Thursday, April 11, 2024

Việt Nam: Con Đường Tương Lai Âm U Từ năm 1986 trở đi, chính sách kinh tế "Mở cửa" và "Đổi mới" tiếp ngay sau đó, đã khai mào cho một chu kỳ tăng trưởng mới cho toàn quốc, đặc biệt ở thành phố Sài Gòn và các vùng lân cận trong đó hầu hết các khu công kỹ nghệ đều tập trung vào và chiếm hơn 40% tổng sản lượng quốc gia. Tuy nhiên, cho đến hôm nay, nghĩa là sau hơn 38 năm phát triển, vẫn còn tồn tại những mặt tiêu cực sau đây: • Nhiều dịch vụ phát triển quá nhanh chóng và không được điều nghiên kỹ lưỡng như việc thiết lập các trung tâm giải trí, khách sạn, sân golf...chỉ nhằm phục vụ cho người giàu và người ngoại quốc tạo thêm ranh giới cách biệt giàu nghèo giữa đại đa số quần chúng; • Một số tư bản mới đã hình thành, từ đó phát xuất ra nhiều mâu thuẫn và hệ lụy tiêu cực trong hệ thống quyền lực-kinh tế-chính trị. Chính hai mặt tiêu cực nầy đã là một trong nhiều nguyên nhân tạo nên khủng hoảng xã hội gần đây nhất và làm giảm dần mức tăng trưởng kinh tế từ 10% ở những năm đầu xuống đến 4% năm 1999, và sau đó không tăng trưởng được như dự tính, chỉ lên xuống khoảng 6-7% trong mười năm trở lại đây, mặc dù Việt Nam vẫn còn quá nhiều nhu cầu sinh hoạt căn bản cần phải cung cấp cho người dân. Việc tăng trưởng kinh tế-kỹ nghệ nhanh so với tốc độ trước khi có chính sách đổi mới, nhưng không đủ nhanh so với nhu cầu của quốc gia, tạo nên những biến động ảnh hưởng lên môi trường ở những vùng được phát triển mạnh.Tại các nơi trên: • Bầu không khí ngày càng ô nhiễm thêm. • Thán khí cùng với nhiều kim loại độc hại như chì, thủy ngân và một số hợp chất hữu cơ nhẹ đã được ghi nhận. • Nguồn nước bị ô nhiễm nặng đặc biệt ở các vùng tiếp nhận trực tiếp nguồn nước thải từ các nhà máy và hệ thống cống rãnh. • Đồng bằng sông Cửu Long, vựa lúa của cả nước mà bây giờ, 2024, người dân phải chạy đôn chạy đáo mua nước ngọt từng m3 với giá 300-400 ngàn/m3! Trong lúc đó, “nhà nước” lại Hội thảo phát động chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường khi nước mặn đã vào tận thành phố Mỹ Tho và nhiều dùng khác. Thiệt hại cho mùa đông xuân năm nay, 2024 ước tính trên 3 tỷ Mỹ kim, và 20 dân thiếu nước ngọt trần trọng! Nhìn chung tình trạng môi sinh ở Việt Nam đã đến mức báo động, nhất là ở các thành phố lớn mặc dù mức độ khai triển kỹ nghệ chưa phát triển tương xứng với nhu cầu của dân chúng toàn quốc mà chỉ tập trung vào một số thành phố lớn mà không lưu tâm hay lên kế hoạch phát triển tuỳ theo điều kiện của từng địa phương. Hiện nay vẫn còn khoảng 50% dân chúng tập trung ở các vùng nông nghiệp đang còn trong thời sơ khai của thời đại phát triển kỹ nghệ. Nguyên nhân của việc trì trệ phát triển cho những năm gần đây cũng như hiện trạng ô nhiễm ở Việt Nam có thể được tóm tắt vào những ghi nhận sau đây: • Ảnh hưởng của sự sụp đổ của hệ thống Cộng sản ở Nga xô và Đông Âu đầu thập niên 90 cùng với sự khủng hoảng kinh tế vùng Đông Á ở những năm gần đây (sau năm 1997…), cũng như việc lấn chiếm và áp đặt "quyền chánh trị-kinh tế" Việt Nam của TC làm cho quốc tế ngần ngại đầu tư vào Việt Nam. • Hệ thống tiền tệ chưa hoán chuyển được và chưa thiết lập được thị trường chứng khoán có tính cách quốc tế cùng các luật định ngân hàng phức tạp và hay thay đổi thường xuyên, không bảo đảm tối thiểu cho công cuộc giao thương với bên ngoài. • Hệ thống ngân hàng không hữu hiệu, không thể hiện nhiệm vụ đúng đắn trong dịch vụ trao đổi và không có tính xuyên suốt trong báo cáo. Thống đốc ngân hàng Việt Nam mới đây đã nhận định rằng nhiệm vụ của ngân hàng là đáp ứng cho nhu cầu của quốc gia và dân chúng nhưng thực ra chỉ thi hành theo chỉ thị hoặc mệnh lệnh của Bộ Chính trị cs Bắc Việt mà thôi! • Mặc dù có sự hỗ trợ của Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển Á châu (ADB), Quỹ Tiền tệ Thế giới (IMF), Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc (UNDP)... về tài chánh và kỹ thuật cho việc nâng cấp và giải quyết các vấn nạn môi sinh ở Việt Nam do sự phát triển kỹ nghệ và nạn gia tăng dân số, nhưng hầu hết các hạng mục công trình trên còn nằm bất động trên hình thức các dự án khả thi. Mức độ thi công tiến hành quá chậm do thủ tục hành chánh rườm rà và bất nhất cũng như các tệ nạn quan liêu khiến cho đôi khi dự án phải bị bỏ dở nửa chừng. • Việc phá hoại các rừng ven biển và dẫn nước mặn vào sâu trong đất liền để khai thác dịch vụ nuôi tôm là một trong những nguyên nhân cho sự nhiễm mặn. Ngay cả việc nuôi tôm, sau một vài mùa có thu hoạch cao, dịch vụ nầy lần lần đi vào phá sản vì tôm con bị chết quá nhiều do hệ sinh thái thay đổi và môi trường sinh sống của tôm không còn đồng nhất như vùng nước mặn nguyên thuỷ. Ảnh chụp từ vệ tinh năm 1999 cho thấy khoảng 150.000 hecta ở ven biển Cà Mau, Bạc Liêu đã bị bỏ hoang trên gần 200.000 hecta đã khai thác trong khoảng năm năm gần đây! Từ xa xưa, các rừng tràm, đước, vẹt...đã phát triển vững mạnh trong vùng nầy, thiết lập một hệ sinh thái thiên nhiên vừa cân bằng và cầm chân nước mặn tiến sâu vào đất liền, vừa là môi trường sống thích hợp cho tôm cá; do đó tôm không thể phát triển được vì sự mất cân bằng trên. • Trong những năm sau nầy, lãnh đạo Việt Nam có khuynh hướng cứng rắn hơn trong việc điều hành quốc gia. Đường lối và chính sách hiện tại thể hiện sự bất an, bối rối trong quyết định trước những vấn nạn sinh tử cho đất nước. • Có nhiều thành phần tham gia vào việc phát triển kinh tế-kỹ thuật ở Việt Nam. Đó là quân đội, công an, chính quyền, tư nhân, và ngoại quốc. Một khi đã nắm chặt quyền lực trong tay, cộng thêm với sức mạnh kinh tế, các thành phần có quyền lực trên có khả năng tạo ra nạn kiêu binh có thể gây xáo trộn xã hội mà lãnh đạo sẽ khó kiểm soát được. Điều nầy sẽ làm mất niềm tin và giảm thiểu mức đầu tư của dân chúng và nhất là đầu tư quốc tế. • Đối với các nhu cầu phát triển, điều tiên quyết là cần phải có sự bàn thảo và đồng thuận giữa nhà cầm quyền và các công ty tư nhân. Cho đến nay, mọi hợp tác giữa nhà cầm quyền-tư nhân-ngoại quốc chưa được đặt trên căn bản công bằng và đồng thuận do đó vẫn còn nhiều cản ngại trong việc giao thương quốc tế. Còn có nhiều thiên vị cho các đối tác có liên quan đến đảng cộng sản. Công ty quốc doanh chiếm đa số vẫn còn được tài trợ và ưu đãi mặc dù làm ăn thua lỗ. Đây mới là nguyên nhân chính yếu cho việc trì trên trong chính sách phát triển của Việt Nam. Việc kiểm soát môi sinh còn quá lỏng lẻo đưa đến việc lơ là trong kiểm soát và thanh lọc phế thải. • Hầu hết các dự án có tầm vóc quốc gia, đối tác được chọn chưa thu thập đầy đủ dữ kiện nghiên cứu tác hại môi trường, nhân sự chuyên nghiệp không đáp ứng được nhu cầu của công trình, đặc biệt qua sự móc ngoặc hay do "sự áp đặt" của Trung Cộng, do đó nhiều dự án phải bị bỏ dở nửa chừng hay mức đầu từ phải bị nhân lên gấp bội (hệ thống nhà máy đường từ Bắc chí Nam vào thập niên 2000, việc khai thác Bauxite ở Tân Rai và Nhân Cơ, hệ thống nhà máy giấy từ Bắc chí Nam, điển hình là nhà máy Bãi Bằng, và gần đây nhứt, nhà máy Hậu Giang đã được đánh giá như là một sự phá sản về nguồn vốn và ô nhiễm môi trường cho toàn vùng tứ giác Long Xuyên, vựa lúa thứ hai của ĐBSCL sau Đồng Tháp Mười). Từ đó, dự án đưa đến sự thua lỗ, thất thoát tài nguyên và nguồn vốn của quốc gia, và tệ hại nhứt là, tạo ra một tình trạng ô nhiễm môi trường khắp nới từ Bắc chí Nam. • Các công ty tư vấn ngoại quốc được Việt Nam mời đến để khai triển một số dự án kỹ thuật và tính khả thi trong từng điều kiện hiện có. Đôi khi, Việt Nam dùng tư cách chủ nhà để chỉ đạo dự án hay sửa đổi không đúng với quy cách kỹ thuật làm cho dự án khó được hoàn chỉnh. Và cũng có nhiều công ty ngoại quốc vì muốn được trúng thầu mà thiết lập dự án khả thi khi chưa hoàn tất hồ sơ điều tra cơ bản. Điều nầy làm cho phát triển Việt Nam trì trệ về thời gian, tài lực, và nhân lực, chưa kể đến việc làm mất niềm tin của người dân về thực tâm của những người có trách nhiệm! Nhận diện được một số nguyên nhân căn bản trên đưa đến sự kiện chậm phát triển cho Việt Nam trong những năm gần đây, chỉ cần một ít động não, việc truy tìm giải đáp cho bài toán trên cũng không khó vậy. Thay lời kết Trở về đất nước thân yêu của tất cả chúng ta, Việt Nam hiện tại là một dân tộc non trẻ, thông minh, chăm chỉ, hiếu học, cần cù, và có tinh thần cầu tiến. Trên 90% dân số đều biết đọc biết viết. Con số nầy quá cao so với các nước đang phát triển và có điều kiện xã hội tương tự như của chúng ta, nhưng ngược lại lợi tức đầu người vẫn còn thấp kém so với các quốc gia trong vùng. Tại sao lại có sự nghịch lý kể trên? Dĩ nhiên là phải có cái gì bất ổn cho đất nước. Đương nhiên cộng sản Bắc Việt phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về tình trạng phát triển và môi trường ô nhiễm ngày càng đi xuống hiện nay. Hơn 41 năm sống trong hoà bình, thiết nghĩ thời gian cũng đủ dài để thiết lập một xã hội ổn định cho Việt Nam. Nhưng tiếc thay điều đó không xảy ra cho nước mình! Hiện tại, trong nhiều lãnh vực kinh tế-kỹ thuật-khoa học-môi sinh, thế giới đang biến thành một quốc gia lớn, một trật tự mới đang hình thành. Trong bối cảnh đó, càng ngày càng thấy rõ ràng là mọi người đều có trách nhiệm. Những gì xảy ra tại Tây Tạng, Vân Nam đều trực tiếp ảnh hưởng đến đồng bằng sông Cửu Long. Rốt ráo hơn nữa, mọi người Việt đều có trách nhiệm về tình trạng thụt lùi của Việt Nam dù ít hay nhiều. Càng thiết tha, càng gắn bó với quê cha đất tổ càng thấy mình có trách nhiệm. Trách nhiệm là nhận thức thực tiễn, và trên căn bản đó cần có những thái độ và hành động tích cực hơn cho đất nước. Nói lên tiếng nói, tạo một âm vang, khuếch đại một xu hướng, tạo dựng sức ép, nói lên những vấn nạn của Đất và Nước v.v…mỗi người mỗi cách riêng của mình… không sao kể xiết. Nhìn lại đất nước, với hơn 65% lực lượng lao động thuộc thành phần trẻ tuổi, chúng ta đã có một trợ lực lớn có khả năng đưa đất nước tiến lên cao. Tuổi trẻ Việt Nam, sau một giai đoạn ngắn tiếp cận với phong cách hành xử và giao thương quốc tế đã hiểu thêm và hiểu cặn kẽ về tự do-dân chủ. Từ đó tinh thần quốc gia dân tộc tăng trưởng nhanh chóng trong thành phần nầy. Tuổi trẻ Việt Nam mong muốn có một đời sống kinh tế-tinh thần-tâm linh tương xứng với các đóng góp của chính mình. Những rào cản ngăn cách trong tôn giáo-địa phương không còn là một chướng ngại để rồi cùng ngồi lại với nhau, không như các thế hệ cha ông trước kia vì những cách ngăn kinh tế-xã hội-chánh trị-tôn giáo- và chủ nghĩa. Những cảm xúc trong tư tưởng, vết hằn trong quá khứ sau cuộc qua phân của đất nước phải nhường bước cho lối nhìn tích cực về triển vọng tương lai của quê hương. Do đó, các mỹ từ vì thế hệ mai sau, vì chủ nghĩa anh hùng...không còn là một xúc tác tốt để hấp dẫn tuổi trẻ Việt Nam nữa. Tuổi trẻ Việt Nam trân trọng bốn ngàn năm văn hiến của tiền nhân, nhưng tuổi trẻ hôm nay không vì niềm tự hào đó mà dừng chân lại để chiêm ngưỡng quá khứ mà cần phải hành động theo bước cha ông ngày xưa đứng lên làm lịch sử. Đừng cho đó là một cản ngại lớn cho sự bền vững của chế độ mà nên cùng nhau thay đổi đường lối và chính sách thích hợp với xu hướng toàn cầu. Cùng tạo điều kiện thuận lợi cho môi trường làm việc thích ứng với tính năng động và hiếu học của tuổi trẻ. Có như thế, cơ hội phát triển và triển vọng tương lai đồng đều cùng đời sống kinh tế-tinh thần có hy vọng được nâng cao sẽ là hai động cơ chính thức thúc đẩy tuổi trẻ mạnh bước tiến lên. Tuổi trẻ Việt Nam đang lên đường. Mai Thanh Truyết Houston – Tháng tư - 2024 Hội Bảo Vệ Môi trường Việt Nam - VEPS

Monday, April 8, 2024

Mỗi năm, vào dịp tháng tư từ 49 năm qua, có lẽ 18 triệu người Việt sống ở miền Nam không ai không nghĩ đến Tháng tư đen nầy. Tháng nầy còn được gọi là Tháng Quốc hận và Ngày 30/4 cũng được gọi là Ngày Quốc hận. Thực sự ra, tháng hay ngày quốc hận cần được biết sâu xa hơn nữa. Đó chính là ngày 18/9/1945, ngày HCM và bè lũ có tên là Việt Minh, sau nầy đổi danh xưng là đảng Cộng sản… đứng lên cướp chính quyền của Việt Nam tại Hà Nội. Nói đến quốc hận, người viết không cổ súy hận thù mà chỉ muốn nhắc nhở cho người sau biết rõ một giai đoạn đen tối của quê hương bắt đầu 79 năm qua… Nhắc đến quốc hận cũng không phải là khích động những người con Việt phải trả thù, mà nhắc đến quốc hận để đời đời con cháu Tiên Rồng cần phải định hình rõ ràng đâu là quốc gia, đâu là dân tộc. Biết ai là kẻ bán nước cho Tàu. Biết ai là kẻ phản bội dân tộc mượn danh chủ nghĩa để cai trị toàn cõi nước Việt. Nhắc đến để không quên quốc hận. Không quên nhưng không mang sầu hận. Không quên nhằm chuẩn bị cho một tương lai mới cho dân tộc an bình và xóa tan cảnh “nội trị” của CS Bắc Việt. Chuẩn bị cho một tương lai mới ứng hợp với tinh thần hợp quần của tổ tiên sau hơn 4.000 năm dựng nước và giữ nước. Một tương lai sáng lạn đang sắp sửa khai mở. Nao Anh Em Ta cùng nhau xông pha lên đường. *** Tháng Tư Ngày Quốc Hận 2024 Thưa Bà Con, Bài viết “Chuyện chưa kể sau ngày 30/4/1975”, phản ảnh quan điểm của tác giả, bà Quỳnh Hoa, con gái đại tá quân đội Nhân dân Việt Nam Bùi Văn Tùng. Bà tốt nghiệp Đại học Y dược tp HCM, hiện đang sống ở Pháp. Xin trích vài đoạn…”Câu chuyện về những việc ba tôi làm trưa ngày 30/4 tại Dinh Độc Lập và đài phát thanh Sài Gòn, đã được báo đài đưa tin, làm phim tài liệu và ngay cả viết thành sách (ủng hộ và phủ nhận) cứ mỗi dịp tháng Tư về, ròng rã suốt 45 năm qua. (bài viết năm 2020). ….Nhà báo, đại tá Bùi Tín (báo Quân Đội Nhân Dân) ngay sau 30/4/1975 đã tìm gặp ba tôi để nghe kể lại toàn bộ sự việc xảy ra trong buổi trưa lịch sử đó. (Chứ không có mặt trong giờ phút lịch sử đó). Ông Phạm Xuân Thệ, đại úy, trung đoàn phó trung đoàn 66 bộ binh, cũng có mặt trong dinh "bắt nội các tổng thống". Sau một thời gian dài im lặng, bỗng ông ấy tự nhận hết những việc ba tôi làm trưa ngày 30/4/1975 về làm thành tích cho ông. Ông Thệ sau lên hàm trung tướng QĐNDVN. …Chính ủy Bùi Văn Tùng cùng các ông Dương Văn Minh trên đường từ sân Dinh Độc Lập ra hai chiếc xe jeep để đến đài phát thanh. Năm 2006, khi biết Phạm Xuân Thệ phủ nhận việc ba- chính ủy lữ đoàn tăng thiết giáp 203 có mặt tại dinh- mà bỗng đột ngột xuất hiện tại đài phát thanh Sài Gòn, và cho rằng ông ta, một đại uý bộ binh đã giao lại nội các Dương Văn Minh, rồi cùng ngồi soạn thảo văn kiện đầu hàng với trung tá chính ủy Bùi Văn Tùng, ba chỉ nói nhẹ nhàng, tay này tầm bậy”. (Đoạn nầy có ghi trong thông báo chính thức của trên báo Nhân Dân).” Tất cả những trích đoạn trên đây là do tác giả Quỳnh Hoa ghi lại sự giây phút lịch sử trên. …Người viết Tác giả Quỳnh Hoa) kể tiếp: “…Khi ĐT Dương Văn Minh lên xe và đi theo xe của Chính ủy Bùi Văn Tùng trên đường đến Đài phát thanh Saigon. Đợi trước của Đài có mặt Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, và TS Huỳnh Văn Tòng, Khoa trưởng ĐH Hòa Hảo Long Xuyên và một nhóm sinh viên tranh đấu…”. (HVT là bạn quen từ thời ở Paris, tốt nghiệp TS Sử học, nằm trong sư đoàn 30/4. Để rồi sau sự hiện diện trên Đài phát thanh đã đị trù dập vì tội…cướp công cách mạng!). Những lời công bố đầu hàng được đọc đúng vào lúc 10:37 sáng ngày 30/4/1975 sau bài hát Nối Vòng tay lớn của TCS. Bức hình bên cạnh đây chụp đúng vào lúc 10:37PM 29/4/2020, giờ Houston, tức là 10:37AM ngày 30/4/2020 giờ Sài Gòn, đúng 45 năm sau. Trong phòng làm việc, ngồi một mình âm thầm gậm nhấm nỗi đau Quốc Hận. Người viết xin chia xẻ cùng Bà Con giây phút lịch sử nầy để biết và nhớ rõ giây phút nầy. Vì vậy, Bà Con cần để ý… Nhớ để không quên. Không quên không phải để thù hận. Mà không quên để khắc ghi lời nguyền. Lời nguyền của hồn thiêng sông núi. Đàn con Việt sẽ vá lại bức dư đồ rách. Dứt khoát CSBV sẽ vào quá khứ. Và chúng ta dứt khoát … Ngày 30/4 cũng là ngày mỗi chúng ta cần ghi nhớ để tự nhũ rằng:” Cả dân tộc Việt Nam chúng ta không những chỉ nhắc tới ngày 30/4 như ngày Quốc hận của người dân Miền Nam, mà còn đừng quên phải: • Nhắc tới những ngày giỗ của hằng triệu nông dân, trí thức, thương gia Miền Bắc đã chết âm thầm và nhục nhã trong mấy năm bị đấu tố; • Phải nhắc tới cái chết của hằng mấy triệu quân dân của cả hai Miền Nam Bắc, nạn nhân của cuộc chiến tương tàn do Hồ chí Minh và đồng bọn tạo dựng ra từ 1945, theo lệnh của Liên Sô, Trung Cộng, và cộng sản Quốc Tế Đệ Tam; • Phải nhắc tới trên 800,000 vong linh bơ vơ lạnh lẽo trên rừng hay dưới biển chưa siêu thoát được, trên đường vượt biên vượt biển liều chết chạy trốn bọn Việt cộng, đi tìm tự do; • Chúng ta phải nhắc hết tội ác của Hồ chí Minh và cộng sản Việt Nam ít nhất từ năm 1945 cho đến ngày hôm nay, để chúng ta cùng chuyển ngày 30/4 thành một ngày Quốc Hận chung của cả dân tộc, từ đó biến thành một "Ngày Quật Khởi" của toàn dân cùng đứng lên đập tan chế độ cộng sản, để mau chóng mang lại cho đồng bào đầy đủ Tự Do Hạnh Phúc thực sự và Ấm No Thịnh Vượng cho cả quốc gia Việt Nam; Chống Tàu Diệt Việt Cộng Thưa Bà Con, Tên là “người”. Tên là “tánh”. Tên là “chương trình”. Do đó, tên của Nhóm Chủ trương trình bày rõ ràng, chương trình và mục tiêu hành động của Nhóm: Chống Tàu Diệt Việt Cộng Hai hành động, hai mục tiêu, song song, cùng một lúc: • Chống Tàu là cứu cánh sống còn của dân tộc Đại Việt chúng ta, của Quốc Gia Việt Nam chúng ta. • Chống Tàu để cứu nước Việt Nam thoát được nạn nghèo đói và tụt hậu. • Chống Tàu để Việt Nam có độc lập chánh trị kinh tế xã hội. • Chống Tàu là tiếp tục truyền thống, một bản năng sanh tồn tự vệ, di sản của tổ tiên dân tộc Đại Việt chúng ta. • Chống Tàu là một di sản huyết thống của bốn ngàn năm lịch sử của dân tộc Đại Việt, một dân tộc nhỏ, sống sót của một đại gia đình dân tộc Bách Việt, sống cạnh một dân tộc láng giềng khổng lồ, có truyền thống lịch sử bành trướng là dân tộc Hán. Nguồn gốc của Trung Cộng và Hán tộc: • Từ bốn ngàn năm nay, từ một vùng sa mạc, đồng cỏ khô cằn, miền bắc sông Dương Tử; Hán tộc, với một nền văn minh du mục, săn bắn, chăn nuôi đã vượt sông Dương Tử xuôi nam đi tìm vùng đất trồng trọt mầu mỡ phì nhiêu, tìm đất sống an lành, để định cư, xâm chiếm, bành trướng. • Suốt bốn ngàn năm, dân du mục cưỡi ngựa, văn minh săn bắn, chăn nuôi dê cừu đã Hán hóa dân Bách Việt chuyên ngành trồng trọt, văn minh định cư, văn minh lúa nước, nông nghiệp gia súc heo gà. • Hán tộc hiếu sát đã nuốt gọn tất cả các sắc dân láng giềng từ Mãn Thanh, đến Mông Cổ miền Bắc đồng văn minh du mục, hay từ các xứ Hồi, xứ Tạng khác phong khác tục ở tận miền Tây. • Hán tộc còn vượt cả sông Hoàng Hà đầy phù sa màu mỡ, cướp đất của các bộ lạc Bách Việt miền Hoa Nam. • Chỉ còn một phần đất của dân tộc Đại Việt, của các bộ tộc Lạc Việt của đồng bằng sông Hồng, tuy sau bốn lần bị xâm chiếm, tàn phá, suốt 1026 năm vẫn giữ được giống nòi, giữ được nền văn minh và giữ được tiếng nói. Đại Việt ngày xưa đã làm được những việc sau đây: • Chẳng những quân xâm lăng Hán tộc không xóa được gốc gác Đại Việt, mà còn bị quân dân Đại Việt đánh đuổi về, từ các triều đại Hán thật, Nam Hán, Minh đến những triều đại Hán «giả», Nguyên Mông, Thanh, Mãn. Mà nay, từ đầu cuối bán thế kỷ 20 đến bây giờ, Hán tộc đội lốt cộng sản quốc tế, giả dạng anh em với triều đình cộng sản Bắc Việt, đã đưa rõ bộ mặt thuộc địa của đế quốc Hán tộc đã và đang xâm chiếm, ôm trọn đất nước Việt Nam, quyết tâm đưa dân tộc Đại Việt trở về làm công dân Tàu của một quận huyện Giao Chỉ thuở xa xưa. Vì vậy: • Chống Tàu ngày nay là nghĩa vụ, là nhiệm vụ hàng đầu của mỗi người con Việt, của toàn dân tộc Đại Việt. • Chống Tàu là con đường sống còn của dân tộc Đại Việt. • Chống Tàu để không bị diệt chủng, để giữ tiếng nói, chữ quốc ngữ, giữ giống nòi. • Chống Tàu để còn được nói Tiếng Việt, còn được nói “yêu”, còn được nói “thương” với cha với mẹ, còn được cầu, được khấn, được vái tổ tiên ông bà bằng Tiếng Việt… Mãi mãi còn Tiếng Việt, giữ chữ Việt… Còn văn chương, thơ, nhạc hữu tình Việt. (Nếu không tất cả đều là… lai căng!) Còn…Diệt Việt Cộng Đó là một điều hiển nhiên. Diệt Việt Cộng để Chống Tàu, vì ngày nay, đã rõ ràng Việt Cộng là tay sai, là bán nước, bán biển, bán đất, bán rừng… Việt Cộng là công an trị, dùng công an để bịt miệng dân, để khóa tiếng nói người dân. 49 năm nắm quyền toàn cả nước, 49 năm đưa cả nước thụt lùi! Vì sao? Vì Cộng sản Bắc Việt, sau 49 năm: • Biến một Miền Nam thoải mái trong tự do, dân chủ - mặc dù phải sống trong tự vệ, trong chiến tranh, nhưng vẫn giữ được tất cả những điều kiện căn bản của một con người một công dân - thành một vùng bị chiếm đóng, dân địa phương trở thành…thứ dân, cùng dân, mất nhà, mất của, mất đất đai; • Ngoại xâm Cộng Sản, Tàu ngụy và Cộng sản Bắc Việt đã chiếm trọn mọi đất đai, nhà cửa, nghiệp vụ, tài sản tiền của … của dân miền Nam. Miền Nam Việt Nam và dân chúng Miền Nam Việt Nam đã trở thành một xứ bị chiếm đóng, những người công dân hạng hai… Diệt Việt Cộng để Chống Tàu, để cứu nước. • Diệt Việt Cộng là một “sine qua non” (sự cần thiết), một việc phải làm, một “nhiệm vụ hàng đầu của tất cả người con Việt còn yêu nước”. • Diệt Việt Cộng để giữ toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam, để bảo vệ dân tộc Đại Việt! • Diệt Việt Cộng để lấy lại hãnh diện, niềm tin cho dân tộc Đại Việt! • Diệt Việt Cộng là sanh tồn của dân tộc Đại Việt! • Diệt Việt Cộng để Chống Tàu. Về phần chúng ta, những người con Việt còn lại sau 49 năm dưới ách cai trị của CSBV há chẳng mang được một hoài bảo có một ngày nào về lại xây dựng quê hương chăng? Sống tha hương nới đất lạ khắp nơi trên thế giới, Bà Con có nghe chăng tiếng Mẹ Việt Nam réo gọi và mong đàn chim Việt sẽ trở về dựng lại Quê Hương, vá lại bức dư đồ đã rách nát, kết quả của 49 năm cai trị miền Nam, và 79 dày xéo đất Bắc của Cộng sản Bắc Việt. Xin gửi đến Tuổi Trẻ Việt Nam bài thơ “Hoài ãảo Việt Nam” nhân ngày Quốc Hận 2024 dưới đây: Hoài Bão Việt Nam Nơi đây đất khách quê người Làm sao yên ổn sống đời lưu vong Bao năm vận nước long đong Bấy lâu ta vẫn hoài mong một ngày Tự do dân chủ no đầy Văn minh tiến hóa đắp xây quê nhà Hướng về quê Mẹ nhạt nhòa Viễn phương cố nén xót xa dâng tràn Ra đi trong những ngỡ ngàng Bao giờ trở lại thăm làng quê xưa Mây buồn đổ xuống cơn mưa Khóc dùm ta giọt lệ chưa khô cằn Tình quê nợ nước nhớ chăng Làm sao không khỏi băn khoăn ngậm ngùi Có gì lấy để làm vui Khi quê hương Mẹ bao người lầm than Còn gì sau buổi tiệc tàn Hay là chỉ thấy bẽ bàng lòng thêm Câu kinh khấn nguyện từng đêm Công bằng, nhân bản xây nền Việt Nam!!! Mai Thanh Truyết Quốc hận Tháng Tư 2024

Tuesday, April 2, 2024

Xin chuyển lại bài viết dưới đây: Tiếc Cho Một Người Vừi Nằm Xuống Bài này của tác giả Mai Thanh Truyết viết sau khi cố BS Dương Quỳnh Hoa mất. Mới mà đã 8 năm rồi. Một số các bạn muốn biết về nữ chí sĩ được xem là người đầu tiên thẳng thắn ra khỏi đảng cộng sản ở Việt Nam vào năm 1979. Bài viết tương đối đầy đủ. Ai chưa đọc thì nên đọc, vì gần đây rộ lên phong trào ra khỏi đảng của những nhân vật một thời sùng kính đảng cộng sản như một tôn giáo. Hôm nay, tôi xin lưu lại ở đây như một nén hương tưởng nhớ 8 năm ngày mất của Bà, một đồng nghiệp đàn Chị, mà tôi đã từng gặp, và tâm sự năm 1986 và vài lần sau đó năm 2001. Vẫn còn nhiều vấn đề về Bà mà một số bài báo phỏng vấn sau này đều bịa đặt để bôi nhọ Bà. Mai Thanh Truyết Bà Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa (DQH) vừa nằm xuống ngày thứ bảy 25–2–2006 tại Sài Gòn, và cũng vừa được hỏa táng vào ngày thứ ba 28/2. Báo chí trong nước cho đến hôm nay, không hề loan tải tin tức trên. Đài BBC có phỏng vấn Ông Võ Nhơn Trí ở Pháp về tin nầy và phát đi ngày 28/2. Sự im lặng của Việt Nam khiến cho người viết thấy có nhu cầu trang trãi và chia xẻ một số suy nghĩ về cái chết của BS DQH để từ đó rút ra thêm một kinh nghiệm sống về tính chất “chuyên chính vô sản” của những người cầm quyền tại Việt Nam hiện tại. Ô. Bà DQH và Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam BS DQH là một người sống trong một gia đình theo Tây học, có uy tín và thế lực trong giới giàu có ở Sài Gòn từ thập niên 40. Cha là GS Dương Minh Thới và anh là LS Dương Trung Tín; gia đình sống trong một biệt thự tại đường Bà Huyện Thanh Quan xéo góc Bộ Y tế (VNCH) nằm trên đường Hồng Thập Tự. LS Tín đã bị ám sát tại Đà Lạt trong đó cái chết của ông cũng không được soi sáng, nhưng đa phần có nhiều nghi vấn là do lý do chính trị vì ông có khuynh hướng thân Pháp thời bấy giờ. Về phần Bà Hoa, được đi du học tại Pháp vào cuối thập niên 40, đã đỗ bằng Bác sĩ Y khoa tại Paris và về lại Việt Nam vào khoảng 1957 (?). Bà có quan niệm cấp tiến và xã hội, do đó Bà đã gia nhập vào Đảng CS Pháp năm 1956 trước khi về nước. Từ những suy nghĩ trên, Bà hoạt động trong lãnh vực y tế và lần lần được móc nối và gia nhập vào Đảng CSVN. Tháng 12/1960, Bà trở thành một thành viên sáng lập của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam VN dưới bí danh Thùy Dương, nhưng còn giữ bí mật cho đến khi Bà chạy vô “bưng” qua ngõ Ba Thu –Mõ Vẹt xuyên qua Đồng Chó Ngáp. Ngay sau biến cố Tết Mậu Thân, tin tức trên mới được loan tải qua đài phát thanh của Mặt Trận. Khi vào trong bưng, Bà gặp GS Huỳnh Văn Nghị (HVN) và kết hôn với GS. Trở qua GS Huỳnh Văn Nghị, Ông cũng là một sinh viên du học tại Pháp, đỗ bằng Cao học (DES) Toán. Về VN năm 1957, ông dạy học tại trường Petrus Ký trong hai năm, sau đó qua làm ở Nha Ngân sách và Tài chánh. Ông cũng có tinh thần thân Cộng, chạy vô “bưng” năm 1968 và được kết nạp vào đảng sau đó. Do “uy tín” chính trị quốc tế của Bà Hoa thời bấy giờ rất cao, Mặt Trận, một lá bài của CS Bắc Việt, muốn tận dụng uy tín nầy để tạo sự đồng thuận với chính phủ Pháp hầu gây rối về mặt ngoại giao cho VNCH và đồng minh Hoa Kỳ. Từ những lý do trên, Bà Hoa là một người rất được lòng Bắc Việt, cũng như Ông Chồng là GS HVN cũng được nâng đở theo. Vào đầu thập niên 70, Ông được chuyển ra Bắc và được huấn luyện trong trường đảng. Tại đây, với một tinh thần thông thoáng dân tộc, cộng thêm nhiều lý luận toán học, Ông đã phân tích và chứng minh những lý thuyết giảng dạy ở trường đảng đều không có căn bản lý luận vững chắc và Ông tự quyết định rời bõ không tiếp tục theo học trường nầy nữa. Nhưng chính nhờ uy tín của Bà DQH trong thời gian nầy cho nên ông không bị trở ngại về an ninh. Cũng cần nên nói thêm là ông đã từng được đề cử vào chức vụ Bộ trưởng Kinh tế nhưng ông từ chối. Ô.B DQH và Đảng Cộng sản VN Chỉ một thời gian ngắn sau khi CS Bắc Việt giải tán Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam, Ô Bà lúc đó mới vở lẽ ra. Về phần Ô HVN, ông hoàn toàn không hợp tác với chế độ. Năm 1976, trong một buổi ăn tối với 5 người bạn thân thiết, có tinh thần “tiến bộ”, Ông đã công khai tuyên bố với các bạn như sau:”Các “toi” muốn trốn thì trốn đi trong lúc nầy. Đừng chần chờ mà đi không kịp. Nếu ở lại, đừng nghĩ rằng mình đã có công với “cách mạng” mà “góp ý” với đảng”. Ngay sau đó, một trong người bạn thân là Nguyễn Bá Nhẫn vượt biên và hiện cư ngụ tại Pháp. Còn 4 người còn lại là Lý Chánh Trung (giáo sư văn khoa Sài Gòn), Trần Quang Diệu (TTKý Viện Đại học Đà Lạt), Nguyễn Đình Long (Nha Hàng không Dân sự), và một người nữa người viết không nhớ tên không đi. Ông Trung và Long hiện còn ở Việt Nam, còn ông Diệu đang cư ngụ ở Canada. Trở lại BS DQH, sau khi CS chiếm đóng miền Nam tháng 4/1975, Bà Hoa được “đặt để” vào chức vụ Tổng trưởng Y tế, Xã hội, và Thương binh trong nội các chính phủ. Vào tháng 7/75, Hà Nội chính thức giải thể chính phủ Lâm thời và nắm quyền điều hành toàn quốc, chuyển Bà xuống hàng Thứ trưởng và làm bù nhìn như Nguyễn Hữu Thọ, Nguyễn Thị Bình, Nguyễn Thị Định… Chính trong thời gian nầy Bà lần lần thấy được bộ mặt thật của đảng CS và mục tiêu của họ không phải là phục vụ đất nước Việt Nam mà chính là làm nhiệm vụ của CS quốc tế là âm mưu nhuộm đỏ vùng Đông Nam Á. Vào khoảng cuối thập niên 70, Bà đã trao đổi cùng Ô Nguyễn Hữu Thọ:”Anh và tôi chỉ đóng vai trò bù nhìn và chỉ là món đồ trang sức rẻ tiền cho chế độ. Chúng ta không thể phục vụ cho một chế độ thiếu dân chủ và không luật lệ. Vì vậy tôi thông báo cho anh biết là tôi sẽ trả lại thẻ Đảng và không nhận bất cứ nhiệm vụ nào trong chính phủ cả”. Đến năm 1979, Bà chính thức từ bỏ tư cách đảng viên và chức vụ Thứ trưởng. Dĩ nhiên là Đảng không hài lòng với quyết định nầy; nhưng vì để tránh những chuyện từ nhiệm tập thể của các đảng viên gốc miền Nam, họ đề nghị Bà sang Pháp. Nhưng sau cùng, họ đã lấy lại quyết định trên và yêu cầu Bà im lặng trong vòng 10 năm. Mười năm sau đó, sau khi được “phép” nói, Bà nhận định rằng Đảng CS Việt Nam tiếp tục xuất cảng gạo trong khi dân chúng cả nước đang đi dần đến nạn đói. Và nghịch lý thay, họ lại yêu cầu thế giới giúp đỡ để giải quyết nạn nghèo đói trong nước. Trong thời gian nầy Bà tuyên bố :” Trong hiện trạng của Đất Nước hiện tại (thời bấy giờ), xuất cảng gạo tức là xuất cảng sức khỏe của người dân” Và Bà cũng là một trong những người đầu tiên lên tiếng báo động vào năm 1989 cho thế giới biết tệ trạng bán trẻ em Việt Nam ngay từ 9,10 tuổi cho các dịch vụ tình dục trong khách sạn và các khu giải trí dành cho người ngoại quốc do các cơ quan chính phủ và quân đội điều hành. Sau khi rời nhiệm vụ trong chính phủ, Bà trở về vị trí của một BS nhi khoa. Qua sự quen biết với giới trí thức và y khoa Pháp, Bà đã vận động được sự giúp đở của hai giới trên để thành lập Trung Tâm Nhi Khoa chuyên khám và chữa trị trẻ em không lấy tiền và Bà cũng được viện trợ thuốc men cho trẻ em Việt Nam suy dinh dưỡng nhất là acid folic và các lọai vitamin. Nhưng tiếc thay, số thuốc trên khi về Việt Nam đã không đến tay Bà mà tất cả được chuyển về Bắc. Bà xin chấm dứt viện trợ, nhưng lại được “yêu cầu” phải xin lại viện trợ vì…nhân dân (của Đảng!). Về tình trạng trẻ con suy dinh dưỡng, với tính cách thông tin, chúng tôi xin đưa ra đây báo cáo của Bà Anneke Maarse, chuyên gia tư vấn của UNICEF trong hội nghị ngày 1/12/03 tại Hà Nội :” Hiện Việt Nam có 5,1 triệu người khuyết tật chiếm 6,3% trên tổng số 81 triệu dân. Qua khảo sát tại 648 gia đình tại ba vùng Phú Thọ, Quảng Nam và Tp HCM cho thấy có tới 24% trẻ em tàn tật dạng vận động, 92,3% khuyết tật trí tuệ, và 19% khuyết tật thị giác lẫn ngôn ngữ. Trong số đó tỷ lệ trẻ em khuyết tật bẩm sinh chiếm tới 72%. Vào năm 1989, Bà đã được ký giả Morley Safer, phóng viên của đài truyền hình CBS phỏng vấn. Những lời phỏng vấn đã được ghi lại trong cuốn sách của ông dưới tựa đề Flashbacks on Returning to Việt Nam do Random House, Inc. NY, 1990 xuất bản. Qua đó, một sự thật càng sáng tỏ là con của Bà, Huỳng Trung Sơn bị bịnh viêm màng não mà Bà không có thuốc để chữa trị khi còn ở trong bưng và đây cũng là một sự kiện đau buồn nhất trong đời Bà. Cũng trong cuốn sách vưà kể trên, Bà cũng đã tự thú là đã sai lầm ở một khoảng thời gian nào đó. Nhưng Bà không luyến tiếc vì Bà đã đạt được mục đích là làm cho những người ngoại quốc ra khỏi đất nước Việt Nam. Sau cùng, chúng tôi xin liệt kê ra đây hai trong những nhận định bất hủ của BS DQH là:”Trong chiến tranh, chúng tôi sống gần nhân dân, sống trong lòng nhân dân. Ngày nay, khi quyền lực nằm an toàn trong tay rồi, đảng đã xem nhân dân như là một kẽ thù tiềm ẩn”. Và khi nhận định về bức tường Bá Linh, Bà nói:” Đây là ngày tàn của một ảo tưởng vĩ đại”. BS DQH và Vụ kiện Da Cam Theo nhiều nguồn dư luận hải ngoại, trước khi ký kết Thương ước Mỹ-Việt dưới nhiệm kỳ của Tổng thống Clinton, hai chính phủ đã đồng ý trong một cam kết riêng không phổ biến là Việt Nam sẽ không đưa vụ Chất độc màu Da cam để kiện Hoa Kỳ, và đối lại, Mỹ sẽ ký thương ước với Việt Nam và sẽ không phủ quyết để Việt Nam có thể gia nhập vào Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) trong t ương lai. Có lẽ vì “mật ước” Mỹ-Việt vừa nêu trên, nên Việt Nam cho thành lập Hội Nạn nhân chất Độc Da cam/Dioxin Việt Nam ngày 10/1/2004 ngay sau khi có quyết định chấp thuận của Bộ Nội vụ ngày 17/12/2003. Đây là một Hội dưới danh nghĩa thiện nguyện nhưng do Nhà Nước trợ cấp tài chính và kiểm soát. Ban chấp hành tạm thời của Hội lúc ban đầu gồm: - Bà Nguyễn Thị Bình, nguyên Phó chủ tịch nước làm Chủ tịch danh dự; - Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp, nguyên Phó chủ nhiệm Tổng cục chính trị QĐND làm Chủ tịch; - GS,BS Nguyễn Trọng Nhân, nguyên Bộ trưởng Y tế, Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ Việt Nam làm Phó Chủ tịch; - Ô Trần Văn Thụ làm Thư ký. Trong buổi lễ ra mắt, Bà Bình đã khẳng định rõ ràng rằng:”Chính phủ Mỹ và các công ty sản xuất chất độc hoá học da cam phải thừa nhận trách nhiệm tinh thần, đạo đức và pháp lý. Những người phục vụ chính thể Việt NamCộng Hòa cũ ở miền Nam không được đưa vào danh sách trợ cấp”. Theo một bản tin của Thông tấn xã Việt Nam thì đây là một tổ chức của những nạn nhân chất Da cam, cũng như các cá nhân, tập thể tự nguyện đóng góp để giúp các nạn nhân khắc phục hậu quả chất độc hoá học và là đại diện pháp lý của các nạn nhân Việt Nam trong các quan hệ với các tổ chức và cơ quan trong cũng như ngoài nước. Thế nhưng, trong danh sách nạn nhân chất da cam trong cả nước được Việt Nam ước tính trên 3 triệu mà chính phủ đã thiết lập năm 2003 để cung cấp tiền trợ cấp hàng tháng, những nạn nhân đã từng phục vụ cho VNCH trước đây thì không được đưa vào danh sách nầy (Được biết năm 2001, trong Hội nghị Quốc tế tại Hà Nội, số nạn nhân được Việt Nam nêu ra là 2 triệu!). Do đó có thể nói rằng, việc thành lập Hội chỉ có mục đích duy nhất là hỗ trợ cho việc kiện tụng mà thôi. Vào ngày 30/1/2004, Hội đã nộp đơn kiện 37 công ty hóa chất ở Hoa Kỳ tại tòa án liên bang Brooklyn, New York do luật sư đại diện cho phía Việt Nam là Constantine P. Kokkoris. (Được biết LS Kokkoris là một người Mỹ gốc Nga, đã từng phục vụ cho tòa Đại sứ Việt ở Nga Sô và có vợ là người Việt Nam họ Bùi). Hồ sơ thụ lý gồm 49 trang trong đó có 240 điều khoảng. Danh sách nguyên đơn liệt kê như sau: - Hội Nạn nhân Chất Da cam/Dioxin Việt Nam; - Bà Phan Thị Phi Phi, giáo sư Đại học Hà Nội; - Ông Nguyễn Văn Quý, cựu chiến binh tham chiến ở miền Nam trước 1975, cùng với hai người con là Nguyễn Quang Trung (1988) và Nguyễn Thị Thu Nga (1989); - Bà Dương Quỳnh Hoa, Bác sĩ, nguyên Bộ trưởng Y tế Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam, và con là Huỳnh Trung Sơn; và - Những người cùng cảnh ngộ. Đây là một vụ kiện tập thể (class action) và yêu cầu được xét xử có bồi thẩm đoàn. Các đương đơn tố các công ty Hoa Kỳ đã vi phạm luật pháp quốc tế và tội ác chiến tranh, vi phạm luật an toàn sản phẩm, cẩu thả và cố ý đả thương, âm mưu phạm pháp, quấy nhiễu nơi công cộng và làm giàu bất chánh để: (1) Đòi bồi thường bằng tiền do thương tật cá nhân, tử vong, và dị thai và (2) Yêu cầu tòa bắt buộc làm giảm ô nhiễm môi trường, và (3) Để hoàn trả lại lợi nhuận mà các công ty đã kiếm được qua việc sản xuất thuốc khai quang. Không có một bằng chứng nào được đính kèm theo để biện hộ cho các cáo buộc, mà chỉ dựa vào tin tức và niềm tin (nguyên văn là upon information and belief). Tuy nhiên, đơn kiện có nêu đích danh một số nghiên cứu mới nhất về dioxin của Viện Y khoa thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Hoa Kỳ, công ty cố vấn Hatfield Consultants của Canada, Bác sĩ Arnold Schecter của trường Y tế Công cộng Houston thuộc trường Đại học Texas, và Tiến sĩ Jeanne Mager Stellman của trường Đại học Columbia, New York. Chúng tôi đặc biệt quan tâm đến trường hợp của BS Dương Quỳnh Hoa cũng như quá trình hoạt động của Bà từ những năm 50 cho đến hiện tại. Tên Bà nằm trong danh sách nguyên đơn cũng là một nghi vấn cần phải nghiên cứu cặn kẽ. Theo nội dung của hồ sơ kiện tụng, từ năm 1964 trở đi, Bà thường xuyên đi đến thành phố Biên Hòa và Sông Bé (?) là những nơi đã bị phun xịt thuốc khai quang nặng nề. Từ năm 1968 đến 1976, nguyên đơn BS Hoa là Tổng trưởng Y tế của Chính phủ Lâm thời Cộng hòa miền Nam và ngụ tại Tây Ninh. Trong thời gian nầy Bà phải che phủ trên đầu bằng bao nylon và đã đi ngang qua một thùng chứa thuốc khai quang mà máy bay Mỹ đã đánh rơi. (Cũng xin nói ở đây là chất da cam được chứa trong những thùng phuy 200L và có sơn màu da cam. Chất nầy được pha trộn với nước hay dầu theo tỷ lệ 1/20 hay hơn nữa và được bơm vào bồn chứa cố định trên máy bay trước khi được phun xịt. Như vậy làm gì có cảnh thùng phuy rơi rớt!?). Năm 1970, Bà hạ sinh đứa con trai tên Huỳnh Trung Sơn (cũng có tên trong đơn kiện như một nguyên đơn, tuy đã mất) bị phát triển không bình thường và hay bị chứng co giật cơ thể. Sơn chết vào lúc 8 tháng tuổi. Trong thời gian chấm dứt chiến tranh, BS Hoa bắt đầu bị chứng ngứa ngáy ngoài da. Năm 1971, Bà có mang và bị sẩy thai sau 8 tuần lễ. Năm 1972, Bà lại bị sẩy thai một lần nữa, lúc 6 tuần mang thai. Năm 1985, BS Hoa đã được chẩn bịnh tiểu đường. Và sau cùng năm 1998 Bà bị ung thư vú và đã được giải phẩu. Năm 1999, Bà được thử nghiệm máu và BS Schecter (Hoa Kỳ) cho biết là lượng Dioxin trong máu của Bà có nồng độ là 20 ppt (phần ức). Và sau cùng, kết luận trong hồ sơ kiện tụng là: Bà BS Hoa và con là nạn nhân của chất độc Da cam. Qua những sự kiện trên chúng ta thấy có nhiều điều nghịch lý và mâu thuẫn về sự hiện diện của tên Bà trong vụ kiện ở Brooklyn? Để tìm giải đáp cho những điều nghịch lý trên, chúng tôi xin trích dẫn những phát biểu của Bà trong một cuộc tiếp xúc thân hữu tại Paris trung tuần tháng 5/2004. Theo lời Bà (từ miệng Bà nói, lời của một người bạn tên VNT có mặt trong buổi tiếp xúc trên) thì “người ta đã đặt tôi vào một sự đã rồi (fait accompli). Tên tôi đã được ghi vào hồ sơ kiện không có sự đồng ý của tôi cũng như hoàn toàn không thông báo cho tôi biết. Người ta chỉ đến mời tôi hợp tác khi có một ký giả người Úc thấy tên tôi trong vụ kiện yêu cầu được phỏng vấn tôi. Tôi chấp nhận cuộc gặp gỡ với một điều kiện duy nhất là tôi có quyền nói sự thật, nghĩa là tôi không là người khởi xướng vụ kiện cũng như không có ý muốn kiện Hoa Kỳ trong vấn đề chất độc da cam.”Dĩ nhiên cuộc gặp gỡ giữa Bà Hoa và phóng viên người Úc không bao giờ xảy ra. Bà còn thêm rằng:” Trong thời gian mà tất cả mọi người nhất là đảng CS bị ám ảnh về việc nhiễm độc dioxin, tôi cũng đã nhờ một BS Hoa Kỳ khám nghiệm (khoảng 1971) tại Pháp và kết quả cho thấy là lượng dioxin trong máu của tôi dưới mức trung bình (2ppt).” Đến đây, chúng ta có thể hình dung được kết quả của vụ kiện.Và ngày 10 tháng 3 năm 2005, Ông chánh án Jack Weinstein đã tuyên bố hủy bõ hoàn toàn vụ kiện tại tòa án Brooklyn, New York. Bài học được rút ra từ cái chết của BS DQH. Từ những tin tức về đời sống qua nhiều giai đoạn của Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa, hôm nay Bà đã đi trọn quảng đường của cuộc đời Bà. Những bước đầu đời của Bà bắt đầu với bầu nhiệt huyết của tuổi thanh niên, lý tưởng phục vụ cho tổ quốc trong sáng. Nhưng chính vì sự trong sáng đó Bà đã không phân biệt và bị mê hoặc bởi những lý thuyết không tưởng của hệ thống cộng sản thế giới. Do đó Bà đã bị lôi cuốn vào cơn gió lốc của cuộc chiến VN. Và Bà đã đứng về phía người Cộng sản. Khi đã nhận diện được chân tướng của họ, Bà bị vỡ mộng và có phản ứng ngược lại. Nhưng vì thế cô, Bà không thể nào đi ngược lại hay “cải sửa” chế độ. Rất may cho Bà là Bà chưa bị chế độ nghiền nát. Không phải vì họ sợ hay thương tình một người đã từng đóng góp cho chế độ (trong xã hội CS, loại tình cảm tiểu tư sản như thế không thể nào hiện hữu được), nhưng chính vì họ nghĩ còn có thể lợi dụng được Bà trong những mặc cả kinh tế – chính trị giữa các đối cực như Pháp và Hoa Kỳ, trong đó họ chiếm vị thế ngư ông đắc lợi. Vì vậy, họ không triệt tiêu Bà. Hôm nay, chúng ta có thể tiếc cho Bà, một người Việt Nam có tấm lòng yêu nước nhưng không đặt đúng chỗ và đúng thời điểm; do đó, khi đã phản tỉnh lại bị chế độ đối xử tệ bạc. Tuy nhiên, với một cái chết trong im lặng, không kèn không trống, không một thông tin trên truyền thông về một người đã từng có công đóng góp một phần cho sự thành tựu của chế độ như Bà đã khiến cho chúng ta phải suy nghĩ, suy nghĩ về tính vô cảm của người cộng sản, cũng như suy nghĩ về tính chuyên chính vô sản của hệ thống xã hội chủ nghĩa. Đối với chế độ hiện hành, sẽ không bao giờ có được sự đối thoại bình đẳng, trong đó tinh thần tôn trọng dân chủ dứt khoát không hề hiện hữu như các sinh hoạt chính trị của những quốc gia tôn trọng nhân quyền trên thế giới. Vì vậy, với cơ chế trên, hệ thống XHCN sẽ không bao giờ biết lắng nghe những tiếng nói “đóng góp” đích thực cho công cuộc xây dựng Đất và Nước cả. Bài học DQH là một bài học lớn cho những ai còn hy vọng rằng cơ hội ngày hôm nay đã đến cho những người còn tâm huyết ở hải ngoại ngõ hầu mang hết khả năng và kỹ năng về xây dựng quê hương. Hãy hình dung một đóng góp nhỏ nhặt như việc cung cấp những thông tin về nguồn nước ở các sông ngòi ở Việt Nam đã bị kết án là vi phạm “bí mật quốc gia” theo Quyết định của Thủ tướng Việt Nam số 212/203/QĐ-TTg ký ngày 21/10/2003. Như vậy, dù là “cùng là máu đỏ Việt Nam” nhưng phải là máu đã “cưu mang” một chủ thuyết ngoại lai mới có thể được xem là chính danh để xây dựng quê hương Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Chúng ta, những người Việt trong và ngòai nước, còn nặng lòng với đất nước, tưởng cũng cần suy gẫm trường hợp Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa ngõ hầu phục vụ tổ quốc và d dân tộc trong sự thức tỉnh, đừng để bị mê hoặc bởi chủ thuyết cưỡng quyền. Tổ quốc là đất nước chung – Dân tộc là tất cả thành tố cần phải được bảo vệ và thừa hưởng phúc họa bình đẳng với nhau. Rất tiếc điều này không xảy ra cho Việt Nam hiện tại. Ghi chú: Ngày 3/3/2006, trên báo SGGP, GS Trần Cửu Kiếm, nguyên ủy viên Ban Quân y miền Nam, một người bạn chiến đầu của Bà trong MTDTGPMN, có viết một bài ngắn để kỷ niệm về BS DQH. Chỉ một bài duy nhứt từ đó đến nay. Mong tất cả trí thức Việt Nam đặc biệt là trí thức miền Nam học và thấm thía bài học nầy qua trường hợp của BS Dương Quỳnh Hoa. Mai Thanh Truyết Người con Việt

Sunday, March 31, 2024

Làm Sao Mà Quên Được Tháng Quốc hận Mỗi năm, vào dịp tháng tư từ 49 năm qua, có lẽ 18 triệu người Việt sống ở miền Nam không ai không nghĩ đến Tháng tư đen nầy. Tháng nầy còn được gôi là Tháng Quốc hận và Ngày 30/4 cũng được gọi là Ngày Quốc hận. Thực sự ra, tháng hay ngày quốc hận cần được biết sâu xa hơn nữa. Đó chính là ngày 18/9/1945, ngày HCM và bè lũ có tên là Việt Minh, sau nầy đổi danh xưng là đảng Cộng sản… đứng lên cướp chính quyền của Việt Nam tại Hà Nội. Nói đến quốc hận, người viết không cổ súy hận thù mà chỉ muốn nhắc nhở cho người sau biết rõ một giai đoạn đen tối của quê hương bắt đầu 79 năm qua… Nhắc đến quốc hận cũng không phải là khích động những người con Việt phải trả thù, mà nhắc đến quốc hận để đời đời con cháu Tiên Rồng cần phải định hình rõ ràng đâu là quốc gia, đâu là dân tộc. Biết ai là kẻ bán nước cho Tàu. Biết ai là kẻ phản bội dân tộc mượng danh chủ nghĩa để cai trị toàn cõi nước Việt. Nhắc đến để không quên quốc hận. Không quên nhưng không mang sầu hận. Không quên nhằm chuẩn bị cho một tương lai mới cho dân tộc an bình và xóa tan cảnh “nội trị” của CS Bắc Việt. Chuẩn bị cho một tương lai mới ứng hợp với tinh thần hợp quần của tổ tiên sau hơn 4.000 năm dựng nước và giữ nước. Nhưng tôi vẫn tin tưởng một tương lai sáng lạn đang sắp sửa khai mở. *** Không biết tự lúc nào sau ngày 30 tháng tư năm 1975, mỗi năm vào dịp nầy lòng tôi lại thêm một lần chùng xuống sâu hơn. Trước khi về hưu vào năm 2012, công việc hàng ngày vẫn chu toàn 8 giờ để trả nợ áo cơm, một vài giờ cho dịch vụ tư vấn về môi trường của tôi, cũng như thì giờ cho các buổi phỏng vấn hay ngồi suy tư và viết bài hoặc đi đó đi đây…tôi đã cảm nhận được một nỗi niềm u uẩn nào đó trong tôi. Nhưng bây giờ, mặc dù đã giã từ nợ áo cơm, nhưng niềm u uẩn trên vẫn tiếp tục còn trong tôi ngày càng…dai dẳng hơn thêm. Tại sao lại có hiện tượng như vậy trong tôi? Có lẽ, vì tuổi đời ngày càng cao, và niềm hy vọng về một ngày mùa xuân nở hoa trên quê hương vẫn còn xa vời vợi…cho nên nỗi buồn của tôi càng thêm ray rứt và dường như còn điểm thêm đôi nét tuyệt vọng trong tâm tư … (?) Cũng có lẽ, sức cùng lực tận, không còn khả năng chiến đấu kiên cường trong hơn 30 năm qua nữa chăng? Hoặc có lẽ, có lẽ tôi đã … bất khiển dụng rồi chăng? Bỏ qua những ngày tháng nghiệt ngã sau 30/4/1975 lúc còn lại ở Việt Nam trước khi vượt biên, phải thành thật mà nói, lúc đó tôi không có thì giờ để “buồn” như hôm nay, vì miếng cơm manh áo và mải lo “tìm đường ra đi” (cứu thân) cho một gánh nặng gia đình với 4 đứa con dại… Bỏ qua những năm đầu tiên sống đời tị nạn, tôi cũng chưa thực sự quan tâm gì mấy cũng như không có thì giờ để buồn…như nỗi buồn hôm nay vì một đời sống tạm dung nơi xứ người. Nhưng chỉ trong vòng 30 năm trở lại đây, khi gia đình tương đối ổn định và sau khi bắt đầu bước vào con đường tranh đấu cho Việt Nam qua ngã môi trường, tôi mới thực sự cảm thấy buồn. Và mỗi năm nỗi buồn đó càng se sắc hơn, ngậm ngùi hơn và sâu đậm hơn. Buồn để mà buồn một mình! Không thể nào nói tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn được. Mà tôi hiểu và hiểu rất rõ nỗi buồn thực sự của tôi vì hai lý do: – Đất Nước còn điêu linh, – và Bà con mình vẫn còn chìm đắm trong nỗi nhục nhằn làm công dân hạng hai cho một chế độ phản dân tộc chưa từng thấy trong lịch sử Việt Nam. Làm sao không buồn được khi một đất nước xuất cảng hàng năm 6,7 triệu tấn gạo, nhưng người dân trong nước vẫn thiếu ăn, ngay cả chính nơi sản xuất gạo là Đồng bằng Sông Cửu Long vẫn phải mua gạo lậu… từ Cambodia! Nhìn lại những ngày bắt đầu từ giữa tháng tư năm 75, có thể nói cả thành phố Sài Gòn đang lên cơn sốt. Nào là chạy đôn chạy đáo thăm dò tình hình…mặc dù biết rằng miền Nam đang trong cơn hấp hối, nhưng cũng mong tìm và hy vọng một phép lạ. Nào là, đối với những người có chút tiền, lo chạy đi đổi tiền, làm…áp phe, hay dò la tin tức tìm đường ra đi. Tin tức đồn đãi nhiều khi trái ngược nhau, tin vui lẫn với tin buồn. Các hãng thông tin ngoại lại đưa tin trái người nhau. Đài BBC lại đưa tin CS Bắc Việt tiến như “chẻ tre”, chiếm thành phố Nha Trang làm cho dân chúng bò chạy trước khi người lính cộng đặt chân vào thành phố ngày 1/3/1975. Nhưng nỗi buồn của tôi thực sự buồn khi rời trụ sở USAID ở đường Lê Văn Duyệt sau khi làm “thủ tục”…ra đi. Cầm tấm thẻ vô tri có hình của một “ông giáo trẻ” đầy nhiệt huyết, khi về lại Việt Nam năm 1973, nguyện sẽ làm một cái gì cho thanh niên Việt. Tôi không thiết ăn cơm chiều hôm đó. Nếu tôi nhớ không lầm, đó là ngày thứ tư 09/4/1975. Tới thứ hai tuần sau đó vào khoảng tuần lễ thứ hai của tháng tư, lên Đại học Cao Đài Tây Ninh, tôi lại được mấy anh chàng “CIA” trẻ đóng trên đài phát tuyến ở đỉnh Núi Bà cho tôi biết rằng ngày mai, họ sẽ rút về Mỹ và khuyên tôi nên rời bỏ quê hương qua một giọng Bắc rất rành rọt. Suốt các buổi lên lớp sau đó, tôi nói như người mất hồn, một tâm trạng mà chính giờ phút viết lên dòng chữ nầy, tôi lại thêm một lần “phiêu diêu” nữa. Đi? hay Ở? Hai chữ nầy ám ảnh mãi nơi tôi trong suốt thời gian còn lại cho đến ngày 30/4 năm đó. Nhớ lại, trong những buổi hoàng hôn trước ngày 30/4/1975, tâm trạng một thanh niên trẻ, mang bầu nhiệt huyết hầu mong đóng góp một chút gì cho quê hương, đang bị dằn co bởi ý tưởng ĐI hay Ở. Sau cùng quyết định ở lại đã chiến thắng, xóa đi nỗi khắc khoải của nội tâm vì một suy nghĩ rất “lãng mạn” rằng:”Cho dù CS Bắc Việt có chiếm miền Nam đi nữa, mình cũng có thể đối thoại được với họ, vì cùng chung chủng tộc và cùng một ngôn ngữ”. Nhưng tôi đã lầm, cũng như nhiều người đã lầm, vì họ và tôi không nói cùng một tiếng nói mặc dù cùng phát âm tiếng Việt. Trước bế tắc của cuộc sống và tương lai con cái, phải đành liều chết vượt biên mà thôi. Không còn một giải pháp nào khác. Hình ảnh Ba tôi lẩn quẩn trong đầu. Hình ảnh một ông giáo già đã về hưu, căm cụi viết thư cho con mình đi du học mỗi buổi sáng thứ năm trong tuần, để rồi, sang sáng thứ bảy đem thư ra Bưu diện gửi đi cho kịp chuyến máy bay Air France bay về Pháp, để cho con mình nhận được thư đúng ngày thứ hai. Việc nầy xảy ra đúng như in, không hề sai sót suốt hơn hai năm trời sau khi tôi du học bên Pháp cho đến khi Ba tôi mất. Ba tôi mất ngày Chủ nhựt và thứ hai sau đó tôi vẫn nhận được thư ba viết trước khi nhận được điện tín của anh tôi. Còn Má tôi. Một người mẹ già vừa gặp lại sau 10 năm xa quê và sống chung với con chưa đầy hai năm…Mà cũng chính trong thời gian nầy, tôi luôn bận bịu với những “đam mê” cho cuộc sống, chuẩn bị cho con đường “công danh” của mình… thì làm sao tôi có thì giờ chăm sóc hay hỏi han đến mẹ già. Và mỗi khi nhìn lại mình, chính tôi cũng phải tự thú rằng mình cũng không có thì giờ để nghĩ đến mẹ mình nữa trong thời gian nầy. Tôi thật có lỗi với má tôi nhiều và nỗi ân hận vẫn còn ray rứt mãi trong tôi. Và giờ đây, khi viết những dòng chữ nầy, tôi chỉ còn biết mỗi đêm nhìn ảnh mẹ để sám hối. Trở lại thời gian giữa tháng 4 năm xưa. Tâm trí tôi luôn bị ray rứt với tâm trạng nửa Ở, nửa Đi. Và tôi đã sai lầm khi quyết định Ở lại dù có đủ phương tiện để ra đi trước khi “chúng nó” vào Saigon. Cái sai lầm nầy cũng giống như cái sai lầm của người thầy giáo Tạ Ký khi đi học tập về cùng ngồi uống rượu với Gs Tôn Thất Trung Nghĩa và tôi tại Chợ Đuổi nằm tại góc đường Lê Văn Duyệt và Trần Quý Cáp năm 1981 như sau: “Hai mươi năm mới biết chuyện xưa lầm. Thì tuổi trẻ đã biến thành uất hận!” Chiều thứ hai 28/4, khi một tên phi công (tôi không muốn nhắc tới tên nầy lên đây, vì làm sao tôi quên được tên những kẻ phản bội quê hương) dội bom dinh Độc Lập, và từ đó lịnh giới nghiêm 24/24 được ban hành. Tôi liền chạy lên nhà một người bạn vong niên trên cư xá giáo chức đại học ở đường Tự Đức. Qua ngày thứ năm 1/5, lệnh trên radio yêu cầu (bắt buộc thì đúng hơn) mọi công chức phải đến trình diện tại trụ sở làm việc của mình. Sáng đó, tại cư xá có mặt Ông Khoa trưởng, Ông Phó Khoa trưởng và một số giáo sư, tôi và một giảng nghiệm viên tình nguyện vào Trường Sư phạm xem tình hình. Mọi sự có vẻ êm xuôi vì “họ” chưa có người vào tiếp quản, ngoài một số “cơ sở” địa phương thôi. Nhưng một hình ảnh khác làm bẽ bàng và làm đảo lộn những suy nghĩ tốt đẹp trong tôi khi nhìn thấy một số đồng nghiệp của mình mới chỉ vừa cách đây một ngày, nay đã mang “băng đỏ cách mạng” từ cung cách hướng dẫn chỗ để xe, cho tới thái độ trong lúc nói chuyện. Đáng phỉ nhổ nhứt là những người nầy ngày nào thưa anh, xưng em với tôi, mà nay trở mặt dương dương tự đắc tự xưng tôi, tôi, anh, anh một cách trơ trẽn. Có những chị giáo sư thướt tha, dịu hiền trong khi lên lớp mà nay ngoài băng đỏ, thậm chí còn để lá cờ vàng ba sọc đỏ dưới chân bàn đạp ga xe nữa. Và hơn nữa, có giáo sư trong suốt thời gian chưa đầy hai năm ngắn ngủi của tôi, đã xem tôi như “thần tượng” mặc dù biết tôi đã lập gia đình rồi, thường xuyên đi ăn uống chung; thậm chí đã dám cùng tôi “nhậu thịt chó” nữa…Người đó bây giờ là một “công thần” của chế độ. Làm sao tôi quên được lần đổi tiền đợt I ngày 22/9/1975, đổi 1đ tiền “chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam” tức tiền “ngân hàng Việt Nam” lấy 500 đ tiền Việt Nam Cộng Hòa hay “tiền Ngân hàng Quốc gia Việt Nam”. Người dân chỉ đổi được mỗi gia đình 100.000 đ mà thôi. Làm sao tôi quên được cảnh đốt sách tại một khu phố ở Sài Gòn trong tháng 5/1975. “Một cửa hiệu chuyên cho thuê truyện tại đường Huỳnh Quang Tiên bên cạnh nhà thờ Ba Chuông tại Phú Nhuận phát nổ khi đoàn thu gom sách mang băng đỏ xâm nhập tiệm. Ông chủ nhà sách mời tất cả vào nhà. Rồi một trái lựu đạn nổ. Chuyện xảy ra không ai ngờ. Đương nhiên là có đổ máu … Cả chủ tiệm cũng mạng vong”. Câu chuyện ông chủ hiệu sách uất ức thà chết còn hơn nhìn “băng đỏ” gom và ném sách đi đốt chỉ là một trong những bi kịch của miền Nam sau 1975. Làm sao tôi quên được lần đổi tiền đợt II ngày 3/5/1978, đổi 1 đ “tiền thống nhứt XHCN” tức tiền “ngân hàng nhà nước” lấy 1 đ tiền “ngân hàng Việt Nam” và mỗi gia đình chỉ được đổi 100 đ mà thôi. Làm sao tôi quên được lần đổi tiền đợt III ngày 14/9/1985, đổi 1 đ tiền ngân hàng nhà nước cũ lấy 1đ tiền ngân hàng nhà nước mới (tiền thống nhứt Bắc Nam). Làm sao tôi quên được lần đánh tư sản đợt I ngày 11/9/1975, cướp của và tịch thu nhà những người được cho là tư sản cùng bắt đi vùng kinh tế mới. Chiến dịch nầy gọi là X1. Làm sao tôi quên được lần đánh tư sản đợt II, tức chiến dịch X2, từ tháng 3/1978 tới cuối năm 1990 nhắm vào tư sản tiểu thương, những nhà tiểu thủ công nghệ, ước tính trên 14.000 gia đình tại Sài Gòn. Làm sao tôi quên được lần đánh tư sản đợt III tức chiến dịch X3, song hành với chiến dịch X2 tại Sài Gòn nhằm mục đích trục xuất người cũ ra khỏi nơi ở và điền khuyết vào bằng gia đình cán bộ ngoài Bắc vào. Đây là một âm mưu thâm độc nhằm “Bắc kỳ hóa” thành phố Sài Gòn. Tính đến tháng 9/1989, ước tính có đến 950.000 người bị đuổi khỏi Sài Gòn, và có khoảng 150.000 gia đình cán bộ Bắc Việt được điền khuyết vào. Làm sao tôi quên được những đợt học tập cải tạo, đáng kể nhứt là đợt cuối cùng vào tháng 6/1975, kêu gọi công quân cán chính tập trung mang theo lương thực cho một tháng…để rồi tất cả bị lường gạt và phải chịu lao động khổ sai từ một hai năm cho đến hơn 17 năm đối với những cán bộ hành chánh và quân đội cao cấp của Việt Nam Cộng hòa…. Trên đây, xin diễn lại bức tranh vân cẩu chập chùng những ý nghĩ lộn xộn trong những ngày quốc phá gia vong. Xin chia xẻ cùng bà con. Đây không phải là lời tự thú hay than thở, hay nói về mình. Nơi đây tôi chỉ muốn nói lên vài điều suy nghĩ của một người con Việt mà thôi. Đó là: • Truyết, đừng bao giờ mơ tưởng những người cộng sản Bắc Việt là người Việt Nam. • Matin Luther King từng nói: "Trong thế giới này, chúng ta không chỉ xót xa vì những hành động và lời nói của người xấu mà còn cả vì sự im lặng đáng sợ của người tốt"… Từ đó, chắc chắn sẽ có một ngày tất cả người con Việt và Tuổi Trẻ trong nước cùng vùng lên, …đứng dậy đòi lại quyền sống và quyền làm người theo Điều 3 của luật Quốc tế Nhân quyền “Mọi người đều có quyền sống, tự do và an toàn cá nhân”. Và với những chuyển biến trên thế giới hiện tại, nhứt là thế giới cộng sản đang đi vào giai đoạn cuối của một niềm tin không tưởng, thời điểm nầy chính là cơ hội ngàn vàng cho chúng ta, những người con Việt trong và ngoài nước …làm LỊCH SỬ. Nói về 30 Tháng Tư Ngày Quốc Hận 2024 Thưa Bà Con, Bài viết “Chuyện chưa kể sau ngày 30/4/1975”, phản ảnh quan điểm của tác giả, bà Quỳnh Hoa, con gái đại tá quân đội Nhân dân Việt Nam Bùi Văn Tùng. Bà tốt nghiệp Đại học Y dược tp HCM, hiện đang sống ở Pháp. Xin trích vài đoạn…”Câu chuyện về những việc ba tôi làm trưa ngày 30/4 tại Dinh Độc Lập và đài phát thanh Sài Gòn, đã được báo đài đưa tin, làm phim tài liệu và ngay cả viết thành sách (ủng hộ và phủ nhận) cứ mỗi dịp tháng Tư về, ròng rã suốt 45 năm qua. (bài viết năm 2020). ….Nhà báo, đại tá Bùi Tín (báo Quân Đội Nhân Dân) ngay sau 30/4/1975 đã tìm gặp ba tôi để nghe kể lại toàn bộ sự việc xảy ra trong buổi trưa lịch sử đó. (Chứ không có mặt trong giờ phút lịch sử đó). Ông Phạm Xuân Thệ, đại úy, trung đoàn phó trung đoàn 66 bộ binh, cũng có mặt trong dinh "bắt nội các tổng thống". Sau một thời gian dài im lặng, bỗng ông ấy tự nhận hết những việc ba tôi làm trưa ngày 30/4/1975 về làm thành tích cho ông. Ông Thệ sau lên hàm trung tướng QĐNDVN. …Chính ủy Bùi Văn Tùng cùng các ông Dương Văn Minh trên đường từ sân Dinh Độc Lập ra hai chiếc xe jeep để đến đài phát thanh. Năm 2006, khi biết Phạm Xuân Thệ phủ nhận việc ba- chính ủy lữ đoàn tăng thiết giáp 203 có mặt tại dinh- mà bỗng đột ngột xuất hiện tại đài phát thanh Sài Gòn, và cho rằng ông ta, một đại uý bộ binh đã giao lại nội các Dương Văn Minh, rồi cùng ngồi soạn thảo văn kiện đầu hàng với trung tá chính ủy Bùi Văn Tùng, ba chỉ nói nhẹ nhàng, tay này tầm bậy”. (Đoạn nầy có ghi trong thông báo chính thức của trên báo Nhân Dân).” Tất cả những trích đoạn trên đây là do tác giả Quỳnh Hoa ghi lại sự giây phút lịch sử trên. …Người viết Tác giả Quỳnh Hoa) kể tiếp: “…Khi ĐT Dương Văn Minh lên xe và đi theo xe của Chính ủy Bùi Văn Tùng trên đường đến Đài phát thanh Saigon. Đợi trước của Đài có mặt Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, và TS Huỳnh Văn Tòng, Khoa trưởng ĐH Hòa Hảo Long Xuyên và một nhóm sinh viên tranh đấu…”. (HVT là bạn quen từ thời ở Paris, tốt nghiệp TS Sử học, nằm trong sư đoàn 30/4. Để rồi sau sự hiện diện trên Đài phát thanh đã đị trù dập vì tội…cướp công cách mạng!). Những lời công bố đầu hàng được đọc đúng vào lúc 10:37 sáng ngày 30/4/1975 sau bài hát Nối Vòng tay lớn của TCS. Bức hình bên cạnh đây chụp đúng vào lúc 10:37PM 29/4/2020, giờ Houston, tức là 10:37AM ngày 30/4/2020 giờ Sài Gòn, đúng 45 năm sau. Trong phòng làm việc, ngồi một mình âm thầm gậm nhấm nỗi đau Quốc Hận. Người viết xin chia xẻ cùng Bà Con giây phút lịch sử nầy để biết và nhớ rỏ giây phút nầy. Vì vậy, Bà Con cần để ý… Nhớ để không quên. Không quên không phải để thù hận. Mà không quên để khắc ghi lời nguyền. Lời nguyền của hồn thiêng sông núi. Đàn con Việt sẽ vá lại bức dư đồ rách. Dứt khoát CSBV sẽ vào quá khứ. Và chúng ta dứt khoát … Ngày 30/4 cũng là ngày mỗi chúng ta cần ghi nhớ để tự nhũ rằng:” Cả dân tộc Việt Nam chúng ta không những chỉ nhắc tới ngày 30/4 như ngày Quốc hận của người dân Miền Nam, mà còn đừng quên phải: • Nhắc tới những ngày giỗ của hằng triệu nông dân, trí thức, thương gia Miền Bắc đã chết âm thầm và nhục nhã trong mấy năm bị đấu tố; • Phải nhắc tới cái chết của hằng mấy triệu quân dân của cả hai Miền Nam Bắc, nạn nhân của cuộc chiến tương tàn do Hồ chí Minh và đồng bọn tạo dựng ra từ 1945, theo lệnh của Liên Sô, Trung Cộng, và cộng sản Quốc Tế Đệ Tam; • Phải nhắc tới trên 800,000 vong linh bơ vơ lạnh lẽo trên rừng hay dưới biển chưa siêu thoát được, trên đường vượt biên vượt biển liều chết chạy trốn bọn Việt cộng, đi tìm tự do; • Chúng ta phải nhắc hết tội ác của Hồ chí Minh và cộng sản Việt Nam ít nhất từ năm 1945 cho đến ngày hôm nay, để chúng ta cùng chuyển ngày 30/4 thành một ngày Quốc Hận chung của cả dân tộc, từ đó biến thành một "Ngày Quật Khởi" của toàn dân cùng đứng lên đập tan chế độ cộng sản, để mau chóng mang lại cho đồng bào đầy đủ Tự Do Hạnh Phúc thực sự và Ấm No Thịnh Vượng cho cả quốc gia Việt Nam. Nói với những người Cộng sản Bắc Việt đang cầm quyền ở Việt Nam Xin nói ngay là những dòng chữ sau đây không phải là lời nhắn gửi hay trao đổi với họ mà chính là một vài suy nghĩ về họ trong cung cách quản lý toàn thể đất nước hơn 49 năm qua. Trong suốt hơn 30 năm thực sự dấn thân vào con đường tranh đấu dù dưới danh nghĩa cá nhân hay thành viên của Hội Khoa học & Kỹ thuật Việt Nam (VAST) hay dưới danh nghĩa Đại Việt, hay Nhóm Chống Tàu Diệt Việt Cộng, hay Hội Bảo Vệ Môi Trường Việt Nam, qua trên 40 cuốn sách viết riêng hay viết chung với các bạn như GS Trần Minh Xuân, TS Phan Văn Song, tôi đã trang trải trong đó, nỗi lòng của người con Việt, nói lên những vấn nạn môi trường do sự phát triển không ứng hợp với chiều hướng toàn cầu hóa và bảo vệ môi trường cùng những chính sách y tế, giáo dục hoàn toàn đi ngược lại trào lưu tiến bộ của văn minh thế giới. Từ đó, đưa đến tệ trạng là Đất và Nước ngày hôm nay đang đứng bên bờ vực thẳm về phát triển, chưa nói đến vấn nạn làm “nô lệ” cho Trung cộng qua các thỏa hiệp ngầm giữa hai đảng cộng sản Việt và Trung. Hiện nay, trên thực tế và dưới sự quản lý của đảng cộng sản Bắc Việt, Việt Nam vô hình chung đã là một tỉnh phía Nam của Trung Cộng từ lâu rồi! Ngày hôm nay, nhân danh cá nhân của một người con Việt, nếu còn lại một chút nhứt điểm lương tâm, những người CS Bắc Việt hãy trở về với dân tộc đúng nghĩa thật sự. Tài sản và quyền lực chỉ là phù du! Hãy can đảm vứt bỏ VÔ MINH trong tâm khảm để trở về với dân tộc đúng nghĩa. Một khi nhắm mắt và ngừng hơi thở, quyền lực sẽ là hư không và tài sản sẽ trở về cát bụi mà thôi! Sẽ có một ngày, những người con Việt trong và ngoài nước về dựng lại cờ vàng trên Cổ thành Quảng Trị! Niềm hy vọng trên sẽ trở thành một quyết tâm khiến mỗi người trong chúng ta tiếp tục giữ ngọn lửa thiêng của Dân Tộc luôn tỏa sáng trên quê hương thân yêu. Giờ khởi hành đã điểm! Mai Thanh Truyết Quốc hận 2024.

Tuesday, March 26, 2024

Một Ngày Của Tuổi Già: Mẹ Việt Nam Một Ngày Của Tuổi Già: Mẹ Việt Nam Tiếng lộp cộp lạc cạc bên ngoài phòng cho tôi biết là Bà đã thức dậy và đang đẩy xe lăn từng bước rất ngắn vào phòng tắm. Lúc đó vào khoảng 9 giờ sáng. Sau độ 15 phút, Bà lại lộp cộp lạc cạc lui “xe” và lần vào ghế cách đó độ vài bước. Hai tay nắm chặt cạnh bàn, Bà ráng gượng đứng dậy một cách khó khăn xoay người qua mặt bàn, rướn mình lên và ngồi vào ghế, cố gắng xoay người thêm một chút nữa cho ngay ngắn, và sau cùng lê chiếc chân mặt về cho thẳng thớm. Bà đã yên vị. Trước mặt Bà là một dĩa đồ ăn sáng thường ngày, một nhúm bún với thịt cắt từng sợi nhỏ bềnh bồng trong nước được điểm thêm những cọng hành nho nhỏ bên cạnh hai chiếc nĩa, một bằng nhựa và một bằng kim loại để lùa thức ăn vì Bà đã từng bị đột quỵ cách đây 10 năm và cơn đột quỵ tái diễn cách đây một năm. Cách xa dĩa thức ăn, có một tách nước ấm để kế bên một ly nhỏ bằng nhựa, trong đó chứa vài ba viên thuốc buổi sáng.Đó là phần ăn điểm tâm hằng ngày của Bà. Khoảng độ nửa giờ, nhắm chừng Bà ăn xong, đứa con gái út từ trên lầu bước xuống và nói “Má” qua phòng, mở TV xem lễ sáng và nghe Cha giảng. Âm thanh cộc lốc, ngắn gọn, và Bà lần bước qua phòng khách, dựa lưng vào thành ghế một mình trong tư thế di chuyển hết sức khó khăn. Nhưng Bà vẫn ráng và âm thấm cố gắng đưa thân mình một cách chậm chạp vào vị trí ngay ngắn trên chiếc ghế sofa. Tiếng nói trên TV bắt đầu. Và từ đó, căn phòng không còn nghe được gì nữa ngoài âm thanh của một buổi lễ trực tuyến. Bà ngồi trong thinh lặng, tôi vẫn không biết Bà có lắng nghe hay hồn để nơi đâu đâu. Quan sát Bà từ lúc thức giấc, đi làm vệ sinh lặng lẽ một mình, âm thầm “thưởng thức” buổi ăn sáng trong cô đơn, cuối cùng bước qua phòng khách. Thỉnh thoảng vài tiếng nói trên lầu vọng xuống thăm chừng bà trong vội vã của đứa con gái vừa làm việc ở nhà vừa chăm sóc bà nhắc bà đi ngủ … Đôi khi, Bà ngủ quên luôn trên ghế, nhưng thông thường sau độ một giờ sau khi xem lễ, bà lần lần từng bước, lặng lẽ đi vào phòng ngủ và…thao thức hay ngủ??? Xong một buổi sáng. Tất cả đã diễn ra trong sự yên lặng đáng sợ trong một ngôi nhà ngoại ô nằm bên bìa rừng của một thành phố nhỏ miền Đông Bắc Mỹ. Trong nhà, hầu như không có tiếng nói ngoài những câu độc thoại rất ngắn… Thỉnh thoảng phát ra vài tiếng người di chuyển trên lầu hay tiếng ghế kéo qua lại. Sau vài giờ và không có một thời khóa biểu nào nhứt định, tiếng nói quen thuộc hàng ngày vọng xuống “Má ra ăn trưa”. Và trên bàn, cũng một dĩa đựng thức tuy khác buổi sáng, nhưng vẫn là thức ăn sền sệt có cơm hay bún, có thịt heo hay gà (Bà không thích ăn thịt bò vì rất dai đối với Bà). Bên cạnh có một muỗng, một nĩa nhựa và một nĩa kim loại. Cũng một ly nước ấm, một ly nhựa chứa thuốc uống buổi trưa, điểm thêm một dĩa nhỏ đựng bánh hay trái cây tráng miệng.Sau đó, Bà lại lại khó khăn đứng dậy và vào phòng vệ sinh trước khi đi ngủ trưa. Một buổi ăn trưa âm thầm lặng lẽ qua đi! Buổi chiều cũng không khác gì buổi trưa. Cũng lặng lẽ bước ra sau khi nghe tiếng gọi ngắn gọn vọng xuống từ trên lầu. Cũng những động tác giống như buổi sáng lúc chào ngày mới. Bà vào phòng vệ sinh, lần ra bàn ăn, múc hay xỉa những món ăn có trong dĩa một cách vô hồn, ăn để mà ăn, chắc Bà cũng không biết đang ăn gì nữa. Có khác buổi sáng và trưa là ly nhựa đựng các thuốc uống cho buổi tối thôi. Và cứ thế ngày tháng thoi đưa, Bà sống như vậy năm nầy qua năm khác. Hậu quả của chứng đột quỵ và tuổi già làm Bà ngày càng đi đứng khó thêm, từ lúc hồi phục còn chống gậy đi đây đi đó trong nhà, tới lúc phải đi “walker”, và bây giờ dùng xe lăn bốn bánh di chuyển một cách rất khó khăn. Nguy hiểm nhứt là lúc chuẩn bị ngồi xuống ghế cạnh bàn ăn. Bà phải xoay người từ xe qua bàn, rướm mình bằng cách chống hay tay để kéo thân mình đứng lên một cách khó khăn vì cánh tay trái của Bà hầu như bị liệt. Vì là xe lăn bốn bánh dễ bị di dời và Bà không có khả năng để kềm giữ khi xoay mình qua bàn. Lúc nầy chính là lúc Bà dễ bị té và chung quanh không có ai kề cận. Cơm tối xong. Rồi cũng một vài động tác quen thuộc. Sau cùng lửng thửng lê thân già lần đẩy xe lăn, lặng lẽ vào phòng. Từ đó, cho đến sáng hôm sau, các động tác và sinh hoạt cho một ngày mới của Bà được tái lập lại. Hàng chục năm qua rồi. Quan sát Bà, tôi cảm thấy chạnh lòng. • Tuổi già cần được chăm sóc đặc biệt trong nhu cầu ăn uống, nhứt là những người có 3 chứng cao và 1 thấp: cao mỡ, cao máu, cáo đường, và chứng thấp khớp. Việc ăn uống cần có “diet” riêng và ăn uống cần phải có giờ giấc nhứt định, vì cơ thể người già khó có thể thích ứng với việc thay đổi thời khóa biểu. • Tuổi già cần có sự hiện diện thường xuyên của người thân chung quanh; • Tuổi già cần nghe những lời nói ngọt ngào yêu thương của người thân; • Tuổi già cần những người “biết lắng nghe” và “tỏ vẻ lắng nghe” những câu chuyện quá khứ thời xa xưa mà bất cứ người già nào cũng muốn kể ra mặc dù câu chuyện đã được kể hàng trăm lần đi nữa. Làm người, hay hơn nữa, là con cháu phải biết điều nầy. "Biết kiên nhẫn lắng nghe là liều thuốc an thần cho tuổi già." • Tuổi già cần sự chăm sóc đặc biệt. Xin đừng nghĩ “Tuổi già” còn tự làm được cho chính mình, để cho “Tuổi già” tự làm, đừng “spoiled” “Tuổi già”. Tất cả những điều trên, Tuổi Già cần được có, và xứng đáng được có vì HỌ đã hy sinh quảng đời thanh xuân để lo cho đàn con dại, nhứt là ở một miền đất xa lạ nầy, xa lìa cuống rún, không còn láng giềng thân thuộc chung quanh. Một thân một mình, không đồng ngôn ngữ mà vẫn can đảm, cắn răng bươn chải, đứng chờ xe buýt từ sáng tinh sương, mùa đông phải ráng bước lên bức tường tuyết hai bên lề đường để cho tài xế xe buýt thấy khách đứng chờ mà ngừng lại. Đó là BÀ MẸ Việt Nam! Hình ảnh muôn trùng nằm trong văn hóa Việt. Mong mỗi người còn mang dòng máu Việt, còn một chút nhất điểm lương tâm để trọn vẹn ôm trọn người Mẹ của mình, nhứt là trong thời điểm Mẹ không còn khả năng để tự lo liệu được. Không tội nào nặng hơn tội BẤT NGHÌ đối với đấng sinh thành của mình cả! Thời gian đi nhà thờ cầu nguyện hoặc đi chùa niệm Phật suốt cả đời cũng không bằng thời gian phụng dưỡng Mẹ già trong giai đoạn cuối đời. Mai Thanh Truyết Viết trong Mùa Lễ Lá 2024 https://maithanhtruyet1.blogspot.com/2024/03/mot-ngay-cua-tuoi-gia-me-viet-nam-tieng.html

Monday, March 25, 2024

Thân chuyển loạt bài của Cựu Dân biểu Nhữ Văn Úy, Colmar, Pháp… kể lại chuyện xưa, kỷ niệm một thời hợp tác qua dự án Rác ở Hốc Môn (biến rác thành phân bón hữu cơ) với người viết từ năm 1973…ở Sài Gòn. *** Để trả thù kẻ sĩ không "đầu hàng giai cấp" Tiến sĩ MAI THANH TRUYẾT đã bị"bề" hạ cấp! TÔI PHẢI PHẢN CÔNG! NHỮ - VĂN - ÚY Lời nói đầu: Mặc dù có thể nói tôi là người biết khá nhiều về nhà khoa học gia MAI THANH TRUYẾT, cả về khả năng và tinh thần yêu nước cuả ông; gần 40 năm trước, nếu chiến sự ở Việt Nam không càng ngày càng leo thang dữ dội thì giữa chúng tôi (MTT-NVU) đã có một sự kết hợp để vưà trực tiếp giải quyết vấn nạn rác trong tương lai cho Sài Gòn, vừa góp phần phát triển kinh tế đất nước. Một nhà máy chế tạo phân bón hữu cơ (mà nguyên liệu chính là rác gia dụng chế biến) đã được chuẩn bị xong trên một diện tích tổng thể là 31 mẫu tây (ha) ở ngay khu tứ giác về bên tay phải từ hướng Bà Qụẹo đi lên Hốc Môn, một cạnh cuả chiều dài là con kinh THAM LƯƠNG và cạnh kia song hành là con đường băng từ Tham Lương sang CHỢ CẦU. Diện tích khai thác ban đầu là 7 ha, đã ban mặt bằng và xây xong phần nhà máy cơ bản. Nhà máy này, nguyên liệu cuả "đầu vào" là giải quyết rác thu gom 1/3 phiá Tây và Tây Bắc Sài gòn (gồm cả quận Tân Bình). Thị trường tiêu thụ sản phẩm cuả "đầu ra" là các nhà nông canh tác rau tươi, ngũ cốc, cây trái ở Tân Bình - Lái Thiêu -Hốc Môn - Hậu Nghiã; kéo dài lên tới Tây Ninh. Trong tương lai, để hoàn tất kế hoạch, sẽ thành lập 2 nhà máy tương tự: một cho miền Đông Sài Gòn, một cho miền Tây. Nhìn tổng thể chương trình, hoạt động được cắt "chia 3 chân vạc" giảm thiểu sự "chi" rất nhiều; nhất là sự thu gom rác, các xe chuyên chở không phải "biểu diễn" một màn trình diễn rác di từ Đông sang Tây, từ Bắc chí Nam Sài gòn khắp Sài gòn. Cũng thế, thành phẩm ở vùng nào phân phối thẳng cho nhu cầu vùng đó; giá thành vì thế cũng giảm đi khá nhiều. Nhờ có dịp mật thiết làm việc với nhau từ ngày đó; công việc và giao dịch đã gắn chúng tôi gần nhau; vì thế, như trên đã nói, "tôi hiểu khá nhiều" về Ông! Trong một nửa quãng đời ở hải ngoại, hai người ở cách nhau nưả trái đất; công việc làm ăn sinh sống không có gì liên hệ, vì thế, sự gặp gỡ thân hữu hầu như không có; nhưng hầu như những bài viết về nghiên cứu chuyên môn cuả TS MAI THANH TRUYẾT tôi đều có đọc và về phiá người bạn xưa đối với tôi cũng thế! Theo rõi công việc chuyên môn cuả ông thành công vẻ vang nơi nước người và nhất là ông vẫn canh cánh ở bên lòng hoài bão phục vụ cho dân tộc, lòng qúy mến người bạn xưa cuả tôi càng thêm sâu đậm. Thế rồi có thể nói gần như tôi bàng hoàng cả người khi được đọc trên Internet có một âm mưu rộng lớn và thâm hiểm "bề" ông MAI THANH TRUYẾT, nhằm hãm hại nhà khoa học này hơn là mục đích cao cả cuả sự tranh luận để tìm ra sự thật nhằm loại trừ một con sâu ra khỏi rổ rau đang chuẩn bị nấu canh! Như tôi đã thưa trước với công luận nhiều lần và ngày nay xin nhắc lại với niềm tự hào; vì khả năng "kiến thức trường học" cuả tôi rất hạn chế nên tôi rất yếu kém về những lãnh vực chuyên khoa và xin "dựa cột đứng nghe" đúng như lời tiền nhân đã dạy "biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe". Nhưng về "kiến thức trường đời", tôi kiêu hãnh với những gì mà tôi có, và đã nhiều lần phát biểu "Ai sao tôi vậy"; sự thực đã chứng minh rõ ràng ngay trên Intertnet: một bảng phong thần dài dặc các tay "kiến thức trường học" cuả tà giáo (nào là tiến sĩ này, bác sĩ nọ, thạc sĩ kia v... v...) đã là những "tẩu tướng" dưới tay tôi (tiêu biểu là băng "tứ bọ"; bọ hung Tiến sĩ TRẦN CHUNG NGỌC, bọ chó GS sử nô NGUYỄN MẠNH QUANG, bọ ngựa BS (?) NGUYỄN THỊ THANH, bọ xít VÕ LONG TRIỀU). Với sự hiểu biết "cuả trời dành cho" đó, tạm gác vấn đề chuyên môn về hoá học sang một bên, chỉ một cái nhìn bằng một nưả con mắt tôi đã nhận ra chân tướng cuả những kẻ tấn công TS MAI THANH TRUYẾT. Tôi phải nhập cuộc, không phải với một lý do nhỏ nhặt là yểm trợ cho một người bạn; mà đẹp đẽ hơn là một nhiệm vụ và trách nhiệm phải làm cho sạch ô uế nơi diễn đàn -nói riêng- và xã hội bớt rác rưởi độc hại -nói chung-; một ân huệ mà trước đây tôi đã được thưà hưởng và được học nơi cố Chuẩn Tướng Tư Lệnh CSQG TRẦN VĂN HAI (b) , nay tôi trả lại cho xã hội; dùng ngòi bút cuả người lính xung kích già làm tất cả những gì trong khả năng, không để những nhân vật như Tiến sĩ MAI THANH TRUYẾT bị phường lưu manh ám hại! ............ ......... ......... ......... ......... ......... ...... CHÚ THÍCH: • (a) TS MAI THANH TRUYẾT không từ bỏ một cơ hội nào mà không lột mặt nạ bè lũ giặc "mán sơn đầu đỏ" dùng âm mưu xảo quyệt, biến khoa học cao đẹp thành một.... phương tiện để đi ăn xin có, tống tiền có, đục khoét có! Mặc dù ông cũng như những thân hữu cùng chiến tuyến với ông biết rằng với bọn người có đầy đủ điều kiện xếp chúng vào loại là dã nhân đó, không có một phương tiện bẩn thỉu nào làm cho chúng chùn tay; kể cả khốn kiếp đến mức "ngậm máu phun người". • (b) Khi tôi hãy còn là một hội viên Hội đồng xã đã bị Thiếu Tá Tiểu khu Phó tỉnh Bình Dương dùng quyền lực hãm hại. Chuẩn Tướng TRẦN VĂN HAI (khi đó ông còn đeo lon ĐẠI TÁ) đã áp dụng luật pháp để bảo vệ (kể cả biệt phái cận vệ võ trang), với quan niệm cuả con chim đầu đàn CSQG thời đó là "Cảnh sát phải bảo vệ tài nguyên qúy cho quốc gia". Bảo vệ tài nguyên đất nước, dẹp bọn NGẬM MÁU PHUN NGƯỜI : NHỮ - VĂN - ÚY Qua bài (1) Lời mở đầu, như tôi đã trình bầy, lập trường bất di bất dịch cuả tôi là trước hết "tôi tôn trọng tôi"; mà điều sơ đẳng cuả vấn đề này là phải tuyệt đối tránh nói láo để không thành một người bị bị mất nhân cách. Một người một khi đã bị mất nhân cách rồi thì chỉ còn lại là phần thể xác, có khác chi chỉ là một con vật? Do đó, trong cuộc đời cầm bút chuyên nghiệp, tôi chỉ chỉ hạ bút viết một sự kiện nào khi sự kiện đó mình phải biết sự thực (nếu không cả 100% thì cũng phải đúng 99%). Chính vì thế từ 6 năm nay tích cực sinh hoạt chính trị trên Internet tuy chỉ với tư cách tài tử, nhưng tôi vẫn trung thành với nguyên tấc đã đề ra; như hiện tại, xông pha vào chốn "siêu hạng ba quân", dọc ngang trong một xã hội trộn lẫn ma quái, ảo ảnh, âm binh, cô hồn các đảng; nếu không cẩn thận lắm thì tôi cũng rất dễ dàng bị lôi cuốn vào những vụ "ăn thua trí mạng" không cần thiết! Trong cái xã hội giả tưởng nhưng những nhầy nhụa gớm ghiếc độc hại này lại là hữu thực; nếu không với lý do bất vụ lợi tự giác tự nhận còn có trách nhiệm với đất nước trong lúc dầu sôi lửa bỏng: đất nước cần người để chung sức nhân dân yêu nước lật đổ chế độ CS dưới bất cứ hình thức nào, để tháo gỡ giải đất hình chữ S ra khỏi hàm răng con cá mập Chệt càng sớm ngày nào càng hay ngày ấy thì tôi đã "quẳng gánh lo đi", vui thú điền viên vì nợ đời tôi và gia đình tôi đã trang trắng từ sau ngày 30 - 4 - 75! Tôi biết, và thừa biết, còn dây dưa với cái thế giới ảo này chỉ là chuốc thêm hôi hám dây vào người; nhưng cùng tâm trạng với tướng TRẦN KHÁNH DƯ xưa, không nỡ bỏ nghề đốt than khi bị vua nhà TRẦN bạc đãi vì lầm lẫn nhưng vẫn cố bám lấy cái nghề khốn khó đó, với tâm trạng vì thương người khác: Nghĩ mình lem luốc toan nghề khác, Nhưng sợ trời kia lắm kẻ hàn! (trích thơ TKD) Tuy chẳng dám ví tài mình như vị danh tướng xưa, nhưng tự hào lòng yêu nước và yêu dân có lẽ cũng không kém! Bỏ rơi tất cả 35 năm nay rồi, nhưng một thế hệ thừa kế cho đến nay vẫn chưa nhìn thấy thấp thoáng bóng dáng cuối đường hầm vì với một thời buổi vàng thau lẫn lộn như bây giờ, một cây non qúy chưa kịp mọc thì đã có hàng chục, hàng trăm kẻ.... ôm mã tấu đứng chờ để chặt, lấy đất trồng giống cây Mác xít! Tôi cũng như thế hệ cuả chúng tôi -nếu may mắn còn có những cá nhân nào hiếm hoi còn hơi thở, đã đến lúc phải quên thân mình lăn vào chốn mưa máu gió tanh để dẹp bọn quần ma, hợp quần cùng những thân hữu mở đường cho một lối tiến tới tương lai tốt đẹp cho dân tộc dù mảnh đời còn lại cuả mình rất mong manh, có thể tan biến trong khi nhiệm vụ còn dang dở....Việc đó gọi là Bảo vệ tài nguyên qúy, không phân biệt tuổi tác! Trong quy ước đó cuả chính mình, một khi thấy tài nguyên qúy Quốc gia bị kẻ thù cuả dân tộc "bề" nhằm triệt hại; dù không có một sự nhờ cậy nào cuả những nhân vật là nạn nhân cuả âm mưu hiểm độc đó, nhưng chúng tôi cũng tự nguyện lăn mình vào can thiệp ,yểm trợ vì bảo vệ chính nghĩa; một chính nghĩa cao qúy sáng vằng vặc: trong sử sách, không hề có một tỳ vết bán nước, nhượng biển như bầy chó săn cuả "bác Mao" đã làm đang làm và còn tích cực làm nhanh hơn nữa; bọn này ỷ thế lang sói cuả ngoại bang, hống hách thách thức cả dân tộc cho nên chúng đã ngang nhiên biểu diễn màn.... bán cả tổ tiên; như mới đây, -nhân dịp giỗ thứ 1970 tưởng niệm công ơn cuả HAI BÀ-, chúng "cống cả Hai Bà Trưng" cho MÃ VIỆN -tên tướng hùm xám cuả giặc đã đè bẹp cuộc khởi nghĩa thành công cuả HAI BÀ, đã tạo nên một trang sử đen, bi thảm chung trong dân tộc. Khốn nạn đến mức chúng hỗn láo, mất dạy, dám dâng hiến cả anh hồn hai vị nữ anh hùng vĩ đại duy nhất cuả đất nước sang TẦU làm tì thiếp, nô bộc cho quân cướp ngoại bang, cái chế độ chính trị đốn mạt như thế còn "thương" được cái điểm gì mà cón có những kẻ ngu dại thờ lậy tên trùm HỒ CHÍ MINH và nhiều tên còn dơ dáy hạ cấp hơn nữa là chen chúc nhau xin làm được một kẻ bưng bô ở vòng ngoài! Những hành động cụ thể cuả các ông HỒ CÔNG TÂM - TUẤN PHAN trên các diễn đàn internet đã tự cung khai các ông là ai? Dù rằng các ông có cố gắng "khéo léo" ngụy trang một cách.... vụng về vì còn để lộ ra nhiều khuyết điểm quá non nớt để chúng tôi dễ dàng có những cơ sở chính xác, căn cứ vào đó mà dễ dàng đưa ra những phán đoán mà tỷ số sai lầm hầu như không có! Dĩ nhiên, tôi không cùng loại người có tư cách và giáo dục như hai ông ấy, nên không thuộc loại đớp càn suả bậy; với những gì tôi phê phán như trên, bài sau tôi sẽ đưa ra những dữ kiện để chứng minh; như thế, đương nhiên chẳng những chỉ là hai ông mà ngay cả tập thể hay băng đảng cuả những đương sự có liên hệ, có quyền đường đường chính chính phản biện. (còn nữa). Mất bài thứ 3 Bảo vệ tài nguyên đất nước, VINH DANH CHÍNH TRỊ TS MAI THANH TRUYẾT NHỮ - VĂN - ÚY Chuyện Tiến sĩ MAI THANH TRUYẾT phải đeo áo giáp chống đạn cũng như thuê nhân viên võ trang MỸ đi bảo vệ an ninh trong những sinh hoạt cộng đồng "nóng" ở MỸ là chuyện khó tin nhưng có thật; hồ sơ về tình trạng an ninh cuả Ông bị đe doạ có nằm trong hồ sơ cuả Cảnh sát MỸ. Tuy không phải là một chính trị gia, nhưng cảm nhận nhậy bén về chính trị cuả ông không thua gì cuả một chính trị gia có bản lãnh cao và lập trường dứt khoát chống CỘNG rất nhất quán, chứ không là lũ cỏ đuôi chó, lắt léo theo chiều gió. Mời Qúy vị theo dõi một đọan văn sau đây cuả tác giả NGUYỄN Á ĐỘC LẬP viết trong bài "Cái thực của TS MAI THANH TRUYẾT" : Nguyên văn lời viết cuả ông NGUYỄN Á ĐỘC LẬP: Và người viết bài này (NAĐL. NVU ghi), có lần ngỏ ý với TS MAI THANH TRUYẾT: "Nếu có sự thay đổi trong cách 'đóng góp sáng kiến' cuả anh, có thể nhà nước Việt Nam sẽ lắng nghe. Ông (TS MTT. NVU ghi) cũng đã khẳng định "Lập à, anh không chống Cộng mù quáng, anh chỉ chống lại cách làm cuả họ gây thiệt hại cho môi trường và quyền lợi lâu dài cuả đất nước" Chỉ với sự ghi nhận trên cuả tác giả NGUYỄN Á ĐỘC LẬP cho tôi có dịp nhận ra cái "nhân chính trị nhân bản " cấy trong tim con người khoa học hiếm có này; Tiến sĩ TRUYẾT dùng hoạt động khoa học để chống một chủ thuyết chính trị trái với khoa học; vì một khi nhà nước VGCS tôn trọng giá trị nhân bản có nghĩa là họ phải thay đổi lập trường chính trị mà tên ngàn thu phản quốc HỒ CHÍ MINH đã nhập cảng về tiêu diệt dân tộc khiến giặc Tầu có cơ hội ngàn vàng ngày nay đang đồng hoá VIỆT NAM. Thêm một đoạn nưã mà tác giả NGUYỄN Á ĐỘC LẬP viết (nguyên văn chữ nghiêng) "Anh có thể ngưng đề cập đến vụ 'da cam' vì đó là chuyện giữa 'nạn nhân' (VN) và các công ty chế tạo hoá chất cuả Hoa Kỳ". Dĩ nhiên ông giữ thái độ im lặng! (Xin nói thêm, TS Truyết là một nhân chứng trong vụ kiện Chất độc màu Da cam của Hội Nạn nhân chất độc màu Da cam kiện 27 Công ty Hóa chất Hoa Kỳ ở tòa án Brooklyn, New York năm 2004. Ông CHánh án Weinstein đã phán quyết hủy vụ án của nguyên đơn Việt Nam ngày 10/3/2005). TS TRUYẾT giữ thái độ im lặng tức là đã ngầm nói tất cả, từ quan niệm chính thống về chính trị đến lòng phục vụ cao cả cho dân nước; vì thực chất, vụ kiện da cam không phải là giữa "nạn nhân" với nhà chế tạo hoá chất Hoa Kỳ vì những người gọi là "nạn nhân chất độc da cam cuả MỸ, thực sự là nạn nhân chất độc "da đỏ" cuả Tầu Cộng tống vào cơ thể họ để kích thích thần kinh; biến một con người tầm thường khi xung trận thành một con người siêu nhân! Như vậy,vụ kiện gian này không phải chỉ có giá trị "gian về tiền bạc" mà là "gian 100% về chính trị"; là một khoa học gia "cao tay ấn" về chính trị nên TS TRUYẾT không màng đến quyền lợi cá nhân. Giả dụ như TS MAI THANH TRUYẾT ham mồi xôi thịt tầm thường như nhiều nhà khoa học gia khác, ông lấy cớ "nhân đạo" để bỏ ngang vụ án, dùng khả năng khoa học cuả mình để cùng với những nhà bác học Mỹ khác chứng minh rằng "chất độc da cam" không phải là chất độc nguy hiểm như nhà nước VGCS và bọn chó săn cuả chúng đã hò hét. Một giả thuyết chính trị được đặt ra: Nếu bị thua căn bản pháp lý về khoa học trong vụ kiện thâm độc ấy, trên quan niệm chính trị về chiến tranh vưà qua ở VN sẽ hoàn toàn đổi mầu: Nước MỸ sẽ bị cả thế giới lên án là một nước gây chiến tranh diệt chủng; trong khi đó, HỒ CHÍ MINH, đảng VGCS mới chính thực là tác giả một cuộc chiến tranh diệt chủng thì trở thành những kẻ có chính nghiã. Chính nghĩa .... trấn lột tài sản nhân dân, trấn lột vàng chuộc mạng cả hàng triệu người di tản vượt biên; chính nghĩa tàn sát giệt chủng "không ngừng nghỉ" ngay chính đồng bào cuả mình, còn khốn nạn hơn chó gặm xương chó, văn nghệ tuyên truyền chỉ đạo với chính sách cuả HỒ tặc là"đào tận gốc, bốc tận rễ". Chẳng những TS MAI THANH TRUYẾT được coi như là một khoa học gia ân nhân cuả hai chế độ VNCH, mà ông còn là ân nhân cuả nhân dân MỸ; là một chính trị gia cuả nền Đệ Nhị VNCH, tôi long trọng vinh danh ông! (Còn nữa) Bảo vệ tài nguyên đất nước,vấn đề TỐI CẦN THIẾT!!! NHỮ - VĂN - ÚY Vấn đề bảo vệ tài nguyên đất nước là một vấn đề tối cần thiết, vì dù thời bình hay thời loạn, dù thời kỳ đất nước độc lập cường thịnh hay đất nước bị ngoại xâm đồng hoá hay mất chủ quyền thì vấn đề "TÀI NGUYÊN" vẫn phải được đặt ra, hàng đầu và cấp bách vì một khi tài nguyên đất nước bị khô cạn thì còn phương tiện gì để phục hồi hoặc phát triển? Có thể thực tế và đơn giản ví như một nồi cơm đang nấu trên bếp rơm ở nhà quê, nồi cơm vưà nóng nước mà hết rơm và không có nhiên liệu để thay thế thì liệu có được bữa cơm không, dù là một bưã cơm đơn giản nhất là ăn với muối? Cũng thế, và đối với tài nguyên qúy thì sự bảo vệ lại càng khẩn thiết hơn vì theo định luật cuả thiên nhiên, tài nguyên quý lại càng hiếm hơn; nếu không biết bảo vệ thì e rằng sẽ có thời gian bị cạn kiệt và tạo nên một khoảng trống vô cùng tai hại cho quốc gia, có khi là một thảm hoạ! Lịch sử Việt Nam thời cận đại - từ 1936 tới nay - đã là một tấm gương vĩ đại để chứng minh cho điều này. Dưới thời thực dân Pháp đô hộ, những tài nguyên qúy cuả Quốc gia, dĩ nhiên biết yêu nước, thương dân và nỗi nhục mất nước nên đều bằng hình thức chính trị này hoặc phương thức chính trị khác, tìm đường cứu nước. Trái lại, những tài nguyên.... cặn bã cuả quốc gia thì chỉ sống và làm việc theo nhu cầu cái dạ dầy, là một thứ sinh vật hạ đẳng hạ đẳng; trong bọn bán nước hại dân này, đương nhiên có cả lão già "quan huyện thân sinh ra Hồ CHÍ MINH"; tên tham quan ô lại này "Ô" đến mức bị tống cổ ra khỏi cái chính quyền bù nhìn vì tội quá tàn ác: tra tấn đến chết người để dùng hơi máu đưa cay cho hơi men.... Hồ Chí Minh mới được nếm mùi bổng lộc cuả.... giống chó săn được vài năm (được ưu đãi vào học trường Quốc Học HUẾ) thì vì cha bị sa thải biến thành "chó dại" (bị săn đuổi vì trốn tù) nên con cũng bị đạp ra khỏi giai cấp "Qúy... tặc" đó trở thành "chó hoang". Trên bước đường tha phương cầu thực, chó dại và chó hoang lén lút găp nhau ở miền Nam. Chó hoang nghe theo lời cha nên tìm đường sang Pháp để tìm tư thế.... ôm tận gốc mẫu quốc, hy vọng có cơ may quật ngược thế cờ, mưu cầu được chỗ đứng "gia nô truyền kiếp". Bị thôi thúc trước một hoàn cảnh gia đình đang gặp vận bĩ đau khổ còn hơn người mắc bệnh táo bón cứ .... nưả tháng mới đi đại tiện được một lần: Bố thì sống làm thân con cò lủi ở miền Nam, em thì được chị cõng đi gõ cưả ăn mày những nhà có lòng hảo tâm, mẹ thì thở hắt ra nằm trên giừng bệnh chờ chết đói. Được cha đem kinh nghiệm "làm chó săn sướng lắm" ra thuyết giảng và chỉ điểm cho THÀNH biết được "hướng cửa sinh" để tìm lối ra mưu cầu sự sống vinh thân phì gia cho cả gia đình và giòng họ, HỒ chí Minh (dưới tên NGUYỄN TẤT THÀNH) tìm đường sang PHÁP; bất chấp mọi sự ô nhục, kể cả chuyện làm chó. Chuyện sau đây là chuyện có thật mà chính đảng VGCS hãnh diện coi như đỉnh cao hào quang thông minh và sáng tạo cuả HỒ CHÍ MINH, mục đích để chiếm được cảm tình cuả mấy cậu bồi anh bếp trên chuyến tầu đi Pháp, gặp lúc bão tố, con tần nghiêng ngưả, anh THÀNH đã.... bò xuống làm chó, cột rổ rau vào bụng đi rưả....Nhờ thế, các thực khách có được bữa ăn bằng rau tươi giữa trùng dương tưởng chừng như không thể nào thực hiện được! Chuyện tha phương cầu.... quan việt gian cuả Hồ được chính những hành động cụ thể cuả HỒ tố cáo cho hành động bỉ ổi cuả y: sang Pháp, HỒ Chí MINH chưa đi "làm cách mạng" ngay mà lo.... "trả thù dân tộc" trước nhất (a), sau đó xin nhà nước TÂY phục hồi quan chức cho cha y và cuối cùng thì xin cho.... chính y được đặc cách theo học trương dạy chó săn, sau này ra làm quan ở nước VN nô lệ (b). Vì biết bộ mặt thực về tư cách và nhân phẩm cuả HỒ, các cưả chui vào để được sống trong hàng ngũ chó săn cho Pháp đều bị bịt kín, HỒ Chí Minh sang NGA, được những tay đao phủ sát nhân đệ nhất thế giới ở điện CẨM LINH tuyển chọn, Hồ như diều gặp gió. Như thế, qua chính tiểu sử cuả đảng VGCS, HỒ CHÍ MINH là "tài nguyên... qủy cuả đất nước" nhưng lại là "tài nguyên qúy cuả thực dân đỏ"; vì thế cả thế giới đỏ xúm lại, tên thổi, tên vuốt, tên vẽ, tên tắm rửa; từ một tên.... chó bò ở sàn tầu thủy cuả Pháp thành một BỒ TÁT ở VN Quốc Tự ở Bình Dương và là một thứ BÒ...TÁP cuả nhân dân Việt Nam. Trong khi đó, về phiá chúng ta, nhân dân VN yêu nước, nếu may mắn có được một tài nguyên qúy nào thì chính những hạng "sâu bọ nhảy lên làm người" nằm vùng trong chúng ta nhảy ra kẻ thì phun máu, người thì sơn cứt. "lãnh đạo" cuả giai cấp này gồm bộ Bốn, không phải là "tứ qúy" mà là "TỨ BỌ": - BỌ HUNG, tiến sĩ TRẦN CHUNG NGỌC - BỌ CHÓ, Giáo sư Sử nô NGUYỄN MẠNH QUANG - BỌ XÍT, gia nô bế gà chọi cuả Tướng KỲ, VÕ LONG TRIỀU - BỌ NGỰA, "bác sĩ, Tiến sĩ ?' NGUYỄN THỊ THANH THỦM. Theo đẳng cấp cuả thế gian, đã có bọ cha thì phải có bầu đoàn thê tử bọ con, lúc nhúc như đàn dòi ở những nơi phế thải mà tạo hoá dành cho chúng. Vì bài này giới hạn trong chủ đề "bảo vệ tài nguyên đất nước" nên những con bọ khác được tôi tạm tha mà chỉ hài đích danh hai kẻ mang danh TUẤN PHAN và HỒ CÔNG TÂM; những tên "theo nghiệp cuả loại tứ bọ" trên xúm vào.... cắn, bề Tiến sĩ MAI THANH TRUYẾT; theo đúng chính sách HỒ CHÍ MINH, hàng năm chục năm trước diệt hết những tài nguyên qúy để đến nỗi dưới gông cùm cộng sản, 83 triệu dân mà tài nguyên qúy chỉ loáng thoáng có năm, ba! Khởi đầu chiến dịch triệt hại TS MAI THANH TRUYẾT, ban đầu thì là một cặp; y như cặp ôm bom ba càng công phá thành trì cuả tướng NGUYỄN VĂN CHỨC là HCTâm và TPhan; nhưng rút kinh nghiệm trận thảm bại trước, vì đã nếm mùi.... máu xương cuả tôi; khởi đầu khi cùng hô có tiếng cuả cả hai tên đặc công trên mạng; nhưng hô xong tiếng "XUNG" thi thấy bóng dáng tôi nên HCT tắt tiếng, nghẹn ngào như.... gà nuốt dây thung, còn có TUẤN PHAN lấy hết công lực hô nốt tiếng "PHONG"!. Xáp chiến, mới trao đổi được hai chiêu thì TUẤN PHAN tháo chạy vô điều kiện....(c) Trong mục đích lớn "bảo vệ tài nguyên đất nước" , Tiến sĩ MAI THANH TRUYẾT chỉ là trường hợp cá nhân được chọn nêu ra làm một biểu tượng, tượng trưng cho mục đích cao thượng bảo vệ cho các khoa học gia -toàn ngành, không phân biệt nam nữ- đứng vững nơi vị trí mà trời đã dành cho họ để đóng góp vào sự phát triển văn minh cho nhân loại. Hai đối tượng HỒ CÔNG TÂM và TUẤN PHAN đã kẻ trước người sau "đi" rồi, tôi cần có thì giờ nhằm vào những đối tượng khác như NÔNG ĐỨC MẠNH, NGUYỄN MINH TRIẾT, NGUYỄN TẤN DŨNG v... v... nên loạt bài này ngừng ở đây; nhưng hậu chấn cuả nó, loạt bài "ĐỐI THOẠI - ĐỐI THỤI" ,vẫn còn dư âm nên còn tiếp tục! Colmar ngày 3 - 4 - 2010 NHỮ - VĂN - ÚY

Saturday, March 23, 2024

Ngày 24/3 là ngày tưởng niệm Cụ Phan Chu Trinh Cụ Phan Châu Trinh, (sinh năm 1872, Tây Lộc, tỉnh Quảng Nam, Việt Nam - mất ngày 24 tháng 3 năm 1926, Sài Gòn), nhà lãnh đạo và nhà cải cách theo chủ nghĩa dân tộc và quyền công dân (popular rights), người đóng vai trò quan trọng trong phong trào giành độc lập của Việt Nam và là người đề xướng hàng đầu chương trình cải cách tham gia vào mục tiêu trục xuất người Pháp và tái cơ cấu xã hội Việt Nam. Trong suốt cuộc đời của mình, ông luôn ủng hộ cách tiếp cận ôn hòa và cầu xin sự tiến bộ dần dần trong hệ thống thuộc địa của Pháp. Nhờ tiếp xúc với văn học cải cách Trung Quốc thông qua tân thư(sách mới) và tân văn(tạp chí mới), Phan đã đặt ưu tiên hàng đầu cho việc thúc đẩy dân chủ và quyền công dân cũng như cải thiện mức sống của người dân Việt Nam (Việt, Dân sinh) được khai triển qua ba mục tiêu: Khai Dân trí – Chấn Dân khí – Hậu Dân sinh. Thân mời bà Con đọc bài viết của Trần Long Vỹ dưới đây: *** Phan Châu Trinh đã cổ xúy dân quyền như thế nào? Phan Châu Trinh là một nhà lãnh đạo của phong trào dân quyền Việt Nam đầu thế kỷ 20. Hôm nay, những thứ chúng ta đang có, như chữ viết, đã được Phan Châu Trinh cùng phong trào Duy Tân khi đó cổ xuý và phổ biến. Phong trào Duy Tân không đơn giản là hô hào đòi dân quyền mà là một quyết tâm cải cách toàn diện, làm Mới Con Người, làm Mới Xã Hội. Tiến sĩ Bùi Trân Phượng nhận xét: “Một điều đáng khâm phục là thế hệ sĩ phu đầu thế kỷ được đào tạo trong tinh thần nho học, theo tinh thần khoa bảng nhưng hiểu ra rằng phải có cuộc canh tân về giáo dục ở bề sâu. Hiểu ra rằng Việt Nam là một bộ phận của thế giới bao la chứ không chỉ là thế giới Hán hóa”. Luật Khoa xin giới thiệu bài viết về cuộc đời của Phan Châu Trinh gắn với phong trào Duy Tân. Xin mượn lời của cố học giả Nguyễn Văn Xuân để mở đầu cho bài viết: “Duy Tân đối với chúng ta không mới mà nhất định chưa cũ. Đó là vấn đề ngày nay, ngày mai. Chúng ta còn phải học người xưa rất nhiều để thực hiện một cuộc Duy Tân vừa toàn bộ, vừa không xa rời Dân tộc tính, Nhân bản tính”. Bài viết sử dụng nhiều tư liệu từ cuốn sách “Phong trào Duy Tân” do cố học giả Nguyễn Văn Xuân biên soạn và xuất bản năm 1970. Chân dung Phan Châu Trinh. Ảnh: Chưa rõ nguồn. Phan Châu Trinh sinh năm 1873 tại Tây Lộc, Tam Kỳ, Quảng Nam. Ông mất mẹ năm 6 tuổi và mất cha năm 13 tuổi. Cha ông là Phan Văn Bình, quản lý đồn điền và tiếp tế cho phong trào Cần Vương, một phong trào chống Pháp thời đó. Lớn lên ông được dạy võ, học bắn súng tạo nên bản lĩnh vững vàng của một chiến sĩ trước khi thành văn sĩ. Ông là người nhiều tình cảm tuy rất nóng tính và khi tranh luận thì không bao giờ thiếu lý lẽ. Bản tính chống bất bình cá nhân của ông là bước căn bản để chống bất bình xã hội. Thơ văn của Phan Châu Trinh gắn liền với đời sống nhân dân, thương kẻ nghèo, phê phán xã hội, ví dụ: “Thịt chuột thì ít, con nít thì nhiều”, “Lấy chi mà trả cái ân, lấy chi nạp cống ngân cho làng”, “nghênh ngang như làng không ông xã”. Quan lại triều Nguyễn. Ảnh: Chưa rõ nguồn. Phan Châu Trinh thi đỗ cử nhân năm 1900, đỗ Phó bảng năm 1901 rồi ra làm Thừa biện Bộ Lễ cho triều đình Huế. Trước đó, ông đã quen thân với Huỳnh Thúc Kháng và Trần Quý Cáp vì cùng là bạn học, cũng chính hai người này đã đẩy Duy Tân thành một đại phong trào. Ra làm quan tại Huế, ông được tiếp xúc với nhiều tân thư từ Trung Hoa đưa sang như tư tưởng cách mạng của Lương Khải Siêu, Khang Hữu Vi hay các tư tưởng phương Tây của Rousseau, Montesquieu, Voltaire,… Những tân thư này đã góp phần hình thành tư tưởng dân quyền của ông. Dân quyền lúc này là một ý tưởng cực kỳ mới. Phan Châu Trinh muốn vượt lên ý thức hệ cũ, đẩy vua quan vào hậu trường, đẩy Nho giáo vào tàng viện, đặt dân quyền lên ngai vàng, tức là ông muốn chấm dứt quan hệ văn hóa với nước Tàu, tiếp thu văn hóa Tây phương và thay đổi giáo dục, tập quán sinh hoạt của một xã hội còn tối ngòm. Ông cho rằng: “Cái độc tài, chuyên chế cùng cái hủ nho của ta, đã thành chứng bệnh bất trị mà học thuyết tự do dân quyền Âu Tây chính là vị thuộc đắng đầu chữa bệnh đó.” Phan Bội Châu (phải) và Kỳ ngoại hầu Cường Để. Ảnh: Báo Tiền Phong. Năm 1904, Phan Châu Trinh từ quan về Quảng Nam và lần đầu gặp Phan Bội Châu. Lúc này, Sào Nam (tức Phan Bội Châu) đến Quảng Nam để thành lập Hội Quang Phục, một hội bạo động để đánh đuổi Pháp, xây dựng chế độ quân chủ lập hiến. Hội bầu Cường Để là cháu đích tôn 4 đời của vua Gia Long làm hội chủ. Tuy có cùng mục đích nhưng cách thức của hai ông trái ngược nhau. Đối với Phan Bội Châu thì sao cũng được, ai cũng tạm được, chỉ cần khôi phục quốc gia là được. Nhưng đối với Phan Châu Trinh phải là học thuyết, chủ trương, đường lối, phải là quảng đại quần chúng. Sau lần gặp đó, Phan Bội Châu đi Trung Quốc rồi sang Nhật để gặp các nhà cách mạng giúp đỡ cho Hội Quang Phục, mặt khác đưa học sinh sang Nhật và sáng tác văn thơ đả kích chính phủ Pháp. Phan Châu Trinh cùng Huỳnh Thúc Kháng và Trần Quý Cáp đi vào Nam để nắm tình hình và kết nối các nhân sĩ Nam kỳ. Lúc này Phong trào Duy Tân manh nha bắt đầu. Một bao thư in hình Phan Châu Trinh và Phan Bội Châu. Ảnh: Chưa rõ nguồn. Sau khi Nam tiến về, Phan Châu Trinh đọc sách của Phan Bội Châu gửi về từ Nhật, có chỗ đồng ý có chỗ phản đối. Ông thấy cần gặp Sào Nam (Phan Bội Châu) để hỏi cho rõ, đồng thời cũng muốn hiểu rõ về mưu đồ của Nhật. Trước lúc sang Nhật, Phan Châu Trinh ra Bắc để bàn kế duy tân với Lương Văn Can, Đào Nguyên Phổ, rồi vào Nghệ Tĩnh gặp Ngô Đức Kế, lúc này là lãnh đạo của phong trào Duy Tân tại Nghệ Tĩnh. Sau đó ông thuyết phục Hoàng Hoa Thám về tình thế hiện tại khó có thể bạo động nhưng bất thành. Phan Châu Trinh gặp Sào Nam ở Nhật vào tháng 4/1906 nhưng ông sớm trở về nước do đường hướng hoạt động trái ngược nhau. Phan Châu Trinh muốn dựa vào thế mạnh của Pháp vứt bỏ quân chủ, tuyên bố dân quyền, khi dân đã có quyền thì chuyện gì cũng làm được kể cả đánh Pháp, còn trông vào nước Nhật là hy vọng viển vông. Ngược lại, đối với Sào Nam thì lợi dụng quân chủ để đánh Pháp, nước nhà độc lập rồi mới bàn đến việc khác. Riêng chỉ có chuyện đưa du học sinh sang Nhật là Phan Châu Trinh ủng hộ. Kể từ đó, xuất hiện từ hai luồng tư tưởng trái ngược nhau, hai tổ chức đối lập. Ba năm sau, Nhật cấu kết với Pháp ra lệnh trục xuất du học sinh, Cường Để và Phan Bội Châu về nước. Phong trào Đông Du tan rã. Trường thi triều Nguyễn, năm 1895. Ảnh: Le Perit Journal. Sau khi về nước, Phan Châu Trinh đi diễn thuyết khắp nơi, chủ yếu là nói về sự viển vông khi nhờ Nhật giúp đỡ, ông nói : “Người mình không khai dân trí, liên lạc đoàn thể để làm cơ sở mà chỉ ngồi trông người ngoài: cái bệnh dục tốc kiến tiểu (muốn cho nhanh để đạt được mục tiêu), không ích gì mà lại có hại”. Ông quyết định liên lạc với chính quyền Pháp để công khai và hợp pháp hóa tư tưởng và hoạt động của phe mình. Tháng 8/1906, ông viết “Đầu Pháp chính phủ thư”, được xem như tuyên ngôn của phong trào Duy Tân. Bức thư gây tiếng vang lớn, nêu lên nỗi cùng cực của dân nghèo, thực dân dung túng quan lại, quan lại thì ức hiếp nhân dân, đẩy nhân dân vào bước đường cùng “tát hết nước mà bắt cá”. Ông cũng nêu cách giải quyết rành mạch: trọng dụng nhân tài, quan lại thưởng phạt rõ ràng, mở đường sinh nhai cho dân nghèo, mở rộng báo chí, bỏ khoa cử, cải cách pháp luật, thuế má và giáo dục. Những cải cách đó không trông cậy mỗi vào Pháp, phong trào Duy Tân đã tự gánh vác, nhân sĩ khắp miền cùng bắt tay thực hiện. Công ty Liên Thành, thành lập năm 1906. Ảnh: Wikipedia. Như vậy, năm 1906, phong trào Duy Tân được phát động không chỉ trong Quảng Nam mà ra cả Trung Nam Việt. Khí thế của phong trào đã lên, tư tưởng, chí hướng và phương pháp đã có, các nhân sĩ tự gánh vác công việc nhưng vẫn có liên kết. Nhiều tổ chức được thành lập như thương hội, nông hội, trường học, hội mặc đồ tây, hội diễn thuyết… Một đợt sóng phong trào dân sự cấp tiến nở rộ. Nổi tiếng khi đó có bài ca “Khuyến học” của Trần Quý Cáp, tóm tắt phần lớn tư tưởng Duy Tân: (1) xây dựng một nền giáo dục toàn diện, học đúng đường để làm rạng danh dân tộc; (2) thế giới mạnh thắng, yếu thua, nước muốn mạnh phải giàu, đạt được giàu mạnh phải khôn, khôn là từ học mà ra; (3) dùng chữ quốc ngữ để phổ cập dân chúng; (4) phải biên dịch sách để mở mang đầu óc; (5) hiệp thương, hùn vốn mở công ty để tự thân tự lực. Thương hội là bộ mặt rất nổi của Duy Tân. Bấy giờ nhân sĩ đứng ra buôn bán là một điều mới mẻ, vì sĩ phu thường coi khinh tiền bạc. Công việc kinh doanh vào tận miền trong rồi ra miền ngoài. Nhân sĩ coi đó là quốc thương, đóng tiền lời của thương hội để phát triển giáo dục và xã hội. Liên Thành là một công ty do Phan Châu Trinh và Nguyễn Trọng Lợi sáng lập, thương hiệu còn tồn tại đến ngày nay, ngoài ra còn có Hồng Tân Hưng, Minh Tân khách sạn ở Sài Gòn, Tân Hợp Long ở Long Xuyên… Lớp nữ sinh Trường Đông Kinh Nghĩa Thục. Ảnh: Chưa rõ nguồn. Phan Châu Trinh rất có tài diễn thuyết, mỗi lần diễn thuyết dân chúng kéo đến xem rất đông. Hội diễn thuyết là do Phan Châu Trinh lập, không chỉ để truyền bá tư tưởng dân quyền mà còn để kêu gọi quốc dân hưởng ứng nền tân học, học pháp văn, chữ quốc ngữ, xã hội đông tây, kinh tế, địa lý và trở thành con người hữu dụng. Nhiều trường lớn được lập ra như Diên Phong, Phước Bình, Phú Lâm, Quảng Phước… Người dạy đều tự lực cánh sinh, không có lương bổng, trường học thiếu thốn vậy mà rất nhiều người tìm đến học. Phong trào Duy Tân đã để lại một cải cách lớn trong giáo dục Việt Nam. Các trường được lập ra nhằm đào tạo người có tư tưởng, yêu nước, mở trí não để làm ra của cải, giáo dục lý thuyết lẫn thực hành gắn chặt với đời sống nông nghiệp. Nhà trường không chỉ đào tạo trí thức, mà còn đào tạo tính khí, nhân cách và lý tưởng. Trường học còn được mở rộng ra các miền khác nhau, điển hình có Đông Kinh Nghĩa Thục ở Hà Nội, vốn có thanh thế rất lớn do được tập trung đầu tư, nhiều lãnh tụ tham gia và khoảng 700 học sinh theo học. Lập Đông Kinh Nghĩa Thục cũng là ý của Phan Châu Trinh để giải tỏa áp lực cho các tỉnh trung kỳ. Có thể nói mô hình giáo dục của phong trào Duy Tân khá toàn diện. Cảnh cúp tóc. Ảnh: Chưa rõ nguồn. Bên cạnh giáo dục, phong trào còn xóa bỏ những sinh hoạt lạc hậu, cản trở hoạt động như để móng tay dài, quần áo luộm thuộm, ăn trầu. Tuy nhiên, cắt tóc là việc làm trước tiên, mà trước hết là các nhà nho là người đi đầu với bộ tóc ngắn, gây xúc động mạnh mẽ và có những ảnh hưởng rất tốt. Thời đó, phong trào cắt tóc đang lên. Tóc ngắn là dấu hiệu của những người theo tư tưởng mới. Nhiều thanh niên sắm cho mình một cái kéo, đi tuyên truyền và vận động cắt tóc, vừa cắt tóc vừa đọc vè: Cúp hề! cúp hề! Tay mặt cầm kéo, tay trái cầm lược Đũng đĩnh cho khéo Bỏ cái ngu mày, bỏ cái dại mày Học theo người Tây Hãy còn ăn mặn, hãy còn nói láo Phen này ta cúp, phen này ta cạo Học sinh trường làng còng lưng viết chữ Hán. Ảnh: Chưa rõ nguồn. Các nhà Duy Tân còn phải tập nhiều thói quen mới từ việc bỏ mặc cái áo dài lượt thượt sang mặc đồ Tây. Phan Châu Trinh có lẽ là nhà nho mặc đồ Tây đầu tiên đến nổi thành mốt; cạo trắng răng; bỏ tục ăn trầu phun nhổ kém vệ sinh; tập cầm bút sắt khác với bút lông; ngồi bàn viết thay còng lưng trên phản; tập đi giày, thắt cà vạt; tập tranh luận có phương pháp; tập bắt tay; lập tổ chức mới phải có chủ trương, phân công và tổ chức rõ ràng. Phổ biến chữ quốc ngữ là công việc có ý nghĩa lớn lao nhưng cũng lắm gian nan. Sự ảnh hưởng của nho học lúc này còn lớn, chữ quốc ngữ lại mang dáng dấp phương Tây nên bị nhiều người nguyền rủa, tẩy chay. Lợi thế của chữ quốc ngữ là học nhanh, lại dùng tiếng Việt để suy luận rồi viết nên nhanh hơn, thích hợp để phổ cập cho quần chúng, còn chữ Hán phải mất 8, 9 năm mới hiểu được. Từ những con người trì trệ, kiểu cách, khinh đời, nhà nho mới trở nên linh hoạt, tự nhiên, gần gũi với nhân dân. Vậy là đã xuất hiện một thành phần nhà nho cấp tiến muốn đoạn tuyệt, muốn rời bỏ quá khứ, bỏ cái thói giáo điều. Họp chợ quê ở Phú Yên năm 1905. Ảnh: Chưa rõ nguồn. Tháng giêng năm 1908, dân biến bắt đầu phát ra ở Đại Lộc, Quảng Nam do tri huyện dùng sưu thuế hà hiếp dân nghèo. Dân nghèo các xã được lấy chữ ký xin giảm thuế, rồi đến gặp tri huyện nhờ trình lên tỉnh. Tri huyện lúc này hoảng sợ bỏ chạy lên tỉnh rồi lên Tòa công sứ Pháp ở Hội An. Dân ùn ùn kéo nhau lên Tòa công sứ, ngồi lỳ không đi. Đất Hội An là nơi buôn bán, tin tức truyền đi khắp nơi, tin giả sẽ được miễn thuế cho xã này xã kia lan ra, thành thử dân chúng kéo đến ngày một đông. Ai đi xin xâu (sưu) cũng cắt tóc ngắn, trở thành một dấu hiệu của phong trào. Hoạt động của nhân dân rất có tổ chức. Hết lớp này tọa kháng xong về nghỉ, lại đến lớp khác đến thay, được tiếp tế cơm nước nên ngày càng dai dẳng. “Cơm đùm, cơm gói xuống nha/Rủ nhau kéo hết xuống tòa xin xâu”. Theo Phan Châu Trinh có ngày lên đến 6.000 người, có bài văn tế ghi là 8.000 người, là con số kỷ lục thời ấy vì dân cư còn thưa thớt. Ông Ích Đường một trong nhiều lãnh đạo nhóm dân trong dân biến tại Quảng Nam. Ảnh: Chưa rõ nguồn. Tin dân Quảng cúp tóc xin xâu lan đi khắp nơi từ Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên đến Nam Định, Nghệ An, Thanh Hóa. Đâu đâu cũng có cúp tóc xin xâu, rồi trở thành “dân biến kháng thuế”. Đụng vào sưu thuế là đụng vào nồi cơm của Pháp. Thực dân ra tay đàn áp khốc liệt, đoàn người xin xâu tan vỡ, lệnh giới nghiêm được ban hành. Thời kỳ khủng bố trắng bắt đầu. Dân biến kháng thuế là thành tựu lớn nhất của phong trào Duy Tân, là khi tư tưởng dân quyền của phong trào đã phổ biến và tác động rộng rãi trong dân chúng. Tư tưởng dân quyền đã soi sáng người dân. Nhưng tư tưởng để làm gì khi phải è cổ ra đóng thuế, nên dân phải trỗi dậy thực hành cái dân quyền của mình. Dân chỉ van xin gào thét, thỉnh cầu, đày đọa thân xác chứ nhất định không bạo động. Phan Châu Trinh đã nói: “bạo động tất tử”. Tuy các nhà lãnh đạo phong trào Duy Tân không lãnh đạo trực tiếp “cắt tóc xin xâu” nhưng các cụ là người chủ trương về chiến lược. Các sĩ dân đã hành động quá tích cực, vượt khỏi dự liệu của những người chủ trương. Phan Châu Trinh 37 tuổi, lúc mới ra tù tại Côn Đảo. Ảnh: Chưa rõ nguồn. Sau dân biến tháng 4 năm 1908, Pháp thẳng tay đàn áp, bắn, chém dân và giam các sĩ phu, dùng mọi phương cách để tiêu diệt lực lượng mới nổi này. Các lãnh đạo của phong trào Duy Tân mặc dù không trực tiếp điều hành nhưng đều bị liên lụy. Huỳnh Thúc Kháng bị bắt, Trần Quý Cáp bị xử tử. Phan Châu Trinh cũng bị bắt từ Hà Nội đưa về Huế (4/1908) nhưng do đối đáp rành mạch, lại có sự sự bảo hộ của Hội Nhân quyền nên chỉ bị đày đi Côn Lôn. Trang sử của phong trào đến đây tạm kết thúc. Xin mượn lời của học giả Nguyễn Văn Xuân để kết lại phong trào Duy Tân: “Những kẻ, những tổ chức rành rỗi về chính trị không sợ những cá nhân dù cá nhân ấy tài giỏi tới đâu. Họ không sợ những trí thức dù trí thức ấy ồn ào, la hét om sòm gây xúc động. Nhưng họ rất sợ quần chúng khi quần chúng đứng lên. Và nhất là quần chúng có lãnh đạo, có tổ chức, có sách lược tranh đấu, có mục tiêu hướng tới”. Phan Châu Trinh và con trai Phan Châu D¬ật tại Pháp. Ảnh: Tư liệu gia đình. Hai năm sau khi Phan Châu Trinh bị đày đi Côn Đảo, Hội Nhân quyền Pháp đã can thiệp để ông được tự do, nhưng ông bị giam lỏng ở Mỹ Tho. Không chịu cảnh mất tự do, ông viết thư cho Toàn quyền Đông Dương yêu cầu một là được sang Pháp, hai là trở lại Côn Đảo. Năm 1911, chính quyền Đông Dương cho Phan Châu Trinh sang Pháp cùng con trai là Phan Châu Dật. Sang Pháp, ông ở nhà luật sư Phan Văn Trường, tiếp tục tranh đấu cho dân quyền. Ông gặp gỡ, thảo luận với Kiều bào và cả người Pháp ủng hộ tự do, dân chủ. Cũng vì thế, chính quyền Pháp cắt trợ cấp của ông và học bổng của con trai. Phan Châu Trinh tin rằng muốn tự do tư tưởng thì phải tránh lệ thuộc vào kinh tế, nên ông sinh sống bằng nghề rửa ảnh. Cuộc sống ở Pháp tuy vất vả nhưng chí khí của ông vẫn không giảm. Năm 1914, ông bị bắt giam do nghi ngờ dính líu đến Đức nhưng sau đó được đảng Xã hội Pháp can thiệp nên được thả. Trong thời gian này, Phan Châu Trinh đã gặp gỡ Nguyễn Tất Thành và thành lập Hội người Việt yêu nước tại Pháp. Ông luôn tận dụng cơ hội để tranh đấu cho người dân trong nước. Năm 1919, ông cùng với Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền và Nguyễn Tất Thành soạn “Bản Yêu sách của nhân dân An Nam” gửi cho Hội nghị Versailles, ký tên chung là Nguyễn Ái Quốc. Năm 1920, ông hội kiến với Bộ trưởng Bộ Thuộc địa của Pháp đòi cải cách chính trị Đông Dương. Khi vua Khải Định sang Pháp, Phan Châu Trinh đã viết “Thất điếu thư”, 7 điều buộc tội Khải Định và khuyên vua về nước để không làm nhục quốc gia. Đám tang Phan Châu Trinh tại Sài Gòn năm 1926. Ảnh: Chưa rõ nguồn. Đến cuối tháng 5 năm 1925, Phan Châu Trinh cùng nhà cách mạng trẻ Nguyễn An Ninh xuống tàu rời nước Pháp về lại Sài Gòn. Ông Ninh đưa Phan Châu Trinh về khách sạn của cha mình là Chiêu Nam Lâu để tá túc, gần với phố Nguyễn Huệ bây giờ. Không lâu sau, cụ rời Sài Gòn về Mỹ Hòa, Hoóc Môn, nhà của cha Nguyễn An Ninh, để tiện đón tiếp bạn bè và chữa bệnh. Mặc dù sức yếu, nhưng ông vẫn diễn thuyết thêm hai đề tài là Đạo đức và Luân lý Đông tây, Quân trị chủ nghĩa và dân trị chủ nghĩa, làm thức tỉnh nhiều người trẻ tại Sài Gòn. Ngày 24 tháng 3 năm 1926, Nguyễn An Ninh bị bắt tại nhà. Đêm hôm đó lúc 9 giờ 30, Phan Châu Trinh qua đời tại Chiêu Nam Lâu khi vừa mới 53 tuổi. Đám tang của ông được cử hành tại Sài Gòn. Hơn 60.000 người đã đến dự và lễ truy điệu được các sĩ phu tổ chức khắp cả nước. “Đám tang cụ Phan Châu Trinh từ đây đi đến nghĩa địa Gò Công là sự bày tỏ tâm tư, ước vọng lớn nhất về đất nước, cuộc sống xã hội của người Việt Nam ở Sài Gòn, một đám tang khổng lồ với lượng người đi rước, các cửa tiệm của người Việt ở Sài Gòn – Chợ Lớn đều đóng cửa, mà báo chí Pháp nói ngày đó là ngày Việt Nam thức tỉnh”. (*) * Bài có sử dụng ảnh bìa của Tủ sách Nền Tảng Đổi Đời, có chỉnh sửa. Tài liệu tham khảo: 1. Phong trào Duy Tân (Nguyễn Văn Xuân, NXB Lá Bối) 2. Phan Châu Trinh và cuộc đời cách mạng (Báo Đà Nẵng) 3. Cụ Phan Châu Trinh và Phong trào Duy Tân (RFA) (*). Sài Gòn – Chợ Lớn: Ký ức đô thị và con người (Nguyễn Đức Hiệp, NXB Văn hóa – Nghệ thuật)