Saturday, August 1, 2026

 Đảng Tân Đại Việt tổ chức Lễ Tưởng Niệm Lần Thứ 36 Cố Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy

 

 


nghi thức chào cờ từ phải: Ông Hoàng Đình Khuê, Nhà Giáo, Nhà văn Trần Phong Vũ, Nhà văn Nguyễn Quang, TS. Mai Thanh truyết, Ông Phan Thanh Châu và Bà Nguyễn Thế Thủy

 

Westminster, Nam California  (Thanh Huy) – Tại Hội trường VietlifeTV thành phố Westminster vào lúc 1 giờ chiều Chủ Nhật ngày 26 tháng 7 năm 2026, Đảng Tân Đại Việt đã long trọng tổ chức Lễ Tưởng Niệm lần Thứ 36 Cố  Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy,  Đảng Trưởng Đảng Tân Đại Việt.


 

Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy qua đời vào ngày 28 tháng 7, 1990 trên bước đường hoạt động tranh đấu cho một nước Việt Nam dân chủ tự do thực sự. Từ đó đến nay đã trải qua 36 năm, cứ đến độ hè về vào cuối tháng bảy hàng năm Đảng Tân Đại Việt đều long trọng tổ chức lễ tưởng niệm Cố Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy. Chính sự kiện này cho thấy hậu thế không bao giờ quên một nhân vật đặc biệt trong lịch sử VN.

 

Tham dự lễ tưởng niệm, ngoài một số các Đảng viên Tân Đại Việt, Liên Minh Dân Chủ, còn có quý vị quan khách như: Nhà Văn Nguyễn Quang, Nhà Giáo, Nhà Văn Trần Phong Vũ, Tiến Sĩ Mai Thanh Truyết, Ông Phan Thanh Châu Đại Diện Việt Nam Quốc Dân Đảng, Kỹ Sư Phạm Ngọc Lân, Bà Nguyễn Thế Thủy, Ủy Viên Giáo Dục Học Khu Westminster, Nhà Văn Việt Hải và phái đoàn Nhân Văn Nghệ Thuật-Tiếng Thời Gian, Bình Luận Gia Nguyễn Kim Bình, Phó Chủ Tịch Cộng Đồng Người Việt Nam California, Kỹ Sư Cao Thái Hải, Cô Annie Wright (con gái Giáo Sư Nguyễn Văn Bông) một số quý vị nhân sĩ, quý cơ quan truyền thông và đồng hương tham dự.

 

Điều hợp chương trình buổi lễ do MC: Thụy Lan, mở đầu MC Thụy Lan cho biết lý do và thông qua chương trình. Sau đó nghi thức chào quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa, Hoa Kỳ và phút mặc niệm.

 


Tiếp theo ông Hoàng Đình Khuê  Chủ Tịch Đảng Tân Đại Việt lên tuyên bố lý do buổi lễ, Ông nói: “Thay mặt cho Ban tổ chức TĐV, chúng tôi xin Chào mừng và Cảm tạ sự hiện diện của Quý vị trong Buổi Lễ Tưởng Niệm Lần thứ 36 Cố GS Nguyễn Ngọc Huy. Điều này nói lên lòng ưu ái và mối thiện cảm của Quý vị với GS Nguyễn Ngọc Huy và Đảng Tân Đại Việt.

Hôm nay chúng tôi không nói gì về Tiểu sử, Văn bằng và Di sản cũng như Sự nghiệp của GS Huy. Chúng tôi sẽ tiết lộ những điều ít biết về cuộc đời của GS:


1- Cơ duyên học chữ Hán:

 

GS Huy quê ở Tân Uyên/ Biên Hòa trong một gia đình 10 ACE, GS Huy thứ 9 và cô Út Uyên thứ 10. Không may trong gia đình có cái “huông” hễ sanh con trai là chết yểu gọi là giờ “SÁT” chẳng hạn như anh Hai, anh Tư, anh Bảy, anh Tám đều chết; còn chị Ba, chị Tư, chị Sáu còn sống. Cho nên khi sinh ra GS Huy là con Trai thứ 9 thì gia đình rất lo sợ mới đi chùa, cầu khẩn Thầy chùa, Thầy pháp thì được mách là phải đổi ra người Nữ để tránh tai mắt Thần Thánh.

Theo tục lệ và mê tín dị đoan của người xưa thì trường hợp này gọi là “Xấu Hài”. Những người sinh ra giờ Sát rất khó nuôi. Theo truyền miệng đứa trẻ từ lúc sinh ra đến 12 tuổi phải có Cô Mụ đỡ đầu cho đến khi 13 tuổi thì coi như qua được cõi Chết. Cho nên để dối gạt Thần Linh, người Nam phải sống theo lối người Nữ, nghĩa là phải mang tên Nữ, mặc quần áo như Nữ, xỏ lỗ tai, mang kiểng ở cổ chân và nhất là đem bán cho gia đình khác nuôi.


Do đó gia đình mới gởi cho Dì Sáu nuôi.

 

Gia đình bên Ngoại sống ở làng Tân Hòa, Tân Khánh/ Biên Hòa. Hai làng này nổi tiếng giỏi Võ. Có một dạo người Pháp cấm hai làng này không được dạy Võ. GS Huy sống với gia đình Dì Sáu và học hành rất chăm chỉ.


Ông Ngoại của GS Huy là cụ Trần Văn Thỉnh, biệt danh là Trần Minh Đức, một nhà Nho nổi tiếng và cũng là nhà Nho cuối cùng của miền Nam. Lúc bấy giờ GS Huy mới 9 tuổi, lúc rảnh rỗi GS Huy thường đứng bên ngoài nghe ông Ngoại dạy chữ Nho. Nhận thấy cháu ngoại hiếu học và thông minh, nên ông Ngoại truyền hết kho chữ Nho cho cháu ngoại.

Sau này GS Huy có biệt hiệu “ông Đồ mặc âu phục.”

 

Lý do tôi biết được bí mật này là nhân dịp đi công tác ở Sydney-New South Wales/Úc Châu gặp được GS Liêng Khắc Văn là anh em bạn Dì với GS Huy cho biết; một nhân vật nổi tiếng trong cộng đồng Sydney và cũng là cựu hoc sinh Petrus Ký, bạn với GS Dương Ngọc Sum.

 

2- Học giả với viễn kiến sâu sắc:

 

Mặc dù GS Huy là một chính trị gia với bằng cấp Tiến sĩ Chính Trị Học với một di sản Văn hóa gồm nhiều tác phẩm viết bằng tiếng Anh, tiếng Pháp và Hán văn, nhưng người đời khâm phục và ngưỡng mộ sự hiểu biết thời sự quốc tế, nhất là viễn kiến uyên bác và đa diện của GS Huy:


a) Trong cuộc chiến Việt Nam, ai đã gây ra sự kiện 30/04/1975?


Phần lớn các Sử gia, các nhà bình luận chính trị đều đổ trách nhiệm cho nhau đã làm mất miền Nam. Nhưng GS Huy đã thấy rõ nguyên nhân chính đã xảy ra biến cố 30/04/1975.


Theo GS Huy nguyên nhân chính là Hoa Kỳ đã có kế hoạch bỏ miền Nam kể sau vụ Tết Mậu Thân.

 


Ông Hoàng Đình Khuê, Chủ Tịch Đảng Tân Đại Việt chào mừng và cảm ơn quan khách và đồng hương tham dự

Thế lực đứng sau kế hoạch bỏ miền Nam là do hai sắc tộc mạnh nhất, đó là sắc tộc gốc Ái Nhĩ Lan và sắc tộc Do Thái. Trong giai đoạn này thì sắc tộc Do Thái là thủ phạm. Họ chủ trương nắm giữ các cơ quan trong chính phủ từ Hành pháp, Lập pháp, Tư pháp, nhất là Truyền thông đã khiến cho chánh sách đối ngoại của Hoa Kỳ luôn binh vực quyền lợi của Do Thái.


Những tiết lộ tế nhị của GS Huy hoàn toàn phù hợp với nhận định của Linh Mục Cao Văn Luận nhân dịp tái bản tác phẩm Bên Giòng Lịch Sử, ông cho rằng thế lực dân Mỹ gốc Do Thái chủ trương Hoa Kỳ phải rút quân khỏi Việt Nam.

b) Ai đã làm sụp đổ bức tường Bá Linh (9/11/1989) và tan rã Liên Xô (21/12/1991)?

 

Câu hỏi lịch sử này đã gây tranh cãi mấy chục năm qua và có nhiều câu trả lời chủ quan khác nhau tùy theo hoàn cảnh, trình độ và đề cao tinh thần Dân tộc.

- Phía Ba Lan cho là nhờ hai công dân Ba Lan là Lãnh tụ Nghiệp đoàn Walesa và Đức Giáo Hoàng John Paul II.


- Phía Hung Gia Lợi cho rằng nhờ cựu Thủ tướng Nemeth đã mở đường biên giới Áo-Hung.


 - Phía Đông Đức cho rằng nhờ lực lượng cải cách của Đảng cộng sản Đông Đức đã thành công lật đổ nhà độc tài Honecker …

- Phía Tây Đức cho rằng nhờ chánh sách hòa dịu của cựu Thủ tướng Brandt đã thay đổi chế độ công sản …


- Phía Liên Xô thì cho rằng chính TBT Gorbachev với chánh sách cởi mở nên xảy ra tình trạng mất kiểm soát.

 

Nhưng theo GS Huy cho rằng nhờ cố Tổng thống Reagan hành xử cứng rắn với Liên Xô. Ông khích tướng kêu gọi Gorbachev mở cửa và làm sụp đổ bức tường này. GS Huy đã tiên đoán rất sớm và trình bày cặn kẻ trong tác phẩm “Perestroika” (viết bằng Anh ngữ), dày 420 trang với 200 lần dẫn chứng tài liệu) và “Glasnost”.Ông cho rằng bắt buộc ông Gorbachev phải cởi mở chánh sách để đối đầu với Hoa Kỳ của Tổng thống Reagan đang trên đà leo thang với phòng thủ chống hỏa tiễn SDI (Strategic Defense Initiative)

 

Tiến Sĩ Mai Thanh Truyết phát biểu

  

 

c) Biến cố Anh quốc trao trả Hồng Kông cho Trung quốc năm 1997.Từ đó GS Huy đã tiên đoán Dân Hồng Kông sẽ biểu tình chống đối giống như Truyện Tây Du Ký khi Bà La Sát nuốt Tôn Hành Giả vào bụng (Tôn Ngộ Không) khi Tôn Hành Giả hóa ra con bồ hóng trong chén trà, Tôn Hành Giả dùng thiết bản quậy lục phủ ngũ tạng, bà La Sát đau quá phải chịu thua.

GS Huy mất năm 1990, Hồng Kong được trả cho Trung Quốc ngày 1/7/1997, 7 năm sau khi GS qua đời nhưng viễn kiến về chính trị của ông rất nhậy bén trước nhiều thập niên:dân chúng Hồng Kông sẽ biểu tình đòi Dân chủ.


Sau đó Phong trào Dân chủ Hong Kong biểu tình qua cuộc Cách Mạng Dù năm 2014. Thành phần học sinh đã tham gia tranh đấu. Một học sinh tên Joshua Wong (Hoàng Chí Phong) và cô sinh viên Alex Chao (Chu Đình) trong vai trò thủ lãnh đã thành công huy động thành phần sinh viên, học sinh lên tới hàng trăm ngàn người.

Đến ngày 9 tháng 6 năm 2019, hơn 1 triệu người Hong Kong lại xuống đường với những cánh Dù vàng. Joshua Wong vẫn còn trong tù.

 

d)  Những lá thơ của các vị Tổng Thống Hoa Kỳ vinh danh GS Huy:

 

1) Sau khi GS Huy qua đời, biết bao nhiêu các nhà lãnh đạo trong chính quyền Mỹ, các nhân vật nổi tiếng như các chính trị gia, học giả, nhân sĩ …, trong đó có Tổng Thống Hoa Kỳ George Bush Cha đã gởi một lá thơ chia buồn cho Ái nữ của GS Huy và lên tiếng ca ngợi:

“GS Nguyễn Ngọc Huy là một nhân vật tận tụy cho dân tộc Việt Nam và dân tộc Mỹ với tấm gương sáng ngời cho thế hệ mai sau”.

 

Những chuyện kể của Ông Hoàng Đình Khuê còn nhiều vấn đề chưa được tiết lộ (Rất tiếc trong phạm vi bản tin chúng tôi không thể tường thuật hết được).

 

Tiếp theo là phần phát biểu của Tiến Sĩ Mai Thanh Truyết về những kỷ niệm với Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy khi ông còn là một sinh viên tại Pháp. TS.Mai Thanh Truyết cho biết, GS. Nguyễn Ngọc Huy có cuộc sống thật giản dị, lúc nào cũng hòa mình vào những điều kiện đơn giản nhất trên bước đường hoạt động của ông, bình dị với mọi người, nhất là những anh chị em sinh viên đang du học tại Pháp thời bấy giờ. TS. Mai Thanh Truyết có rất nhiều tài liệu liên quan đến cuộc đời hoạt động của Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy qua các loạt bài khá dài, nhất là những kỷ niệm về Hòa Đàm Paris, hy vọng trong những ngày sắp tới sẽ được TS. Mai Thanh Truyết phổ biến trên các hệ thống truyền thông để đồng hương có cơ hội tìm hiểu nhiều hơn.

 

Sau đó Giáo Sư Trần Phong Vũ lên phát biểu về cuộc đời và sự nghiệp chính trị của Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy.

 

Tiếp theo, Minh Phượng lên có lời phát biểu về Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy, trong những lời phát biểu mọi người đều ca ngợi tinh thần quốc gia, dân tộc và sự hy sinh cao cả của Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy cho một Việt Nam có tự do, dân chủ và phú cường.

 

Sau những lời phát biểu, Ban Hợp Ca lên hát bản “Việt Nam Minh Châu Trời Đông” (Đảng Ca của Đảng Tân Đại Việt.)

 

Tiếp theo ban tổ chức mời quý vị lãnh đạo Đảng Tân Đại Việt, Liên Minh dân Chủ Việt Nam, quý vị quan khách, quý vị thân hào nhân sĩ lên trước bàn thờ có chân dung Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy làm lễ niệm hương.

 

Sau lễ niệm hương, Kiều My và Ngọc Quỳnh lên song ca bản “Dân Tộc Sinh Tồn”.

 

Kết thúc chương trình với phần hội luận về đề tài: “Chủ Nghĩa Dân Tộc trong chiều hướng toàn cầu hóa” dưới sự chủ tọa của Ông Hoàng Đình Khuê, Nguyễn Kim Bình và Minh Phượng.

 

Buổi lễ bế mạc vào lúc 4 giờ chiều cùng ngày.

 

Đảng Tân Đại Việt tổ chức Lễ Tưởng Niệm Lần Thứ 36 Cố Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy - Cộng Đồng - Việt Báo Foundation – A Nonprofit 501 (c)(3) Organization 

 

 

Friday, July 31, 2026

  

 

 

 

Sự tái định hình của nền văn minh nhân loại hiện tại?

The reshaping of a new human civilization

 

 


Paul Valéry: "L'avenir n'est pas ce qui va arriver, mais ce que nous allons faire."

"Tương lai không phải là điều sẽ xảy đến, mà là điều chúng ta sẽ cùng tạo dựng."

 

Trong hơn ba mươi năm sau khi Liên Xô tan rã (1991), nhiều người tin rằng nhân loại đã bước vào một kỷ nguyên mới. Hoa Kỳ trở thành siêu cường duy nhất; toàn cầu hóa phát triển mạnh; Internet kết nối mọi châu lục; thương mại quốc tế bùng nổ; hàng hóa, vốn và tri thức lưu chuyển chưa từng có trong lịch sử.

Thời kỳ đó thường được gọi là Pax Americana, một trật tự quốc tế do Hoa Kỳ giữ vai trò trung tâm. Nhưng lịch sử không bao giờ dừng lại. Một quốc gia có thể sở hữu hàng triệu km² đất đai nhưng vẫn tụt hậu nếu không làm chủ AI, chất bán dẫn, dữ liệu, công nghệ không gian hay năng lượng tiên tiến. Ngược lại, những quốc gia có diện tích nhỏ như Singapore, Hàn Quốc hay Israel lại có ảnh hưởng vượt xa quy mô lãnh thổ nhờ khả năng làm chủ công nghệ và tri thức.


Quyền lực đang chuyển dịch từ "sức mạnh cứng" sang "sức mạnh nền tảng", khả năng kiểm soát các công nghệ và hệ thống thiết yếu mà nhiều quốc gia khác phải dựa vào. Cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, sự trỗi dậy của Trung Cộng, Brexit, đại dịch COVID-19, chiến tranh Nga–Ukraine, cuộc cạnh tranh Mỹ–Trung, và đặc biệt là sự bùng nổ của Trí tuệ nhân tạo (AI) đã báo hiệu rằng thế giới đang bước vào một giai đoạn chuyển tiếp. Trật tự cũ không còn đủ sức giải thích những biến động hiện nay, trong khi trật tự mới vẫn đang hình thành.

Sau năm 1991, nhiều người tin rằng Hoa Kỳ sẽ giữ vị trí thống trị lâu dài. Nhưng thực tế đã khác, Trung Cộng trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, Ấn Độ nổi lên như một trung tâm sản xuất và công nghệ, Liên minh châu Âu vẫn là một cực kinh tế quan trọng, và Nhật Bản và Hàn Quốc tiếp tục dẫn đầu trong nhiều lĩnh vực công nghệ. Thế giới đang chuyển dần sang một cấu trúc đa cực, trong đó nhiều trung tâm quyền lực cùng tồn tại.

1-    Mỗi cuộc cách mạng công nghệ đều tạo ra một trật tự mới

Nếu nhìn lại lịch sử, chúng ta thấy quyền lực thế giới luôn thay đổi sau mỗi cuộc cách mạng công nghệ. Thế kỷ XV là cuộc cách mạng hàng hải. Những quốc gia làm chủ đại dương như Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, sau đó là Anh Quốc, đã xây dựng các đế chế thuộc địa. Thế kỷ XVIII và XIX là cuộc cách mạng công nghiệp. Hơi nước, điện lực và đường sắt đã đưa Anh, rồi Đức và Hoa Kỳ trở thành các cường quốc. Thế kỷ XX là thời đại của dầu mỏ, điện tử, hàng không và năng lượng hạt nhân. Hai siêu cường Hoa Kỳ và Liên Xô định hình thế giới suốt gần nửa thế kỷ.


Bước sang thế kỷ XXI, AI, dữ liệu lớn, điện toán đám mây, bán dẫn, công nghệ lượng tử, robot và công nghệ sinh học đang mở ra một cuộc cách mạng mới.

Lần đầu tiên trong lịch sử, dữ liệu trở thành một nguồn tài nguyên chiến lược, có giá trị tương đương hoặc thậm chí vượt lên trên nhiều loại tài nguyên vật chất.

Nói đến việc tái lập một trật tự thế giới làm chúng ta liên tưởng đến việc "tái định hình của nền văn minh nhân loại" thì dễ gây hiểu lầm rằng mọi nền văn minh sẽ hội tụ thành một nền văn minh duy nhất.  Nếu điều trên tiếp tục tiếp diễn ra, thì "New World Order" của thế kỷ XXI sẽ không phải là sự thống trị của một quốc gia, mà là sự tái định hình của toàn bộ nền văn minh nhân loại dưới tác động của cuộc cách mạng công nghệ. Thiết nghĩ, điều trên sẽ là một công nghệ tái định hình phương thức vận hành của các nền văn minh, chứ không xóa bỏ sự đa dạng của các nền văn minh.

Đây là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau.

1.1-       Tái định hình văn minh:

Trên thế giới hiện nay, có thể nói, có bốn nền văn minh đang diễn ra tại bốn vùng khác biệt:

  • Bắc Mỹ đặt trọng tâm vào cá nhân và quyền tự do.
  • Âu Châu coi trọng pháp quyền và nhà nước phúc lợi.
  • Đông Á chịu ảnh hưởng của Nho giáo, coi trọng cộng đồng, trật tự và giáo dục.
  • Thế giới Hồi giáo có nền tảng tôn giáo rất mạnh.

1.2-       Tái định hình thể chế:

Đây mới là nơi sẽ thay đổi mạnh mẽ từ thời Technate cho đến thời AI. Ngày xưa, liên lạc và thủ tục hành chánh qua thư tay, hồ sơ giấy. Nhưng ngày nay, đã có AI, Blockchain, Big Data, Digital Government v.v… Tất cả các quốc gia, dù dân chủ hay không, đều đang số hóa bộ máy nhà nước. Đây là sự thay đổi về phương thức quản trị, không nhất thiết là sự thay đổi về bản sắc văn hóa.

1.3-       Tái định hình hạ tầng công nghệ

Đây là nơi thiết nghĩ sẽ có sự hội tụ trong “trật tự thế giới” mạnh nhất, bất kể là nước Mỹ, Nhật, Đức, Hàn Quốc, hay Trung Cộng. Tất cả đều cần phải phát triển: AI, Robot, Quantum Computing, Semiconductor, Cybersecurity, Space Technology v.v… Đây gần như là "ngôn ngữ chung" của sức mạnh quốc gia trong thế kỷ thứ XXI.


Samuel Huntington có thể vẫn đúng khi viết quyển sách "The Clash of Civilizations", năm 1996, trong đó Ông nói về các nền văn minh sẽ không hòa tan vào nhau. Do đó, hiện tại, rõ ràng là một trật tự mới sẽ không còn dựa trên "ý thức hệ" như ở thế kỷ thứ XX nữa. Đây mới là điểm chúng ta cần suy nghĩ. Nhìn qua suốt thế kỷ thứ XX, thế giới chia thành Dân chủ Tự do và Cộng sản. Nhưng thế kỷ XXI có thể chia thành hai loại:

·         Quốc gia nào làm chủ AI, làm chủ chip, làm chủ năng lượng, làm chủ dữ liệu, làm chủ không gian sẽ có ảnh hưởng lớn. Nói một cách khác, quyền lực đang  chuyển dịch từ "ý thức hệ" sang "năng lực công nghệ". Không phải ý thức hệ biến mất, mà nó không còn là yếu tố duy nhất quyết định vị thế quốc gia.

·         Quốc gia hạng nhì, nếu không hội đủ các yếu tố kể trên.

Có lẽ thế kỷ XXI sẽ không chứng kiến một nền văn minh thống nhất, mà sẽ chứng kiến một hệ điều hành - Operating System chung cho nhiều nền văn minh khác nhau, trong đó, Android không biến người Nhật thành người Mỹ, không biến người Đức thành người Hàn. Nhưng tất cả đều dùng Internet, GPS, Cloud, AI … để vận hành xã hội.

2-    Tương lai toàn cầu

Qua trên, chúng ta có thể kết luận:

·         Thế kỷ XX là thời đại của quyền lực lãnh thổ - Territorial Power.

·         Thế kỷ XXI đang chuyển sang thời đại của quyền lực nền tảng - Platform Power.

 


Trong thời đại này, quốc gia mạnh nhất chưa chắc là quốc gia có diện tích lớn nhất, mà có thể là quốc gia kiểm soát được các nền tảng thiết yếu của thế giới: AI, dữ liệu, bán dẫn, năng lượng, không gian, tài chính số và các chuẩn công nghệ. Những nền tảng đó sẽ được nhiều nền văn minh cùng sử dụng, nhưng mỗi nền văn minh sẽ tiếp tục diễn giải và vận dụng chúng theo hệ giá trị, lịch sử và bản sắc riêng của từng quốc gia.

Đó là lý do xác tín về sự không xuất hiện một nền văn minh toàn cầu duy nhất, mà đúng hơn là một hạ tầng công nghệ toàn cầu, trên đó các nền văn minh Bắc Mỹ, Âu Châu, Đông Á, Nam Á, Hồi giáo và các khu vực khác vẫn tồn tại, cạnh tranh, hợp tác và phát triển theo những con đường riêng.

Từ đó, một trật tự thế giới mới của thế kỷ XXI sẽ không phải là sự thống nhất của các nền văn minh, mà là sự hội tụ của các nền tảng công nghệ và sự đa dạng của các hệ giá trị. Công nghệ sẽ tạo nên một 'hệ điều hành chung' cho nhân loại, nhưng mỗi nền văn minh sẽ tiếp tục viết nên 'phần mềm văn hóa' của riêng mình. Chính sự tương tác giữa hạ tầng công nghệ toàn cầu và bản sắc văn minh địa phương sẽ định hình diện mạo của thế giới trong nhiều thập niên tới.

Trật tự mới ấy sẽ không xóa bỏ sự đa dạng của các nền văn minh. Bắc Mỹ, Âu Châu, Đông Á, Nam Á hay thế giới Hồi giáo vẫn sẽ giữ bản sắc riêng. Điều đang thay đổi là "hạ tầng của quyền lực": AI, dữ liệu, bán dẫn, năng lượng, không gian và các nền tảng số đang trở thành những yếu tố quyết định sức mạnh quốc gia.

Thế kỷ XXI vì thế có thể sẽ không phải là thời đại của một đế chế toàn cầu, mà là thời đại của nhiều trung tâm quyền lực cùng tồn tại, cạnh tranh và hợp tác trên một nền tảng công nghệ ngày càng liên hợp.

Mai Thanh Truyết

Houston – 20-7-2026

 

Tuesday, July 28, 2026

 Một Trật tự Thế giới Mới đang thành hình

 


"Lịch sử không bao giờ đứng yên. Mỗi cuộc cách mạng công nghệ đều mở ra một trật tự thế giới mới."

Hình ảnh TT Trump gửi là một bản đồ có tiêu đề "Technate of North America", bao gồm Hoa Kỳ, Canada, Mexico, Greenland, Trung Mỹ và Kênh đào Panama. Đây không phải là một bản đồ chính thức của bất kỳ chính phủ nào, mà là một hình ảnh dựa trên ý tưởng của Phong trào Technocracy - Technocracy Movement xuất hiện từ thập niên 1930.

 

Khái niệm về Technate

·         Tại sao phải có một vùng rộng lớn xuyên quốc gia? Theo quan điểm của Nhóm thành lập Technate, một Technate phải là một hệ thống kinh tế hoàn chỉnh, nghĩa là phải có đủ năng lượng, khoáng sản, đất nông nghiệp, nguồn nước, công nghiệp, giao thông. Nếu chỉ có Hoa Kỳ thì chưa đủ nhu cầu mà Technate đi6nh ra. Vì vậy, họ mở rộng gồm: - Canada (thủy điện, khoáng sản, gỗ) - Hoa Kỳ (công nghiệp) - Mexico (dầu khí, khoáng sản, lao động) - Greenland (khoáng sản và vị trí chiến lược) - Trung Mỹ - Kênh đào Panama. Tất cả tạo thành một hệ thống kinh tế khép kín.

 

·         Tại sao lại có Kinh đào Panama? Đây là điểm rất đáng chú ý. Vì Kinh đào Panama là nút giao thông chiến lược nối Đại Tây Dương với Thái Bình Dương. Nếu toàn thể nền kinh tế Bắc Mỹ được tom góp lại  thì tuyến vận tải này sẽ rất quan trọng. Do đó Technocracy Inc. xem Panama là một phần của hệ thống.

 

·         Có phải đây là kế hoạch của Hoa Kỳ hiện tại? Không. Không có bằng chứng cho thấy Chính phủ Hoa Kỳ từng chính thức thông qua kế hoạch xây dựng một "Technate of North America" theo mô hình này. Đây là một đề xuất mang tính học thuyết của Technocracy Inc. của Nhóm Kỹ thuật - Technate, không phải một chính sách quốc gia. Hành pháp Trump trong suốt 2 năm qua, thường lập đi lập lại chính sách/kế hoạch trên có thể để răn đe hay đánh lừa dư luận, nhằm đeo đuổi một mục đích khác?

 

·         Tại sao gần đây hình này xuất hiện nhiều trên Internet? Có vài nguyên nhân:

Trước hết, có các cuộc thảo luận về sự xuất hiện của AI, ảnh hưởng trực tiếp lên hầu hết mọi lãnh vực trên toàn thế giới, và một nhận định không thể bỏ qua là, nhiều người cho rằng AI sẽ thay thế chính trị bằng quản trị kỹ thuật.

Thứ hai, sự thành hình và phát triển của những dữ liệu lớn - Big Data. Ngày nay chúng ta có Trí tuệ thông minh AI, Mạng lưới thông tin Internet – Hệ thống cảm biến Sensor system – Vệ tinh nhân tạo Satellite – Người máy Robot. Những điều mà Howard Scott chỉ có thể tưởng tượng vào năm 1933 thì hiện nay phần lớn đã trở nên khả thi về mặt kỹ thuật.

Thứ ba, các tranh luận về hội nhập Bắc Mỹ qua Hiệp định Hoa Kỳ - Mexico - Canada (USMCA) là hiệp định thương mại tự do ba bên có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2020, thay thế cho NAFTA. Hiệp định này điều chỉnh hoạt động thương mại giữa ba quốc gia, bao gồm các quy định được cập nhật về thương mại kỹ thuật số, quyền sở hữu trí tuệ, quyền của người lao động và quy tắc xuất xứ đối với hàng hóa sản xuất. Việc thành lập Chuỗi cung ứng Bắc Mỹ, hợp tác trao đổi năng lượng, lưới điện Bắc Mỹ…khiến nhiều người “đánh đồng” với ý tưởng Technate.

·         Như vậy, các sự kiện trên có liên quan gì đến Donald Trump không? Đây là chính là điểm cần hết sức thận trọng. Trong thời gian gần đây, một số người trên mạng xã hội khi nhìn hình bản đồ trên với các phát biểu hoặc tranh luận về Greenland, Panama hoặc quan hệ Bắc Mỹ trong suốt hai năm qua. Tuy nhiên, không có bằng chứng rằng Chính quyền Trump đang khai triển kế hoạch "Technate of North America" theo đúng học thuyết Technocracy Inc.

Vì vậy, việc một bản đồ cũ được chia sẻ lại không có nghĩa là nó phản ảnh chính sách hiện hành của hành pháp Trump.

·         Nếu Technate thật sự được gợi ý xây dựng thì điều gì sẽ xảy ra?


Nếu giả định về mặt lý thuyết, Bắc Mỹ sẽ hình thành một siêu hệ thống kinh tế với: - Khoảng 600 triệu dân (tùy phạm vi lãnh thổ được tính) - Có một nguồn năng lượng rất lớn – Nguồn tài nguyên phong phú – Có khả năng tự túc cao về lương thực và công nghiệp. Đó sẽ là một trong những khối kinh tế lớn và tích hợp nhất thế giới. Tuy nhiên, việc hiện thực hóa sẽ gặp những rào cản rất lớn về chủ quyền quốc gia, thể chế chính trị, bản sắc dân tộc và lợi ích của từng nước.

Bản đồ này không phải là bản đồ chính trị chính thức, mà là hình minh họa cho một ý tưởng kinh tế - kỹ trị được đề xuất từ đầu thập niên 1930. Điều đáng chú ý là nhiều yếu tố của ý tưởng đó như quản lý bằng dữ liệu, tối ưu hóa hệ thống, tự động hóa và vai trò lớn hơn của chuyên gia kỹ thuật đang trở nên thực tế hơn nhờ AI và công nghệ hiện đại. Tuy nhiên, điều đó không đồng nghĩa với việc mô hình Technate sẽ được áp dụng, vì các yếu tố dân chủ, pháp quyền, chủ quyền quốc gia và quyền tự quyết của người dân vẫn là những giới hạn quan trọng.

Từ góc nhìn lịch sử tư tưởng, Technate là một ví dụ tiêu biểu về nỗ lực tìm kiếm một mô hình quản trị mới trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế. Nhưng, dưới góc nhìn thế kỷ thứ XXI, Technate gợi mở nhiều câu hỏi về cách cân bằng giữa hiệu quả kỹ thuậttính chính danh dân chủ, một chủ đề ngày càng đáng quan tâm khi AI được ứng dụng rộng rãi trong quản trị và kinh tế.

Khái niệm về Trí tuệ Nhân tạo

Còn theo Trí tuệ Nhân tạo - AI thì sao? Có thể thành hiện thực không, trước tình trạng thề giới phân cực hiện nay?

Một "Technate of North America" theo đúng nghĩa của Howard Scott gần như không có khả năng trở thành hiện thực. Nhưng một "Liên hiệp chiến lược Bắc Mỹ" - North American Strategic Bloc thì không những có khả năng, mà là một số yếu tố thiết yếu của một Liên hiệp tương lai đang dần thành hình.

1- Thế giới đang chuyển sang thời kỳ "các khối văn minh"

Nếu chúng ta nhìn từng giai đoạn lịch sử sau khi chiến tranh lạnh chấm dứt, tức từ sau năm 1991:

  • 1991–2008: toàn cầu hóa.
  • 2008–2020: cạnh tranh Mỹ - Trung.
  • Sau 2022: chiến tranh Ukraine, chiến tranh Mỹ - Israel – Iran, và cạnh tranh công nghệ làm thế giới bước vào xu hướng phân cực.

Trong tình trạng đó, nhiều quốc gia đang đạt vấn đề ưu tiên toàn cầu như: - An ninh chuỗi cung ứng - Năng lượng – Công nghệ, nhứt là AI - Khoáng sản chiến lược như đất hiếm, titan - Quốc phòng. Từ đó. Những điều trên làm cho suy nghĩ "khối khu vực" trở nên hấp dẫn hơn trước, và khiến cho các quốc gia “lớn” có khuynh hướng kết hợp các … khối chiến lược an ninh – kinh tế - chiến lược – phát triển - quốc phòng.

2- Bắc Mỹ có đầy đủ điều kiện trở thành một "siêu khối" không?

Nếu nhìn thuần túy dưới góc độ địa kinh tế, Bắc Mỹ gần như có đủ mọi yếu tố. Về năng lượng, Bắc Mỹ có trữ lượng dầu khí, uranium, thủy điện. Về khoáng sản, có lithium, nickel, cobalt, đất hiếm, đồng.. Về nông nghiệp, có vùng lúa mì, bắp, đậu nành bạt ngàn. Có thịt bò, gia cầm dư thừa. Về công nghệ, có Silicon Valley, AI phủ khắp toàn cầu, hệ thống bán dẫn, hệ thống giao thông và xây dựng thiết bị hàng không và không gian, cùng công nghệ sinh học áp dụng trong y khoa đứng đầu thế giới v.v…Về quân sự, Bắc Mỹ có NATO, NORAD, Hải quân Hoa Kỳ có mặt khắp năm châu.

Vì vậy, không có nhiều khu vực trên thế giới có mức độ tự chủ tương tự như “liên minh Chiến lược Bắc Mỹ: hiện tại.

3- AI đang làm thay đổi cung cách quản trị quốc gia và xã hội?

Ngày nay, trên mạng thường có những bài nối trực tiếp Technate với: AI, Digital ID, Tiền kỹ thuật số của ngân hàng trung ương, Chính sách khí hậu, World Economic Forum, Các tỷ phú công nghệ, và Một kế hoạch bí mật đang được thực hiện. Cho đến nay, bằng chứng lịch sử xác nhận Technocracy Inc. và dự án Technate là có thật; nhưng nhiều lời khẳng định rằng toàn bộ các chương trình kỹ thuật số hiện nay đều xuất phát từ một kế hoạch Technate thống nhất thường vượt quá bằng chứng hiện có.

Technate hấp dẫn vì hứa hẹn: - Xã hội sung túc - Ít giờ lao động - Không thất nghiệp - Phân phối công bằng - Chính sách dựa trên kiến thức thay vì tranh cãi. Nhưng thực sụ, mặt trái của nó là quyền lực tập trung vào một tầng lớp chuyên gia, thiếu cơ chế dân chủ rõ ràng, mọi hoạt động kinh tế có thể bị ghi nhận, con người dễ bị giản lược thành mã số và dữ liệu, và hiệu quả” có thể trở thành tiêu chuẩn cao hơn tự do và phẩm giá.

Điều nguy hiểm ở đây không nằm ở việc sử dụng khoa học để phục vụ con người. Điều nguy hiểm bắt đầu khi con người phải phục vụ cho một hệ thống tự nhận mình là khoa học.

Howard Scott vào năm 1933 nói rằng:”Xã hội nên được điều hành bằng dữ liệu”. Vào thời điểm nầy, điều đó gần như bất khả thi. Nhưng ngày nay chúng ta có AI, vệ tinh, Internet, dữ liệu thời gian thực, điện toán đám mây v.v… Điều đó khiến việc điều phối những hệ thống rất lớn trở nên khả thi hơn nhiều.

Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa với việc dân chủ sẽ bị thay thế. Thực tế có khả năng cao hơn là AI sẽ trở thành công cụ hỗ trợ ra quyết định, còn các quyết định cuối cùng vẫn thuộc về những thể chế được pháp luật quy định, nghĩa là vẫn thuộc về … con người.

Khái niệm về Trật tự Thế giới Mới


“Trật tự Thế giới Mới" (NWO) là một khái niệm mang nhiều ý nghĩa khác nhau, nổi bật nhất trong số đó là một thuyết âm mưu phổ biến cho rằng một nhóm tinh hoa toàn cầu bí mật đang âm mưu thiết lập một chính phủ toàn cầu mang tính toàn trị (most prominently a popular conspiracy theory alleging that a secretive cabal of global elites is plotting to establish a totalitarian one-world government). Thuật ngữ này cũng có thể ám chỉ những thay đổi sâu rộng trong địa chính trị toàn cầu.

Thuyết âm mưu: Trong các cộng đồng tin vào thuyết âm mưu, lý thuyết NWO cho rằng một tầng lớp đầu sỏ quyền lực không thể bị đụng đến, thường bao gồm các chủ ngân hàng quốc tế, lãnh đạo doanh nghiệp và giới chính trị gia, đang dần làm xói mòn chủ quyền quốc gia nhằm củng cố quyền kiểm soát đối với người dân toàn cầu. Những người ủng hộ thuyết này tin rằng nhóm thế lực ngầm này sử dụng các cuộc khủng hoảng được dàn dựng, công nghệ giám sát và tuyên truyền để hạn chế quyền tự do cá nhân. Lý thuyết này thường kết hợp hoặc có sự tương đồng với các luận điệu bài Do Thái trong lịch sử, vốn cáo buộc người Do Thái kiểm soát hệ thống tài chính và truyền thông toàn cầu.

Địa chính trị và Quan hệ Quốc tế: Trong khoa học chính trị và quan hệ quốc tế, thuật ngữ này mô tả một sự thay đổi căn bản trong cán cân quyền lực toàn cầu. Nó từng được Tổng thống Hoa Kỳ George H.W. Bush sử dụng rộng rãi vào những năm 1990, sau sự sụp đổ của Liên Xô, để mô tả một kỷ nguyên mới của sự hợp tác quốc tế và vai trò lãnh đạo của Hoa Kỳ. Gần đây hơn, các học giả và nhà lãnh đạo thế giới sử dụng các biến thể của thuật ngữ này để mô tả quá trình chuyển đổi từ thế giới đơn cực do Hoa Kỳ thống trị sang một thế giới đa cực, nơi các cường quốc cạnh tranh như Trung Cộng tranh giành ảnh hưởng và nỗ lực định hình các quy tắc trong những lĩnh vực mới nổi như trí tuệ nhân tạo.

1- Tại sao TT Trump thường nói đến Greenland, Panama và Canada?

Thiết nghĩ, điều này thể hiện một phần nào sự thay đổi trong suy nghĩ về chiến lược toàn cầu của Hoa Kỳ. Trong nhiều thập niên sau Chiến tranh Lạnh, Hoa Kỳ có thể tập trung mạnh vào các khu vực xa như Trung Đông. Ngày nay, với việc cạnh tranh ngày càng sâu rộng với Trung Cộng và Nga, đo đó, việc bảo đảm an ninh ở Bắc Cực, Đại Tây Dương, Thái Bình Dương, chuỗi cung ứng gần – nearshoring trong Liên hiệp chiến lược, an ninh năng lượng ngày càng trở nên quan trọng hơn.

Vì vậy, việc Greenland, Panama hay Canada được nhắc đến nhiều hơn có thể được giải thích đầy đủ bằng các lợi ích địa chiến lược hiện nay, không cần giả định rằng có một kế hoạch Technate đang được triển khai.

2- Điều gì sẽ cản trở một Technate thế kỷ thứ XXI hay việc thành lập một Liên minh chiến lược Bắc Mỹ?

Có bốn rào cản lớn.

·         Thứ nhất là chủ quyền quốc gia: Canada sẽ không từ bỏ chủ quyền. Mexico cũng vậy. Greenland càng không.

·         Thứ hai là bản sắc dân tộc: Người Canada không muốn trở thành người Mỹ. Người Mexico cũng không. Và người Đan mạch và Greenland cũng không bao giờ muốn. Và người Panama vì quyền lợi kinh tế có thể nhượng bộ Mỹ một chút. Đây là yếu tố dân tộc tự quyết rất mạnh.

·         Thứ ba là thể chế dân chủ: Không quốc gia dân chủ nào dễ dàng chấp nhận để các kỹ sư hay AI thay thế hoàn toàn vai trò của các cơ quan dân cử.

·         Thứ tư là sự cân bằng quyền lực quốc tế: Nếu Bắc Mỹ thật sự hợp nhất thành một thực thể chính trị duy nhất, điều đó sẽ làm thay đổi sâu sắc cán cân quyền lực toàn cầu. Các cường quốc khác chắc chắn sẽ theo dõi và phản ứng theo cách bảo vệ lợi ích của mình.

3- Một suy nghĩ cuối cùng


Có lẽ Howard Scott đã đúng khi cho rằng quy mô tối ưu của nền kinh tế hiện đại sẽ ngày càng mang tính "hệ thống" thay vì chỉ là từng quốc gia riêng lẻ. Tuy nhiên, ông có thể đã đánh giá thấp sức mạnh của chủ quyền quốc gia, bản sắc dân tộc và các thể chế chính trị. Lịch sử gần một thế kỷ qua cho thấy ba yếu tố này vẫn có ảnh hưởng rất lớn.

Vì vậy, nếu một ý tưởng của Technate được hiện thực hóa trong thế kỷ thứ XXI, nhiều khả năng nó sẽ không phải là một "siêu quốc gia Bắc Mỹ", mà là một mạng lưới hợp tác chiến lược sâu rộng, nơi AI, dữ liệu và công nghệ giúp các quốc gia phối hợp hiệu quả hơn nhưng không xóa bỏ biên giới hay chủ quyền quốc gia.

Mô hình đó, sẽ phù hợp hơn với xu thế địa chính trị hiện nay và có khả năng thực hiện cao hơn.


Nhìn từ những biến động của thập niên 2020, thế giới dường như đang bước vào giai đoạn chuyển tiếp từ trật tự quốc tế hình thành sau Chiến tranh Lạnh sang một cấu trúc mới. Tuy nhiên, sẽ là quá sớm để khẳng quyết rằng một "New World Order" đã hoàn chỉnh. Những gì chúng ta đang chứng kiến có lẽ đúng hơn là một quá trình tái cấu trúc quyền lực toàn cầu, trong đó các trung tâm quyền lực kinh tế, công nghệ và quân sự đang hình thành những khối hợp tác chiến lược mới để thích ứng với cạnh tranh giữa các cường quốc.

AI, dữ liệu lớn, năng lượng, khoáng sản chiến lược và chuỗi cung ứng sẽ trở thành những trụ cột quan trọng của trật tự mới này, bên cạnh các yếu tố truyền thống như lãnh thổ và sức mạnh quân sự. Trong bản đồ địa chính trị đó, tương lai có thể không thuộc về “một chính phủ thế giới” duy nhất, mà thuộc về một thế giới đa cực, nơi các khối khu vực liên kết chặt chẽ hơn nhưng vẫn duy trì chủ quyền quốc gia. Đó có thể là hình thái của một "Trật tự Thế giới Mới" trong thế kỷ thứ XX, không phải một đế chế toàn cầu, mà là một mạng lưới các trung tâm quyền lực liên kết, cạnh tranh và hợp tác cùng nhau.

Lịch sử không lặp lại nguyên vẹn, nhưng thường gieo lại những ý tưởng cũ trong những hoàn cảnh mới. Technate của Howard Scott có thể sẽ không bao giờ xuất hiện dưới đúng hình thức mà ông hình dung gần một thế kỷ trước.


Tuy nhiên, khi AI, dữ liệu và công nghệ ngày càng trở thành nền tảng chính của việc quản trị quốc gia, thế giới có thể đang tiến gần đến một mô hình mà ở đó quyền lực không chỉ được đo bằng lãnh thổ hay quân đội, mà còn bằng khả năng tổ chức với tri thức và văn minh, kiểm soát công nghệ và điều phối các hệ thống phức tạp hơn. Nếu điều đó tiếp tục diễn ra, thì "New World Order" của thế kỷ thứ XXI sẽ không phải là sự thống trị của một quốc gia, mà là sự tái định hình của  nền văn minh nhân loại dưới tác động của cuộc cách mạng công nghệ.

"New World Order" không nên được hiểu như một chính phủ thế giới hay một âm mưu bí mật nhằm thống trị nhân loại. Đúng hơn, đó là tên gọi của một giai đoạn chuyển tiếp lịch sử, trong đó quyền lực toàn cầu đang được tái phân bố dưới tác động đồng thời của địa chính trị, công nghệ và những thay đổi trong cấu trúc kinh tế. Nếu thế kỷ thứ XX là kỷ nguyên của địa chính trị - Geopolitics, thì thế kỷ thứ XXI có thể sẽ là kỷ nguyên của "địa công nghệ" -  Geotechnology, nơi vị thế của mỗi quốc gia không chỉ được quyết định bởi biên giới hay quân đội, mà còn bởi khả năng làm chủ tri thức, đổi mới sáng tạo và quản trị các hệ thống công nghệ phức tạp. Có lẽ, đó mới chính là bản chất sâu xa của "New World Order" đang dần hình thành.

Tên gọi “Một trật tự Thế giới Mới” mở ra hướng suy gẫm rằng chúng ta đang ở điểm khởi đầu của một thời đại mới, nhưng hình dạng cuối cùng của trật tự đó vẫn còn đang được quyết định bởi các lựa chọn chính trị, kinh tế, công nghệ và xã hội của các quốc gia trong những thập niên tới.

Mai Thanh Truyết

Houston – 20/7/2026