Sunday, March 15, 2026

 

Việt Nam trong tư tưởng Tam Kỳ Phổ Độ

Sứ mệnh tâm linh hay khát vọng lịch sử?

 


Trong lịch sử tôn giáo thế giới, sự xuất hiện của Cao Đài vào năm 1926 là một hiện tượng đặc biệt. Không chỉ là một tôn giáo mới của Việt Nam, Cao Đài còn đưa ra một quan niệm táo bạo về lịch sử tâm linh của nhân loại: Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ. Theo giáo lý này, nhân loại đã trải qua hai thời kỳ khai mở tôn giáo và đang bước vào thời kỳ thứ ba – thời kỳ hợp nhất các truyền thống tâm linh. Điều đáng chú ý là trong tầm nhìn ấy, Việt Nam được đặt vào vị trí trung tâm của giai đoạn thứ ba.

Điều này đặt ra một câu hỏi thú vị cho các nhà nghiên cứu, liệu đây là một sứ mệnh tâm linh thực sự, hay chỉ là khát vọng lịch sử của một dân tộc đang tìm kiếm vị trí của mình trong thế giới hiện đại?

1-    Bối cảnh lịch sử của sự ra đời Đạo Cao Đài

Đầu thế kỷ XX, Việt Nam đang sống dưới chế độ thuộc địa Pháp. Trật tự truyền thống dựa trên Nho giáo bị lung lay mạnh sau khi chế độ khoa cử bị bãi bỏ năm 1919. Tầng lớp trí thức đứng trước một khoảng trống tinh thần: hệ tư tưởng cũ mất dần ảnh hưởng, trong khi những giá trị mới từ phương Tây vẫn chưa hoàn toàn được chấp nhận.

Trong hoàn cảnh đó, nhiều phong trào tôn giáo và cải cách xã hội xuất hiện ở Nam Bộ. Cao Đài là một trong những phong trào nổi bật nhất. Những người sáng lập như Ngô Văn Chiêu và Phạm Công Tắc đều là những trí thức có tiếp xúc với văn hóa phương Tây nhưng đồng thời vẫn chịu ảnh hưởng sâu sắc của truyền thống Đông phương.

Họ tìm cách xây dựng một hệ thống tâm linh mới, có khả năng dung hòa các nguồn tư tưởng khác nhau.

2-    Tư tưởng Tam Kỳ Phổ Độ

Trong triết học của Cao Đài, lịch sử tôn giáo của nhân loại được chia thành ba giai đoạn lớn.

Giai đoạn đầu tiên là thời kỳ khai mở đạo lý, khi các bậc hiền triết cổ đại như Lão Tử - Laozi hay Gautama Buddha truyền dạy những nguyên lý nền tảng của đời sống tâm linh.

Giai đoạn thứ hai chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của các tôn giáo lớn với những nhân vật như Khổng Tử - Confucius hay Jesus Christ. Tuy nhiên, các tôn giáo trong giai đoạn này dần tách biệt thành những hệ thống độc lập và đôi khi xung đột với nhau.

Theo quan niệm Cao Đài, nhân loại ngày nay đang bước vào giai đoạn thứ ba – Tam Kỳ Phổ Độ – trong đó các tôn giáo được hòa hợp và thống nhất trong một chân lý chung.

Điểm đặc biệt là giai đoạn này được cho là bắt đầu tại Việt Nam.

3-    Cao Đài kế thừa Tam Giáo như thế nào?

Trong triết học của Cao Đài, ba tôn giáo được xem như ba con đường khác nhau của cùng một chân lý.

a. Phật giáo đưa đến giải thoát: Tư tưởng của Gautama Buddha ảnh hưởng đến luật nhân quả, kiếp luân hồi, và lòng từ bi. Và mục tiêu cuối cùng của người tu là giải thoát khỏi vòng sinh tử.

b. Nho giáo hay Đạo làm người: Tư tưởng của Khổng Tử đóng vai trò xây dựng đạo đức xã hội, giữ trật tự gia đình, tạo nền tảng luân lý. Do đó trong Cao Đài rất coi trọng hiếu đạo, nhân nghĩa, và trách nhiệm xã hội.

c. Đạo giáo hòa hợp với vũ trụ: Tư tưởng của Lão Tử - Laozi đem lại khái niệm về Đạo dùng phương pháp tu luyện nội tâm nhằm tiến tới sự hòa hợp với thiên nhiên. Chính điều nầy ảnh hưởng đến yếu tố huyền học và thần linh của Cao Đài.

Từ nhiều thế kỷ trước, các học giả Đông phương đã cho rằng ba hệ thống này thể hiện vào ba giai đoạn khác nhau theo thứ tự thời gian, không mâu thuẫn mà bổ túc lẫn nhau. Và ý tưởng đó gọi là Tam Giáo Đồng Nguyên tức ba tôn giáo cùng một nguồn.

Ở Việt Nam, từ thời trung đại, nhiều triều đại đã dung hợp ba tôn giáo này vào những giai đoạn thịnh trị nhứt như ở thời Nhà Lê và nhà Trần, các minh vương đã kết hợp qua việc Nho giáo quản lý xã hội, Phật giáo nuôi dưỡng tâm linh, và Đạo giáo ảnh hưởng đến tu luyện và huyền học.

Từ đó, trong đời sống dân gian, người Việt rất hài hòa và nghiêm chỉnh trong đời sống xã hội và tâm linh như việc đi chùa, thờ cúng ông bà, xem đạo lý Khổng giáo mà không cho đó là mâu thuẫn. Có thể nói, chính nền văn hóa dung hợp nầy đã chuẩn bị cho sự xuất hiện của Cao Đài vào thập niên thứ ba của thế kỳ 20.

4- Cao Đài mở rộng Tam Giáo

Điểm đặc biệt là Cao Đài không dừng ở Tam Giáo. Địa Đạo Tam Kỳ Phổ Độ còn mở rộng sang các tôn giáo khác như: Jesus Christ – Kitô giáo, các truyền thống tâm linh phương Tây và Á Đông. Do đó, Cao Đài có thể được xem như một tôn giáo tổng hợp giữa Tam Giáo Đồng Nguyên và Đông Tây hòa hợp.

Từ đó, triết học Cao Đài phản ảnh một tư tưởng rất sâu:

·         Chân lý Cao Đài có nhiều con đường, khác với mọi tôn giáo khác là mỗi tôn giáo chỉ diễn đạt một chân lý của riêng tôn giáo đó mà thôi.

·         Tôn giáo không nên xung đột: Các cuộc chiến tôn giáo trong lịch sử được xem là sai lầm của con người qua đức tin/niềm tin của mỗi tôn giáo. Tín đồ Cao Đài nhận thức rất rõ điều nầy vì thấm nhuần tư tưởng tam giáo đồng nguyên.

·         Nhân loại đang tiến hóa tâm linh: Theo quan niệm Tam Kỳ Phổ Độ, nhân loại đang tiến dần tới sự thống nhất tinh thần của toàn thế giới trong thời hạ ngươn nầy.

·         Tổ chức xã hội mạnh: Cao Đài có một hệ thống giáo hội chặt chẽ, một cộng đồng lớn và tương đối thuấn nhứt, một mạng lưới hoạt động xã hội rộng. Điều này khiến nó trở thành một phong trào xã hội thực sự.

 

5-    Khủng hoảng của hệ tư tưởng Nho giáo

Trong nhiều thế kỷ, xã hội Việt Nam dựa trên nền tảng tư tưởng của Khổng giáo và Nho Giáo. Nhưng đến đầu thế kỷ XX, chế độ khoa cử bị bãi bỏ (1919); đo đó, tầng lớp sĩ phu mất vai trò lãnh đạo tinh thần.

Nhiều trí thức trong giai đoạn nầy rơi vào khủng hoảng giá trị và Nho giáo bắt đầu suy tàn, nhường chỗ cho văn hóa Tây phương tràn vào làm biến dạng xã hội thay đổi nhanh chóng.

Từ đây, giới nho học cần một hệ thống đạo lý mới cũng như ảnh hưởng của giáo dục Tây phương đã xâm nhập và những người sáng lập Đạo Cao Đài là công chức và trí thức Tây học như Ngô Văn Chiêu, Phạm Công Tắc. Họ tiếp xúc với triết học phương Tây, các phong trào thần linh học (spiritism), tư tưởng nhân đạo. Điều này khiến họ nghĩ rằng tôn giáo có thể được “cải cách” để phù hợp với thời đại mới.

6-    Biểu tượng Thiên nhân Hòa ước

Một nét đặc biệt trong Đạo Cao Đài thiết nghĩ cũng cần được nêu lên là trong kiến trúc và biểu tượng học, có một hình ảnh rất độc đáo: ba vị thánh cùng ký vào “Thiên Nhân Hòa Ước” - Covenant between God and Humanity. Bức tranh nầy được đặt trang trọng trong khu vực thờ tại Tòa Thánh Tây Ninh. Ba nhân vật được mô tả trong bức tranh là Tôn Dật Tiên - Sun Yat-sen, Victor Hugo, và Nguyễn Bỉnh Khiêm

Hình tượng này chứa đựng nhiều ý nghĩa tâm linh, triết học và văn hóa tang ẩn qua ba nhân vật trên.

6.1- Ý nghĩa của “Thiên Nhân Hòa Ước”: Theo giáo lý Cao Đài, Tam Kỳ Phổ Độ là giai đoạn cuối cùng trong lịch sử cứu độ của nhân loại. Trong thời kỳ này, Trời và người thiết lập một giao ước mới là: Trời ban giáo pháp trực tiếp cho nhân loại và nhân loại phải sống theo đạo đức và hòa hợp.

Bức tranh ba vị thánh ký tên tượng trưng cho sự chứng nhận của trí tuệ nhân loại đối với đạo Trời.

6.2- Tại sao lại chọn ba nhân vật này? Ba nhân vật đại diện cho ba nền văn minh lớn.

Tôn Dật Tiên đại diện cho tinh thần cải cách và khát vọng giải phóng dân tộc. Ông được xem là biểu tượng của sự chuyển mình của Á châu trong thời hiện đại. Còn, Victor Hugo đại diện cho tư tưởng nhân đạo, tự do, và công lý. Trong các buổi cơ bút của Cao Đài, Victor Hugo được cho là một chân linh thường giáng cơ.

Sau cùng, Nguyễn Bỉnh Khiêm đại diện cho truyền thống trí tuệ Việt Nam và đạo lý Đông phương. Ông còn được xem là nhà tiên tri lớn của văn hóa Việt.



Nếu diễn giảng rộng ra, các vị trên còn thể hiện ra ba ý nghĩa biểu tượng thâm sâu hơn nữa. Đó là Đông – Tây – Việt Nam. Điều nầy thể hiện một tư tưởng rất lớn dưới mắt của Cao Đài là… Việt Nam là nơi giao hòa của Đông và Tây trong Tam Kỳ Phổ Độ.

6.3- Ý nghĩa chính trị – văn hóa: Biểu tượng nầy cũng phản ảnh của tâm thức của người Việt, đặc biệt là người miền Nam đầu thế kỷ XX. Lúc đó, Việt Nam đang bị thực dân cai trị và trong chừng mực nào đó, chịu ảnh hưởng văn hóa phương Tây; cho nên đang trên con đường tìm kiếm con đường tâm linh mới. Chính trong giai đoạn lịch sử nầy, Cao Đài đưa ra một thông điệp là Việt Nam có thể trở thành trung tâm hòa hợp văn minh nhân loại.

Đây là một khát vọng rất táo bạo của trí thức Nam Kỳ thời đó.

6.4- Ý nghĩa triết học: Bức tranh Thiên Nhân Hòa Ước còn thể hiện hai khuynh hướng  triết học thể hiện qua đường lối hòa hợp văn minh nhân loại một cách xác tín là “không có xung đột Đông – Tây vì tất cả nhân loại đều có thể hòa hợp trong đạo Trời”.

Còn khuynh hướng thứ hai qua nhận định rốt ráo là mọi người trên thế giới đều có thể trở thành cộng sự của Trời và con người chỉ là tín đồ dưới nhãn quan của Cao Đài.

7-    Khát vọng tìm con đường cứu nước

Vào đầu thế kỷ XX, nhiều trí thức Việt Nam tìm cách giải phóng dân tộc. Một trong những nhân vật có ảnh hưởng lớn là Tôn Dật Tiên - Sun Yat-sen mang tư tưởng về dân tộc, dân quyền, dân sinh…và đã ảnh hưởng mạnh đến trí thức Á châu. Phong trào và tư tưởng của Ông làm cho một số trí thức miền Nam tin rằng việc đổi mới tinh thần dân tộc phải đi cùng với việc đổi mới tâm linh.

Và, Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ Cao Đài mang tính “hiện đại”. Đối với trí thức thời đó, Cao Đài có nhiều điểm mới như Cao Đài tôn kính cả các nhân vật phương Tây như Victor Hugo. Điều này tạo cảm giác rằng tôn giáo này không bị giới hạn bởi văn hóa truyền thống. Từ đó, phát sinh ra tư tưởng hòa hợp tôn giáo, trong khi nhiều tôn giáo khác khẳng quyết chân lý duy nhất, thì Cao Đài lại nói:” Mọi tôn giáo đều xuất phát từ cùng một nguồn.”

Đây là tư tưởng rất hấp dẫn với trí thức thời xuất phát Đạo Cao Đài, như một luồng tư tưởng có tính tổng hợp khoa học và tâm linh.

8-    Vai trò của Nam Việt

Miền Nam Việt Nam vào đầu thế kỷ XX là vùng đất đang khai phá cho nên kinh tế phát triển nhanh chóng, có nhiều giao thương quốc tế trong một xã hội cởi mở. Do đó, nơi đây dễ xuất hiện các phong trào tôn giáo mới, các thử nghiệm xã hội dễ dàng được mang ra áp dụng. Việc nhiều trí thức tham gia Cao Đài không phải là điều ngẫu nhiên, phản ảnh ba yếu tố lớn của xã hội Việt Nam lúc đó do khủng hoảng của hệ tư tưởng cũ, ảnh hưởng của văn minh Tây phương, và khát vọng tìm con đường mới cho dân tộc

Do đó, Cao Đài không chỉ là một tôn giáo, mà còn là một nỗ lực của trí thức Việt Nam nhằm xây dựng một nền đạo đức và tâm linh mới trong thời đại hiện đại.

Tại sao Cao Đài xuất hiện mạnh ở Nam Bộ mà không phải miền Bắc?

Cao Đài ra đời ở Nam Kỳ, và điều này không phải là ngẫu nhiên. Vì:

 

·         Nam Kỳ là một xã hội “mở”: Khác với miền Bắc chịu ảnh hưởng nặng của Nho giáo truyền thống, còn miền Nam là vùng đất mới khai phá với dân cư hỗn hợp ít bị ràng buộc lễ giáo. Do đó người dân dễ tiếp nhận tôn giáo mới.

·         Nam Kỳ là nơi giao thoa giữa Đông – Tây: Trong thời thuộc địa Pháp, Nam Kỳ tiếp nhận giáo dục Tây phương, có giao thương quốc tế, và tiếp xúc văn hóa mạnh và tiến bộ. Hầu hết, những người sáng lập Cao Đài đều là công chức hoặc trí thức Tây học.

·         Nam Kỳ có truyền thống tôn giáo mới: Trước Cao Đài, Nam Kỳ đã xuất hiện nhiều tôn giáo bản địa độc đáo như Bửu Sơn Kỳ Hương, Phật giáo Hòa Hảo. Điều nầy cho thấy miền Nam là một vùng đất rất màu mỡ cho các phong trào tôn giáo.

·         Trong thập niên 1920, cuộc khủng hoảng xã hội ở miền Nam vào thập niên 1920 như nông dân quá nghèo, thiếu ăn, bị khủng hoảng kinh tế, và nhứt là bất mãn với chế độ thuộc địa. Từ đó, tôn giáo trở thành nơi tìm kiếm hy vọng và trật tự đạo đức mới. Cao Đài ra đời và tập hợp được nhiều tín đồ cũng chính nhờ hoàn cảnh xã hội đen tối trong giai đoạn nầy.

 

9-    Việt Nam như một giao điểm của các nền văn minh nhân loại

Từ góc nhìn lịch sử trên, việc đặt Việt Nam vào trung tâm của Tam Kỳ Phổ Độ không hoàn toàn ngẫu nhiên. Trong nhiều thế kỷ, Việt Nam nằm ở vị trí giao thoa giữa hai thế giới lớn, văn minh Trung Hoa ở phía Bắc và văn minh Ấn Độ – Đông Nam Á ở phía Nam. Đến thời cận đại, sự hiện diện của phương Tây đã tạo nên một tầng giao thoa mới giữa Đông và Tây.

Chính trong không gian giao thoa đó, nhiều hệ thống tư tưởng cùng tồn tại: Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo và Kitô giáo. Người Việt từ lâu đã quen với việc dung hòa các truyền thống khác nhau trong đời sống tinh thần. Tư tưởng Tam Giáo Đồng Nguyên đã trở thành một phần của văn hóa dân gian.

Sự xuất hiện của Đạo Cao Đài chỉ khuếch đại truyền thống dung hợp đã có sẵn trong dân gian nầy ra quy mô toàn cầu mà thôi.

Tuy nhiên, ý tưởng về vai trò trung tâm của Việt Nam trong Tam Kỳ Phổ Độ cũng phản ánh một yếu tố tâm lý quan trọng của thời đại. Đầu thế kỷ XX là thời kỳ nhiều dân tộc châu Á tìm cách xác định lại vị trí của mình trong trật tự thế giới. Sự trỗi dậy của phong trào cách mạng ở Trung Hoa dưới sự lãnh đạo của Sun Yat-sen hay phong trào độc lập ở Ấn Độ đã tạo cảm hứng cho nhiều trí thức Vi Tại sao Cao Đài đưa các nhân vật như Victor Hugo vào hệ thống tâm linh?



Một điều khiến nhiều học giả phương Tây ngạc nhiên là Cao Đài tôn kính Victor Hugo, và Joan of Arc. Theo Cao Đài những người có đạo đức lớn và lý tưởng nhân loại đều có thể trở thành chân linh hộ đạo. Ví dụ: Victor Hugo được xem là biểu tượng của tự do, nhân đạo, và công lý.

Việc tôn vinh các nhân vật như Victor Hugo bên cạnh các hiền triết Đông phương cho thấy khát vọng xây dựng một hệ thống tâm linh vượt qua ranh giới quốc gia và văn hóa.

Nhưng tiếc thay, trên thực tế, có rất nhiều khó khan vì sự khác biệt thần học và tín ngưỡng như Phật giáo không công nhận Thượng Đế, Kitô giáo khẳng quyết chỉ có một con đường cứu rỗi do Chúa mà thôi. Do đó việc thống nhất hoàn toàn là rất khó về mặt đức tin và triết học. Tuy nhiên, giá trị đích thực của Cao Đài không phải là “thống nhất thần học”, mà là mang tinh thần khoan dung tôn giáo vào nhân loại.

Đây là một tư tưởng rất tiến bộ cho thời kỳ đầu thế kỷ XX.

 

Từ những nhận xét trên đây, tầm nhìn của Cao Đài có một ý nghĩa đáng suy ngẫm, thay vì xem các tôn giáo là đối thủ của nhau, Cao Đài nhìn các tôn giáo khác như những con đường đồng hành cũng dẫn nhân loại đến cùng một chân lý.

 

10- Kết luận không đoạn kết cho thông điệp hòa bình

Dù người ta tin hay không tin vào giáo lý của Cao Đài, tư tưởng Tam Kỳ Phổ Độ vẫn là một đóng góp độc đáo của Việt Nam cho lịch sử tôn giáo thế giới. Nó phản ánh khát vọng hòa hợp các truyền thống tâm linh và mong muốn xây dựng một nền đạo đức chung cho nhân loại.

Việc nhiều trí thức tham gia Cao Đài không phải là điều ngẫu nhiên, mà vì Cao Đài phản ánh ba yếu tố lớn của xã hội Việt Nam lúc đó. Đó là khủng hoảng của hệ tư tưởng cũ, ảnh hưởng của văn minh Tây phương, và khát vọng tìm con đường mới cho dân tộc. Do đó, Cao Đài không chỉ là một tôn giáo, mà còn là một nỗ lực của trí thức Việt Nam nhằm xây dựng một nền đạo đức và tâm linh mới trong thời đương đại. Có thể nói rằng trong tầm nhìn của Cao Đài, Việt Nam không chỉ là một quốc gia địa lý, mà còn là một biểu tượng của sự giao hòa giữa các nền văn minh nhân loại.

 

Và chính khát vọng hòa hợp ấy, hơn là bất kỳ tuyên bố thần học nào, mới là thông điệp có giá trị lâu dài của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ. Và trong điều kiện đó, Cao Đài không chỉ là một tôn giáo mà còn là một tuyên bố tinh thầnViệt Nam không chỉ là một thuộc địa nhỏ bé, mà có thể đóng góp một điều gì đó cho văn minh nhân loại qua lời kêu gọi của Đức Hộ pháp Phạm Công Tắt trong “Hiến chương Hòa bình” năm 1956. Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc không đưa ra một “Giài pháp nhanh”, mà đưa ra một “Con đường hòa hợp ứng hợp với nét văn hóa dân tộc Việt.”

Nếu nhìn từ góc độ triết học, Đạo Cao Đài là sự tiếp nối của Tam Giáo Đồng Nguyên, sự mở rộng sang hòa hợp Đông – Tây, và là nỗ lực xây dựng một nền đạo đức chung cho nhân loại.

Nếu nhìn rộng ra lịch sử tôn giáo thế giới, Cao Đài có thể được xem là một trong những nỗ lực hiếm hoi của nhân loại nhằm hòa giải các tôn giáo lớn.

 

Dù thành công hay chưa, quan điểm của Cao Đài vẫn là:

  • Một di sản tâm linh độc đáo của Việt Nam
  • Một thí nghiệm triết học đáng chú ý của thế kỷ XX

 

Có thể nói Cao Đài Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ phản ảnh khát vọng của người Việt muốn biến đất nước mình thành nơi giao hòa của các nền văn minh trong đó việc giao lưu giữa người và người trong tinh thần tương thân tương kính – nhân ái – từ bi – hỷ xả - vị tha.

Mai Thanh Truyết

Con đường Việt Nam

Tháng 3-2026

 

 

Friday, March 13, 2026

 


Từ Iran đến Việt Nam: Trừng phạt

Hội nhập - Con đường phát triển – Phần II


 

Trong những năm gần đây, cuốn sách “Iran dưới các lệnh trừng phạt: Một xã hội chịu nhiều áp lực - L’Iran sous sanctions: Une société sous pression” của nhà nghiên cứu chiến lược người Pháp Joris Cuynet đã thu hút sự chú ý của nhiều học giả quan tâm đến quan hệ quốc tế và chính sách phát triển. Cuốn sách phân tích tác động của hơn bốn thập niên trừng phạt kinh tế đối với Iran của Tây phương. Từ đó, một thực tế đáng suy nghĩ cho chúng ta là sự trừng phạt có thể làm suy yếu nền kinh tế, nhưng không nhất thiết làm thay đổi thể chế chính trị. Quan trọng hơn, người chịu hậu quả nặng nề nhất thường là xã hội dân sự và đời sống của người dân bình thường.


Câu chuyện của Iran gợi lên nhiều suy nghĩ cho những quốc gia từng trải qua tình trạng cô lập quốc tế. Việt Nam sau năm 1975, trong một chừng mực nào đó, cũng từng sống trong hoàn cảnh tương tự. So sánh hai trường hợp này không phải để đồng nhất lịch sử của hai quốc gia, mà để rút ra những bài học về con đường phát triển và những lựa chọn chiến lược của một đất nước.



Câu chuyện Iran và Việt Nam đặt ra một câu hỏi lớn cho thế giới:”Liệu cô lập và trừng phạt có phải là con đường tốt nhất để thúc đẩy cải cách chính trị?”

Hay ngược lại, sự giao thương, công cuộc trao đổi văn hóa, và việc hội nhập kinh tế mới là con đường dẫn đến sự thay đổi lâu dài?

1-    Iran dưới áp lực trừng phạt

Sau cuộc Cách mạng Iran - Iranian Revolution, Iran trở thành một trong những quốc gia bị trừng phạt nhiều nhất trên thế giới. Hoa Kỳ và sau đó là nhiều quốc gia Tây phương  áp đặt hàng loạt biện pháp kinh tế nhằm gây áp lực lên chính quyền Tehran, đặc biệt liên quan đến chương trình hạt nhân và vai trò của Iran tại Trung Đông.

Các biện pháp này bao gồm hạn chế xuất cảng dầu, phong tỏa tài sản tài chính, cấm vận thương mại và cô lập hệ thống ngân hàng. Kết quả là nền kinh tế Iran chịu nhiều biến động: lạm phát cao, đồng tiền mất giá, đầu tư nước ngoài giảm mạnh và đời sống người dân gặp nhiều khó khăn.

Tuy nhiên, điều đáng chú ý là hệ thống chính trị của Iran vẫn tồn tại và thích nghi. Nhà nước Iran phát triển một mô hình kinh tế tương đối tự lực, thúc đẩy sản xuất nội địa và xây dựng các mạng lưới thương mại thay thế. Một số ngành như công nghiệp quốc phòng và khoa học hạt nhân thậm chí còn đạt được những tiến bộ đáng kể.



Từ góc nhìn của tác giả Cuynet, sự trừng phạt đã tạo ra một xã hội “dưới áp lực”, nhưng không làm thay đổi căn bản cấu trúc quyền lực của nhà nước. Đây chính là nghịch lý của chính sách trừng phạt vì chính sách nầy có thể gây thiệt hại kinh tế, nhưng hiệu quả chính trị của nó lại rất hạn chế.

Lịch sử của nhiều quốc gia cho thấy, khi một quốc gia mở cửa ra thế giới, xã hội sẽ thường thay đổi nhanh hơn.

2-    Việt Nam sau 1975 - Một giai đoạn bị cô lập

Lịch sử Việt Nam sau năm 1975 cho thấy một hoàn cảnh có phần nào tương tự. Sau khi chiến tranh kết thúc, Việt Nam bước vào giai đoạn tái thiết trong điều kiện kinh tế kiệt quệ và bị cô lập với nhiều nền kinh tế Tây phương. Hoa Kỳ áp đặt cấm vận, hệ thống tài chính quốc tế đóng cửa, và đất nước phải dựa chánh yếu vào các mối liên quan với khối xã hội chủ nghĩa.

Hai kế hoạch ngũ niên vào giữa thập niên 1980 là thời kỳ đầy khó khăn cho Việt Nam với một nền kinh tế kế hoạch hóa què quặt vì áp dụng triệt để chuyên chính vô sản, kinh tế tập trung bộc lộ nhiều hạn chế. Từ đó phát sinh ra tệ trạng sản xuất thấp, thiếu lương thực, lạm phát cao và đời sống người dân gặp nhiều thiếu thốn. Trong hoàn cảnh đó, xã hội Việt Nam cũng trải qua một trạng thái “chịu áp lực” tương tự như mô tả của Cuynet về Iran.

Đọc cuốn sách về Iran, người Việt Nam dễ dàng nhận ra một sự tương đồng lịch sử. Sau năm 1975, Việt Nam cũng trải qua một giai đoạn bị cô lập và cấm vận quốc tế kéo dài gần 20 năm.

Đặc biệt từ từ giai đoạn 1975 – 1994, trong thời kỳ này, Hoa Kỳ áp đặt cấm vận kinh tế và Việt Nam bị cách ly trong hệ thống tài chính quốc tế thương mại với phương Tây, và gần như không còn tồn tại.

Hậu quả là trong những năm 1980, thể hiện một giai đoạn cực kỳ khó khăn cho Việt Nam qua việc thiếu lương thực, lạm phát cao, hệ thống tem phiếu với một nền kinh tế bao cấp què quặc.

Trong nhiều khía cạnh, xã hội Việt Nam trong giai đoạn nầy cũng giống như Iran, một xã hội sống dưới áp lực của sự cô lập quốc tế.

Và cũng giống Iran, các biện pháp cô lập quốc tế không làm thay đổi chế độ chính trị.

Ngược lại, trong nhiều giai đoạn nó còn làm tăng tinh thần chống ngoại bang và các thế lực quốc tế, và quan trọng nhứt là củng cố tính chính danh của nhà nước.

Điều này cho thấy một thực tế là các lệnh trừng phạt hiếm khi tạo ra thay đổi chính trị nhanh chóng.

Tuy nhiên, Việt Nam, ngay sau khi TT Clinton mở cánh cửa bang giao với Việt Nam năm 1995, ngay sau đó, Việt Nam đã đưa ra một quyết định mang tính bước ngoặt là cải cách kinh tế và mở cửa ra thế giới từ đầu năm 1986 qua chính sách “Đổi mới” một lần nữa qua chính sách Phát triển kinh tế xã hội chủ nghĩa (XHCN) theo định hướng kinh tế thị trường (KTTT). Chính mô hình này vận dụng cơ chế thị trường để phân bổ nguồn lực, cạnh tranh, nhưng đặt dưới sự quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN, hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, công bằng và văn minh. 

Chính sách Đổi Mới “lần 2” đánh dấu sự chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa sang một mô hình kinh tế thị trường mang định hướng xã hội. Những cải cách này bao gồm trao quyền sản xuất cho nông dân, khuyến khích kinh tế tư nhân, thu hút đầu tư nước ngoài và từng bước hội nhập với hệ thống kinh tế toàn cầu.

Những thay đổi nầy đã tạo ra một chuyển biến sâu sắc. Từ một nền kinh tế thiếu lương thực, Việt Nam trở thành một trong những nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới. Tốc độ tăng trưởng kinh tế trong nhiều thập niên đạt mức cao, hàng chục triệu người thoát khỏi nghèo đói và mức sống của xã hội được cải thiện đáng kể.

Quan trọng hơn, Việt Nam dần dần phá vỡ tình trạng cô lập quốc tế. Các mối liên lạc ngoại giao được mở rộng, thương mại phát triển nhanh và đất nước trở thành một thành viên tích cực của nhiều tổ chức kinh tế toàn cầu.

3-    Bài học từ hai con đường

So sánh Iran và Việt Nam cho chúng ta thấy một điểm chung của cả hai quốc gia Iran và Việt Nam đều phải đối diện với áp lực bên ngoài và những khó khăn nội tại. Tuy nhiên, con đường mà mỗi nước lựa chọn đã tạo ra những kết quả khác nhau.

Một, Iran nhấn mạnh vào sự tự lực và kháng cự trước áp lực quốc tế. Mô hình này giúp duy trì chủ quyền và khả năng tự chủ trong một số lĩnh vực, nhưng cũng khiến nền kinh tế chịu nhiều hạn chế.

Hai, Việt Nam, ngược lại, chọn con đường hội nhập và cải cách bằng cách mở cửa nền kinh tế và tham gia vào hệ thống thương mại toàn cầu. Từ đó, đất nước đã tạo ra những cơ hội phát triển mới.

Bài học quan trọng ở đây không phải là quốc gia nào “đúng” hay “sai”, mà là nhận thức rằng trong thời đại toàn cầu hóa, sự kết nối với thế giới thường mang lại nhiều cơ hội phát triển hơn là sự “tự/bị” cô lập.

4-    Những thách thức mới của Việt Nam

Dù đạt được nhiều thành tựu, Việt Nam vẫn đứng trước những thách thức lớn trong giai đoạn phát triển từ sau khi mở cửa năm 1986 như:

·         Bẫy thu nhập trung bình: Khi lợi thế lao động giá rẻ dần mất đi, nền kinh tế cần chuyển sang dựa nhiều hơn vào công nghệ và sáng tạo.

·         Cạnh tranh địa chính trị: Việt Nam nằm giữa các cường quốc lớn như Hoa Kỳ và Trung Cộng, đòi hỏi chiến lược ngoại giao và kinh tế cân bằng.

·         Khủng hoảng môi trường và tài nguyên: Tình trạng ô nhiễm, sự biến đổi khí hậu và sự suy thoái nguồn nước là thách thức lớn đối với Việt Nam. Các sự kiện trên theo thời gian, đã là chậm lại mức phát triển quốc gia nhưng không cân bằng với việc bảo vệ môi trường.

 


·         Quản trị và thể chế:

 Có cải cách hành chính và tăng hiệu quả quản trị là điều kiện quan trọng để thu hút đầu tư và phát huy sáng tạo xã hội. Nhưng việc cải cách diễn ra chậm do sức trì của những cán bộ bảo thủ và giáo điều khiến cho công cuộc phát triển quốc gia vướng nhiều trở ngại, khó bắt kịp đà tiến triển của thế giới. Từ đó, khiến cho “mức tuổi lao động” ngày càng “già” đi trước khi Việt Nam…bước vào bẩy thu nhập trung bình. ·         Sức mạnh xã hội dân sự: Trí thức, doanh nghiệp, tổ chức cộng đồng đóng vai trò quan trọng trong phản biện và đóng góp sáng kiến cho phát triển cho đến nay, vẫn chưa được khai triển đúng mức vì những yếu tố vừa kể trên.

Nhưng, dù sao đi nữa, qua thời gian, Việt Nam lần lần có những hướng đi dù chậm chạp, và cũng đã vướng phải không ít thất bại trong kế hoạch phát triển, nhưng rồi cũng tăng tốc phát triển hàng năm từ 6 – 10% trong thập niên 2010.

5-    Kết luận



Cuốn sách L’Iran sous sanctions: Une société sous pression không chỉ là một nghiên cứu về Iran, mà là một lời nhắc nhở về một thực tế trong chính trị quốc tế:” Việc trừng phạt kinh tế là một vũ khí mạnh, nhưng không phải lúc nào cũng nhắm đúng mục tiêu.”

Đôi khi nó làm tổn thương xã hội nhiều hơn là làm thay đổi quyền lực.

Và khi nhìn lại lịch sử Việt Nam sau 1975, ta thấy một điều rõ ràng, con đường giúp một quốc gia thay đổi và phát triển bền vững không phải là cô lập, mà là hội nhập với thế giới.

Lịch sử cho thấy một chân lý bất di bất dịch là quyết định vận mệnh và tương lai một quốc gia không chỉ nằm ở hoàn cảnh quốc tế, mà ở khả năng thích nghi, cải cách và phát huy năng lực toàn xã hội của chính quốc gia đó.

Iran dưới áp lực trừng phạt và Việt Nam sau 1975 chứng minh rằng áp lực bên ngoài chỉ là một phép thử, mà chính quyết định đúng đắn của quốc gia mới định hình được tương lai. Việt Nam đang đứng trước thời kỳ lịch sử mới, khi công nghệ, trí tuệ nhân tạo, và chuyển đổi xanh tạo ra cơ hội chưa từng có.

Nhìn lại câu chuyện của Iran qua cuốn L’Iran sous sanctions: Une société sous pression của Joris Cuynet, và so sánh với kinh nghiệm lịch sử của Việt Nam sau năm 1975, ta thấy rõ một quy luật của lịch sử phát triển là số phận của một quốc gia không chỉ do hoàn cảnh quốc tế quyết định, mà chánh yếu là do khả năng thích nghi và cải cách của chính quốc gia đó.

Những thập niên sắp tới sẽ là một giai đoạn quyết định đối với Việt Nam. Chúng ta có thể hình dung ba kịch bản tương lai Việt Nam

·         Kịch bản thứ nhất là kịch bản tăng trưởng bền vững. Nếu Việt Nam tiếp tục cải cách thể chế, nâng cao chất lượng giáo dục, thúc đẩy khoa học công nghệ và bảo vệ môi trường, đất nước có khả năng vươn lên  và thoát khỏi ngưỡng cửa “thu nhập trung bình” vào giữa thế kỷ XXI. Trong trường hợp này, Việt Nam có thể trở thành một trung tâm sản xuất công nghệ, dịch vụ và đổi mới sáng tạo của khu vực Đông Nam Á.

·         Kịch bản thứ hai là kịch bản tăng trưởng chậm lại. Nếu cải cách thể chế và đổi mới khoa học, công nghệ diễn ra chậm, Việt Nam có thể rơi vào tình trạng “bẫy thu nhập trung bình”. Nền kinh tế vẫn tăng trưởng nhưng ở tốc độ thấp hơn, trong khi các quốc gia khác trong khu vực tiến nhanh hơn.

·         Kịch bản thứ ba là kịch bản bất ổn phát triển. Nếu các vấn đề môi trường, bất bình đẳng xã hội và cạnh tranh địa chính trị không được quản lý tốt, những yếu tố này có thể tạo ra những thách thức lớn đối với sự ổn định và phát triển lâu dài của đất nước.

Tuy nhiên, lịch sử Việt Nam đã nhiều lần chứng minh rằng dân tộc này có khả năng thích nghi mạnh mẽ trước những biến động của thời đại. Từ một đất nước bị tàn phá bởi chiến tranh, Việt Nam đã từng bước vươn lên thông qua những quyết định cải cách quan trọng như chính sách Đổi Mới.

Trong bối cảnh thế giới đang bước vào một thời đại mới của công nghệ, trí tuệ nhân tạo và chuyển đổi xanh, cơ hội của Việt Nam vẫn còn rất lớn. Với một dân số trẻ, tinh thần học hỏi mạnh mẽ và vị trí địa chiến lược quan trọng trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương, Việt Nam có những điều kiện thuận lợi để tiếp tục phát triển.

Nhưng để biến tiềm năng thành hiện thực, đất nước cần tiếp tục đi theo con đường đã chứng minh hiệu quả: mở cửa, cải cách, phát huy trí tuệ của toàn xã hội và đặt lợi ích lâu dài của quốc gia lên trên mọi lợi ích cục bộ.

Nếu làm được điều đó, tương lai của Việt Nam trong vài thập niên tới có thể không chỉ là một quốc gia phát triển về kinh tế, mà còn là một xã hội bền vững, sáng tạo và có đóng góp tích cực cho hòa bình và tiến bộ của khu vực cũng như của thế giới.

Nếu biết kết hợp khả năng sáng tạo của con người với tầm nhìn chiến lược quốc gia, Việt Nam có thể trở thành một quốc gia phát triển mạnh mẽ, sáng tạo và bền vững. Những quyết định hôm nay chính là nền móng cho những tiên liệu cho tương lai, một tương lai mà Việt Nam không chỉ phát triển kinh tế mà còn trở thành hình mẫu về trí tuệ, sáng tạo và ổn định trong khu vực Đông Nam Á.

Tóm lại, cuốn sách L’Iran sous sanctions: Une société sous pression còn nhắc nhở thế giới rằng: “cô lập và trừng phạt có thể tạo áp lực, nhưng không phải lúc nào cũng tạo ra thay đổi tích cực cho xã hội.”

Mai Thanh Truyết

Houston – Tháng 3-2026



 

Thursday, March 12, 2026

 


Iran trước các lệnh trừng phạt: Một xã hội chịu nhiều áp lực

L’Iran Sous Sanctions: Une Société Sous Pression – Phần I

 


Cuốn sách Iran trước các lệnh trừng phạt: Một xã hội chịu nhiều áp lực - L’Iran sous sanctions: Une société sous pression của Joris Cuynet xuất bản năm 2022 tại Pháp do nhà xuất bản Éditions L'Harmattan thực hiện, là một công trình nghiên cứu địa chính trị và xã hội học về hậu quả của các lệnh trừng phạt quốc tế đối với Iran. Sách gồm 207 trang và nằm trong bộ nghiên cứu “L’Iran en transition”

Cuốn sách dựa trên các số liệu kinh tế, phân tích chính sách quốc tế, và những lời chứng và khảo sát từ người dân Iran.

Nhờ vậy, tác giả không chỉ nhìn vấn đề từ góc độ chiến lược mà còn từ đời sống hàng ngày của xã hội Iran. Tuy nhiên, ý nghĩa của cuốn sách không chỉ nằm ở câu chuyện Iran. Nó còn mở ra một câu hỏi rộng hơn và đóng góp vào cuộc tranh luận lớn trong quan hệ quốc tế là:

“Liệu việc trừng phạt kinh tế - sanctions có thật sự hiệu quả hay không?”.

”Trừng phạt kinh tế có thật sự thay đổi được chế độ chính trị, hay chỉ làm xã hội đau khổ hơn?”

Cuynet cho rằng, trừng phạt có thể làm suy yếu kinh tế nhưng hiếm khi làm thay đổi chế độ chính trị và thường gây tổn hại cho người dân trước tiên.



Dưới đây là nội dung và ý nghĩa chính của cuốn sách.

1- Hoàn cảnh lịch sử của các lệnh trừng phạt Iran

Tác giả bắt đầu bằng việc trình bày lịch sử của các lệnh trừng phạt kéo dài hơn 40 năm đối với Iran. Các mốc quan trọng gồm:

  • 1979: Sau Cách mạng Hồi giáo Iran, Hoa Kỳ phong tỏa tài sản Iran vì vụ bắt giữ con tin tại Đại sứ quán Mỹ.
  • 1995: Mỹ áp đặt cấm vận kinh tế toàn diện.
  • 2006–2012: Liên Hiệp Quốc và Liên minh châu Âu áp đặt các biện pháp trừng phạt liên quan đến chương trình hạt nhân.
  • 2018: Mỹ rút khỏi thỏa thuận hạt nhân và tái áp đặt chiến lược “áp lực tối đa” đối với Iran. 

Theo Cuynet, kể từ thập niên 2010, Iran sống gần như trong tình trạng cấm vận kinh tế toàn diện, đã sống dưới các hình thức trừng phạt gần như liên tục từ sau Cách mạng Hồi giáo 1979 cho đến nay.

Những biện pháp này do Hoa Kỳ, châu Âu và nhiều tổ chức quốc tế áp đặt, nhằm ngăn chặn chương trình hạt nhân của Iran, hạn chế ảnh hưởng chính trị của Iran ở Trung Đông, và gây áp lực buộc chính quyền thay đổi chính sách. 

Tuy nhiên, tất cả những cấm vận trên lại đưa ra một kết quả khá nghịch lý.

1.1-       Hậu quả kinh tế: Các lệnh cấm vận làm suy yếu nghiêm trọng nền kinh tế Iran như xuất cảng dầu giảm mạnh, đồng tiền Rial mất giá, và đầu tư nước ngoài gần như biến mất. Trong nhiều năm, một quốc gia giàu dầu mỏ như Iran lại phải đối diện với nạn lạm phát cao, thất nghiệp luôn chiếm trên 15%. Từ đó tầng lớp trung niên, điểm tựa căn bản của một quốc gia, ngày càng suy giảm,

 

1.2-       Hậu quả xã hội: Cuynet nhấn mạnh rằng đối tượng chịu tác động nặng nhất không phải là tầng lớp lãnh đạo mà là người dân. Những hậu quả xã hội gồm các khó khăn trong tiếp cận thuốc men, giảm cơ hội việc làm, và sự bất mãn ngày càng lớn trong xã hội. Nhưng sự kiện làm tổn thương cho tiềm lực của quốc gia là … sự trốn chạy của tầng lớp chuyên viên, và trí thức (brain drain). Đây mới chính là hậu quả nghiêm trọng nhứt cho việc phát triển quốc gia.

Nhiều nghiên cứu kinh tế cho thấy các lệnh trừng phạt làm giảm tăng trưởng, giảm việc làm và làm tăng lạm phát trong nền kinh tế Iran. 

 

2- Các luận điểm chính của cuốn sách

Luận điểm trọng tâm của tác giả là các lệnh trừng phạt nhằm gây áp lực lên chính quyền Iran, khiến cho cường quyền ngày càng co cụm và kiểm soát người dân càng khắc nghiệt hơn. Chính điều nầy khiến người dân phải chịu hậu quả nặng nhất trong chính trị, kinh tế, và xã hội dân sự.

Tuy nhiên, có một ý tưởng trong quyển sách, một nghịch lý chính trị, một điểm rất đáng chú ý là, tuy gần như cả thế giới trừng phạt nhằm làm suy yếu chính quyền, nhưng đôi khi lại giúp chính quyền Iran củng cố quyền lực. Bởi vì khi bị áp lực từ bên ngoài, Iran có thể kêu gọi tinh thần dân tộc:“Quốc gia đang bị bao vây.” Hiện tượng này trong khoa học chính trị gọi là:”Tập hợp quanh lá cờ - Rally around the flag effect”.

3- Một vài nhận định về cuốn sách

Mặc dù cuốn sách có giá trị nghiên cứu, nhưng cũng có vài giới hạn trong đó, tác giả Cuynet tập trung nhiều vào đời sống người dân, nhưng ít phân tích sâu về cấu trúc quyền lực của nhà nước Iran, hoặc vai trò của lực lượng Vệ binh Cách mạng, và nhứt là cơ chế kinh tế nhà nước chỉ được phân tích quá ngắn gọn. Những yếu tố trên rất quan trọng để chúng ta có thể hiểu tại sao chế độ vẫn tồn tại trong suốt mấy chục năm trường.



Một số nhà nghiên cứu cho rằng Iran không chỉ chịu đựng trừng phạt, mà còn thích nghi với chiến lược cấm vận của Tây phương. Chánh quyền Iran đã phát triển và có nhiều bước tiến bộ qua kỹ nghệ quốc phòng nội địa, thiết lập một mạng lưới thương mại phi chính thức/ngoài luồng, nhứt là thành hình được một hệ thống tài chính ngoài hệ thống dollar.

Điều này giúp quốc gia Iran duy trì khả năng tồn tại. Có một điểm rất đáng được chú ý trong quyển sách là tác giả Cuynet đặt ra một câu hỏi khiến cho người viết chú ý và quyết định chấp bút là, tác giả cuốn sách đặt một câu hỏi lớn cho người đọc:Liệu phương Tây có đánh sai mục tiêu không?” Câu hỏi đang bỏ ngỏ, và đang chờ đợi câu trả lời của những nhà chiến lược trong khi cuộc chiến trừng phạt Iran của liên quân Mỹ - Israel đang tiếp diễn (10/3/2026).

4- Kết luận

Một thông điệp sâu xa của cuốn sách L’Iran sous sanctions: Une société sous pression là trừng phạt kinh tế là một công cụ mạnh nhưng không phải là giải pháp đơn giản cho các vấn đề chính trị.

Cuốn sách L’Iran sous sanctions: Une société sous pression không chỉ là một nghiên cứu về Iran, mà là lời nhắc nhở về một thực tế trong chính trị quốc tế, trừng phạt kinh tế là một vũ khí mạnh, nhưng không phải lúc nào cũng đúng mục tiêu. Đôi khi nó làm tổn thương xã hội nhiều hơn là làm thay đổi quyền lực, có thể gây áp lực lên nhà nước, nhưng đồng thời cũng làm xã hội kiệt quệ.

Vì vậy, trong quan hệ quốc tế, nhiều học giả cho rằng, đối thoại và hội nhập kinh tế thường tạo ra thay đổi bền vững hơn trừng phạt.

Sau cuộc Cách mạng Hồi giáo năm 1979, Iran trở thành một trong những quốc gia bị trừng phạt nhiều nhất trên thế giới. Hoa Kỳ và sau đó là nhiều quốc gia phương Tây áp đặt hàng loạt biện pháp kinh tế nhằm gây áp lực lên chính quyền Tehran, đặc biệt liên quan đến chương trình hạt nhân và vai trò của Iran tại Trung Đông.

Các biện pháp này bao gồm hạn chế xuất cảng dầu, phong tỏa tài sản tài chính, cấm vận thương mại và cô lập hệ thống ngân hàng. Kết quả là nền kinh tế Iran chịu nhiều biến động như lạm phát cao, đồng tiền mất giá, đầu tư nước ngoài giảm mạnh và đời sống người dân gặp nhiều khó khăn.

Tuy nhiên, điều đáng chú ý là hệ thống chính trị của Iran vẫn tồn tại và thích nghi. Nhà nước Iran phát triển một mô hình kinh tế tương đối tự lực, thúc đẩy sản xuất nội địa và xây dựng các mạng lưới thương mại thay thế. Một số ngành như công nghiệp quốc phòng và khoa học hạt nhân thậm chí còn đạt được những tiến bộ đáng kể.

Từ góc nhìn của Cuynet, trừng phạt đã tạo ra một xã hội “dưới áp lực”, nhưng không làm thay đổi căn bản cấu trúc quyền lực của nhà nước. Đây chính là nghịch lý của chính sách trừng phạt này, dù có thể gây thiệt hại kinh tế, nhưng hiệu quả chính trị của nó lại rất hạn chế.



Cuốn sách “Iran dưới các lệnh trừng phạt: Một xã hội chịu nhiều áp lực” là một nghiên cứu quan trọng về địa chính trị Trung Đông, tác động xã hội của trừng phạt kinh tế, và về mối quan hệ giữa chính trị quốc tế và đời sống người dân Iran.

Cuốn sách không chỉ nói về Iran, mà còn đặt ra câu hỏi chung cho thế giới:”Trừng phạt kinh tế có phải là một chính sách đúng đắn hay chỉ là một hình thức gây đau khổ cho người dân?”

Xem tiếp Phần II - Từ Iran đến Việt Nam: Trừng phạt

Hội nhập - Con đường phát triển – Phần II

 

Mai Thanh Truyết

Cuộc tranh trừng đang tiếp diễn

Houstob – 10/3/2026