nam cũng được công bố qua RASFF Web Portal, cho phép tra cứu theo: Quốc gia xuất xứ - Loại sản phẩm - Lý do cảnh báo - Tình trạng cảnh báo

Ví dụ: EU có nhiều cảnh báo RASFF đối với thực phẩm nhập cảng từ Việt Nam do dư lượng thuốc trừ sâu vượt chuẩn và vi sinh vượt giới hạn

Hệ thống RASFF là nguồn thứ hai để kiểm tra mặt hàng Việt Nam bị trả lại hoặc cảnh báo ở thị trường rộng lớn nhất thế giới.

3.3- Ví dụ xuất hiện trong dữ liệu Import Alert liên quan đến Việt Nam

Trong danh sách Import Alert 99-47 mới được cập nhật (được FDA công bố và lưu trữ công khai):

  • Có các công ty Việt Nam và sản phẩm hải sản từ Việt Nam được liệt kê,
  • Với mô tả sản phẩm và lý do từ chối, ví dụ như: “Shrimp & Prawns” (tôm) bị từ chối nhập khẩu vì sản phẩm bị coi là bị “adulterated” trong nội dung luật pháp Hoa Kỳ. 

Cụ thể nằm trong mục Import Alert #99-47 ghi nhận:

  • Công ty An Chau Company Limited (HCM, Vietnam) với sản phẩm Scad bị coi là adulterated. 
  • Ca Mau Seafood Processing & Service JSC — tôm & prawns bị từ chối nhập khẩu với lý do tương tự. 
  • Fimex VN và các công ty khác cũng được ghi trong một số bản import alert với sản phẩm tôm bị từ chối. 

Đây là bằng chứng cụ thể từ cơ quan Mỹ, có thể tra cứu trong hệ thống Import Alerts mà không cần nguồn trung gian. 

  • FDA công bố công khai danh sách các lô hàng bị từ chối nhập khẩu do vi phạm an toàn thực phẩm trên Trade/Import Refusal Report
  • FDA cũng có hệ thống Import Alerts để cảnh báo về các công ty/sản phẩm có tiền sử vi phạm, cũng công khai trên trang của FDA để tra cứu. 

Điều này đảm bảo tính minh bạch và cho phép:

  • doanh nghiệp kiểm tra rủi ro,
  • nhà báo/báo cáo phân tích dữ liệu,
  • người tiêu dùng và cộng đồng hiểu rõ hơn về tình hình an toàn thực phẩm nhập khẩu.

4-    Nạn nhân chính là người tiêu dùng

Mặt dù thực phẩm Việt Nam xuất cảng sang Hoa Kỳ đã được kiểm soát chặt chẽ như trên, nhưng vì số lượng hàng nhập cảng quá lớn cho nên việc kiểm soát VSATTP phông thể nào thực hiện 100% số lô hàng nhập cảng. FDA chỉ có khả năng phân tích độ 1% số lượng lô hàng trên, đo dó, 99% lô hàng sẽ đi thẳng vào người tiêu thụ.

Sa người tiêu thụ các lô hàng tên chính là những người Á Đông, nhứt là Việt Nam và Tàu…Từ đó, người tiêu dùng cuối cùng có thể tiếp xúc với dư lượng hóa chất, vi sinh vật, kim loại nặng, dẫn đến nguy cơ nhiễm độc cấp tính hoặc mãn tính. Với thực phẩm như cá basa, tôm, mắm, nước mắm, nguy cơ này không chỉ nằm ở vi sinh mà còn ở chất bảo quản, kháng sinh, histamin, arsenic, cadmium….

Các dữ liệu từ FDA cho thấy việc từ chối nhập khẩu thường phản ảnh các lỗ hổng trong việc kiểm soát an toàn thực phẩm ở giai đoạn sản xuất, chế biến và đóng gói. Một số vấn đề mang tính hệ thống bao gồm:

  1. Kiểm soát vi sinh không đạt chuẩn: Các lô hàng bị từ chối thường liên quan đến vi khuẩn gây bệnh (Salmonella, Listeria, E. coli) hoặc các chỉ tiêu vi sinh vượt giới hạn. Điều này cho thấy hệ thống kiểm soát vệ sinh trong sản xuất và bảo quản chưa được chuẩn hóa theo tiêu chuẩn quốc tế.
  2. Quản lý dư lượng hóa chất và kháng sinh: Dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, chất bảo quản, kháng sinh vượt mức cho phép là lý do phổ biến trong các lô hàng thủy sản và nông sản. Đây là dấu hiệu cho thấy việc quản lý sử dụng thuốc và kiểm tra chất lượng đầu vào còn lỏng lẻo.
  3. Nhãn mác và thông tin sản phẩm: Nhiều lô hàng bị từ chối vì nhãn mác không đúng quy định (thiếu thành phần, sai nguồn gốc, không có hướng dẫn sử dụng/ cảnh báo). Điều này phản ánh thiếu chuẩn hóa trong quy trình đóng gói và kiểm soát chất lượng.
  4. Hệ thống kiểm tra và kiểm soát nội bộ yếu: Việc tái diễn vi phạm cho thấy các doanh nghiệp chưa thực sự áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế (HACCP, ISO 22000). Đồng thời, cơ chế kiểm tra trước khi xuất khẩu tại Việt Nam cần nâng cấp để phòng ngừa rủi ro.

5-    Thay lời kết

Việc phân tích các lô hàng thực phẩm xuất cảng từ Việt Nam bị FDA từ chối, dựa trên dữ liệu công khai Import Refusal và Import Alerts. Phân tích cho thấy các vi phạm thường lặp lại theo nhóm sản phẩm và phản ảnh những thiếu sót trong quản trị phẩm chất và thi hành các quy định của FDA. Để giảm rủi ro bị từ chối nhập cảng, Việt Nam cần cải thiện hệ thống kiểm soát nội bộ, minh bạch dữ liệu, và nâng cao năng lực quản lý chuỗi cung ứng.

Vietnam Urges U.S. To Reconsider Ban On Seafood Exports - StratNews GlobalVề thể chế và quản lý: Đây là vấn đề không chỉ về kỹ thuật kiểm tra, mà là vấn đề thể chế. Nếu hệ thống quản lý của cả nước xuất cảng và nước nhập cảng minh bạch, trách nhiệm rõ ràng, nguy cơ này sẽ giảm đáng kể.

Ở Việt Nam, việc một số lô hàng “lọt” qua các hành lang nhỏ phản ảnh khoảng trống trong quản lý thị trường nội địa và xuất cảng như kiểm soát nhà sản xuất, truy xuất nguồn gốc, và trách nhiệm của nhà nhập cảng/kinh doanh.

Ngay cả FDA, dù có hệ thống đánh giá rủi ro tinh vi, không thể loại bỏ hoàn toàn nguy cơ, nên cần cảnh báo và giáo dục người tiêu dùng.

Về hậu quả xã hội: Nếu các lô hàng có vi phạm thực sự lọt vào thị trường nội địa, người dân dễ bị ngộ độc thực phẩm hoặc nhiễm độc mãn tính, đặc biệt là trẻ em, phụ nữ mang thai, người già. Điều này tạo ra mất niềm tin vào sản phẩm Việt Nam trong cộng đồng hải ngoại và ngay cả thị trường trong nước. Cuối cùng, trong dài hạn, việc nầy sẽ ảnh hưởng đến thương hiệu quốc gia, uy tín trong xuất cảng và kinh tế.

Ý kiến đề nghị về vấn nạn trên:

Tăng cường truy xuất nguồn gốc và minh bạch chuỗi cung ứng của tất cả lô hàng, từ ao nuôi cá, tôm, cho đến nhà máy chế biến tới nơi xuất cảng phải có hồ sơ kỹ thuật, xét nghiệm định kỳ.

Hợp tác quốc tế: FDA và cơ quan Việt Nam có thể chia sẻ dữ liệu vi phạm, cảnh báo lô nguy cơ cao, áp dụng các tiêu chuẩn phòng ngừa. Giám sát thị trường nội địa và cộng đồng nhập cảng nhỏ, không để các lô hàng vi phạm lọt ra chợ nhỏ.

Giáo dục người tiêu dùng về cách nhận biết sản phẩm đạt chuẩn, đọc nhãn mác, hạn chế rủi ro từ lô hàng chưa kiểm soát.

Các dữ liệu từ FDA không chỉ là con số, mà là tiếng chuông cảnh báo về phẩm chất và quản lý. Khi một lô hàng bị từ chối, đó không chỉ là thiệt hại của doanh nghiệp, mà còn là tổn thất về uy tín quốc gia và niềm tin của thị trường.

Việt Nam có tiềm năng lớn trong việc xuất cảng thực phẩm, nhưng để vươn tới các thị trường cao cấp như Hoa Kỳ, chúng ta cần nhìn nhận một cách nghiêm khắc là chất lượng không chỉ là sản phẩm, mà là hệ thống quản trị nội địa.

Nếu chúng ta cải thiện hệ thống kiểm soát nội bộ, nâng cao năng lực quản lý, minh bạch dữ liệu và thực thi tiêu chuẩn quốc tế, thì không chỉ giảm thiểu rủi ro bị từ chối, mà còn tạo ra một nền tảng vững chắc cho phát triển bền vững.

Mai Thanh Truyết

Hội Bảo vệ Môi trường Việt Nam

Houston – Xuân Giáp Ngọ