Sunday, June 7, 2026

 Chuyện Thường Ngày trên Radio VVA 1600AM

do Liên Bích biên soạn

Wabi sabi – Triết Lý Của Sự Bất Toàn

 


Liên Bích 1: Chương trình Chuyện Đời Thương hôm nay xin nói về một đề tài đặc biệt. Hôm nay LB muốn mới TS MTT chuyển mục và nói về một triết lý đặc biệt của người Nhựt. Đó là Wabi-sabi, một triết lý của sự bất toàn. Wabi Sabi chỉ là một loại triết lý về Thiền Đạo Nhật về tính phù du của đời người. Thưa anh, người Nhật vốn có một nền văn hóa lâu đời và khá đa dạng. Họ chịu ảnh hưởng của Khổng giáo nhiều nhất qua tính kỷ cương và tôn trọng chữ tín cũng như danh dự. Họ cũng chịu ảnh hưởng bởi Thiền Tông Phật Giáo trong mỹ thuật và thi ca. Cả Lão Trang và Thiên Chúa Giáo ngày nay đều hiện diện trong tâm linh người Nhật. Nó chẳng phải là chuộng sự bất toàn như nhiều người Việt nhầm lẫn. Nó nhằm thực tập tính trong sạch và đơn tự nhiên của tạo hóa. Cũng như nét đẹp cũ kỹ hay hao mòn của vật thể chung quanh ta.

Từ thuở xa xưa cho đến thời đại kỹ thuật số hôm nay, con người luôn bị cuốn hút bởi ý tưởng về sự hoàn hảo. Chúng ta muốn một thân thể khỏe mạnh không tỳ vết, một khuôn mặt trẻ đẹp không nếp nhăn, một sự nghiệp không thất bại, một xã hội vận hành trơn tru và một đời sống không khổ đau. Trong nhiều nền văn minh, cái đẹp thường được đồng hóa với sự đối xứng, toàn bích và bền vững.


Tinh thần ấy đặc biệt rõ trong mỹ học cổ điển phương Tây. Từ nghệ thuật Hy Lạp cổ đại đến thời Phục Hưng, vẻ đẹp lý tưởng thường được diễn tả qua tỷ lệ chính xác, hình thể cân đối và sự hoàn mỹ của đường nét. Con người cố gắng vượt thắng giới hạn của thiên nhiên để tiến gần hơn tới mẫu hình hoàn hảo. Thưa TS MTT, anh thấy những điều LB vừa chia sẻ như thế nào?

MTT1: Thưa Cô LB, thưa Quý thính giả của Radio VVA. Tinh thần ấy không sai. Chính nó đã thúc đẩy khoa học, kỹ thuật và nghệ thuật phát triển. Không có khát vọng hoàn thiện, sẽ khó có những tiến bộ lớn trong y học, kiến trúc hay giáo dục. Nhưng cùng với mặt tích cực, lý tưởng hoàn hảo cũng để lại nhiều hệ lụy là trong xã hội hiện đại, đặc biệt dưới ảnh hưởng của kinh tế tiêu thụ và mạng xã hội, sự hoàn hảo dần trở thành một áp lực tâm lý. Người ta không chỉ muốn sống tốt mà còn phải “trình diễn” một đời sống lý tưởng trước mắt người khác.

Hình ảnh trên mạng thường là: một nụ cười hoàn hảo, gia đình hoàn hảo, thành công hoàn hảo, thân thể hoàn hảo. Con người dần trở thành một dự án phải liên tục chỉnh sửa. Điều nghịch lý là càng theo đuổi hình ảnh hoàn hảo, người ta càng dễ bất an. Bởi đời sống thật vốn không vận hành theo logic của quảng cáo hay kỹ nghệ hình ảnh. Bệnh tật, tuổi già, mất mát và sai lầm vẫn hiện diện như những phần không thể tách rời của kiếp người.

Chính trong hoàn cảnh trên, văn hóa Nhật Bản đem đến một tiếng nói khác biệt,  thay vì chống lại sự bất toàn, hãy học cách nhận ra vẻ đẹp nằm ngay trong nó. Tiếng nói ấy mang tên Wabi-sabi. Đây không đơn thuần là một phong cách trang trí hay một khuynh hướng thẩm mỹ. Wabi-sabi là một cách nhìn thế giới, một thái độ trước đời sống và thời gian. Nếu nhiều nền văn minh tìm kiếm vẻ đẹp nơi cái hoàn mỹ và trường tồn, thì Wabi-sabi lại tìm thấy ý nghĩa trong cái dang dở, mong manh và đổi thay. Hay, nói một cách khác, Wabi-sabi không hỏi làm thế nào để đời sống hoàn hảo hơn, mà hỏi làm thế nào để con người sống bình an với sự không hoàn hảo vốn có của đời sống. Chính đó mới là một câu hỏi mang ý nghĩa triết học sâu xa đối với thế giới hôm nay.

LB2: Theo LB được biết, Wabi-sabi không xuất hiện như một học thuyết triết học có giáo điều hay kinh điển riêng biệt. Nó trưởng thành dần trong lịch sử văn hóa Nhật Bản, đặc biệt do ảnh hưởng của Thiền và tinh thần vô thường của Phật giáo. Để hiểu thêm về Wabi-sabi, anh Truyết có thể khai triển cho thính giả hiểu hai thành tố wabi và sabi như thế nào?


MTT2: Wabi sabi là một triết lý thẩm mỹ cổ xưa bắt nguồn từ Thiền tông, đặc biệt là trà đạo, một nghi lễ thuần khiết và đơn giản, trong đó các bậc thầy được đánh giá cao cái chén được làm thủ công và hình dạng bất thường, với men tráng không đồng đều, có nhiều vết nứt, và vẻ đẹp hư hỏng trong sự không hoàn hảo có chủ ý của của người tạo ra cái chén. Triết lý Nhật Bản tôn vinh vẻ đẹp trong những gì là tự nhiên, sai sót và tất cả những gì không hoàn chỉnh.

Wabi-Sabi là một thuật ngữ Nhật Bản có thể hiểu là sự chấp nhận tính phù du (transience) và sự không hoàn hảo. Đây là một phong cách sống giúp chúng ta cảm nhận và trân trọng vẻ đẹp của những thứ không hoàn hảo, không vĩnh viễn, không trọn vẹn và từ những thứ khiếm khuyết nầy, một thứ tưởng chừng vô dụng, xấu xí lại có vẻ đẹp tiềm ẩn đến bất ngờ. Nếu sự luôn đổi mới là trò chơi suốt cuộc đời bạn, việc theo đuổi sự hoàn hảo không phải là cách để đạt được điều đó. Chúng ta hãy xem xét vẻ đẹp của một cái chén bị móp méo rồi từ đó chúng ta sẽ nghiệm ra…cái đẹp!

Thưa cô LB,

Wabi, vẻ đẹp của sự thanh đạm, chữ wabi nguyên thủy mang ý nghĩa khá tiêu cực là sự cô quạnh, sự thiếu thốn, sống tách biệt với đời sống phồn hoa. Nhưng theo thời gian, nghĩa của nó được chuyển hóa. Sự cô tịch không còn bị xem là nghèo khổ tinh thần mà trở thành một hình thức tự do. “Wabi” dần chuyển hóa ra sự giản dị, thanh đạm, ít ham muốn, và tìm thấy đủ đầy trong những điều nhỏ bé.

Một túp lều giữa thiên nhiên, một bữa cơm đơn sơ hay một căn phòng không trang hoàng cầu kỳ đều có thể mang tinh thần wabi. Đây là một quan niệm rất khác với xã hội tiêu thụ ngày nay, nơi giá trị của con người thường được đo bằng số lượng sở hữu và mức độ phô bày thành đạt. Trong tinh thần wabi, sự giàu có không nhất thiết nằm ở cái có nhiều, mà ở khả năng thấy đủ. Điều này làm người ta nhớ tới tư tưởng của Lão giáo và Thiền, Biết đủ là giàu. Không phải ngẫu nhiên mà nhiều thiền viện Nhật Bản lại được xây dựng bằng vật liệu thô mộc và không tìm cách gây choáng ngợp. Không gian ấy không nhằm chứng minh quyền lực mà giúp tâm trí trở về trạng thái lặng yên.

Sabi, vẻ đẹp của thời gian, nếu wabi nói về sự giản dị thì sabi nói về thời gian. Nguyên nghĩa của sabi là cô tịch, lặng lẽ và già nua. Nhưng trong mỹ học Nhật, nó được hiểu tích cực hơn là vẻ đẹp phát sinh từ dấu ấn của thời gian. Một thân cây bạc màu, mái chùa phủ rêu, gỗ cũ đã mòn hay đồ gốm với lớp men rạn không bị xem là mất giá trị. Trái lại, chúng được trân trọng vì mang trong mình lịch sử tồn tại.                                                        

LB3: Khi con người chúng ta nhận định những “cái nhứt” như: cà phê tốt nhứt, xe tốt nhứt, điện thoại tốt nhứt, ứng dụng tốt nhứt, trường học tốt nhứt, bác sĩ giỏi nhứt, đầu bếp giỏi nhứt, công ty tốt nhứt, CEO giỏi nhứt, lực sĩ giỏi nhứt, huấn luyện viên giỏi nhứt, các nhà thiết kế tốt nhứt, diễn viên xuất sắc nhứt, phim hay nhứt, trang phục đẹp nhứt, nhà thiết kế tốt nhứt của trang phục đẹp nhứt, đạo diễn xuất sắc nhứt của những nữ diễn viên xuất sắc nhứt mặc trang phục đẹp nhứt và danh mục bắt mắt nhứt.v.v…Để làm nổi bật sự ngưỡng mộ của chúng ta về các sự “nhứt” trên, chúng ta tạo ra danh sách, viết lên banner và làm các nghi lễ để tưởng thưởng. v.v… như trải thảm đỏ, chuẩn bị giải thưởng và danh hiệu sáng bóng, làm giấy chứng nhận. Như vậy là có mâu thuẫn với tinh thần wabi-sabi không, anh T?

MTT3:  Đó là suy nghĩ của đời thường, và tinh thần wabi-sabi mang đến cho chúng ta một suy nghĩ khác. Tôi xin hỏi ngược lại, thực sự, những cái nhứt trên đã là “nhứt” chưa? Và phải chăng sẽ còn những cái nhứt tiếp theo khi có sự đổi mới do con người tạo ra. Và nơi hoàn hảo nhứt đối với sự đổi mới là gì?

Trong một thế giới hoàn hảo, những ý tưởng hay nhứt sẽ thu hút những người tốt nhứt. Nhưng, trong thực tế, chúng ta hiếm khi nghĩ đến những ý tưởng tốt nhứt đưa ta đến thành công. Thường xuyên hơn, sự đổi mới bắt đầu với những ý tưởng không hoàn hảo được kết hợp với nhau bởi một nhóm ý tưởng không giống nhau và đồng dạng. Tất cả có thể đưa đến cơ hội không hoàn hảo! Nếu chúng ta có một ý tưởng tuyệt vời – nhưng cần phải mất một thập niên để ý tưởng đó được chú ý đến. Đó là không hoàn hảo. Đổi mới không phải là một khoa học hoàn hảo và do đó không nên được thực hiện như thể nó là hoàn hảo.

Chúng ta cần các số liệu mới, các quy trình mới và các ưu đãi mới để khuyến khích việc theo đuổi và công nhận sự không hoàn hảo của cuộc sống thực tế. Nhưng trước khi chúng ta bắt đầu xây dựng các căn bản hạ tầng để hỗ trợ sự đổi mới, trước hết chúng ta phải thay đổi thế giới quan của mình. Chúng ta không chỉ phải thay đổi cách chúng ta nghĩ mà còn phải thay đổi những gì chúng ta tin. Chúng ta phải học cách chấp nhận sự không hoàn hảo như một tài sản trong quá trình đổi mới trong ta.

Trong nhiều xã hội hiện đại, cái mới thường được xem là tốt hơn cái cũ. Con người thay vật dụng liên tục để theo kịp thị trường. Nhưng sabi đặt ra một câu hỏi khác như:

Phải chăng vật càng sống lâu càng có linh hồn?

Dấu vết thời gian không chỉ là hao mòn; đó còn là ký ức.

Một chiếc bàn cũ có thể lưu giữ nhiều câu chuyện hơn một món đồ mới tinh từ nhà máy. Chính, tinh thần ấy giải thích vì sao người Nhật có khả năng gìn giữ nhiều công trình cổ và những vật dụng truyền đời với sự kính trọng gần như dành cho một sinh thể, thưa cô LB.

LB4: Trong cuộc sống và trong văn hóa Nhựt, "sự đơn giản" thường là hình thức bề ngoài cho một cuộc sống đã được tổ chức tỉ mỉ, tính toán cho sự hoàn hảo. Người Nhựt thường được dạy từ nhỏ trong gia đình, là cố gắng tối đa để làm cho tốt nhất, sáng nhất, và phi thường nhất. Một mặt khác, người Nhựt cũa khuyên ta đôi khi cũng cần … rời xa "hoàn hảo". Do đó, ý tưởng từ bỏ "hoàn hảo" và thậm chí "đủ tốt" (good enough) không thể cưỡng lại sự hấp dẫn trong cuộc sống, thí dụ như các dấu vân tay, vết sẹo trên thân thể và những đường “xếp” trên mặt khi chúng ta cười. Tất cả hoàn toàn không hoàn hảo, và mỗi người trong chúng ta đều có thể ngắm lấy vẻ đẹp không hoàn hảo trong đó. Anh T nghĩ sao ạ?

MTT4: Để tìm hiểu thêm về sự bất toàn trong wabi-sabi, chúng ta hãy nhìn về phía Đông. Wabi-sabi đại diện cho việc chấp nhận sự bất toàn (imperfection). Khái niệm này có nguồn gốc từ giáo lý Phật giáo và bao gồm việc công nhận sự bất đối xứng, bất thường và khiêm tốn như các thuộc tính của sắc đẹp tùy theo nhãn quan của mỗi người. Từ thế kỷ thứ 15, người Nhật cũng đã nghĩ ra một nghệ thuật tên là Kintsugi (hoặc Kintsukuroi), có nghĩa là "sửa chữa vàng". Nghệ thuật Nhật Bản sửa chữa đồ gốm bị phá vỡ với một sơn mài đặc biệt phủ bột vàng, bạc, hoặc bạch kim. Các đường nối vàng rực rỡ trong các vết nứt của đồ gốm, tạo ra một ngoại hình độc đáo cho các mảnh ghép.

Phương pháp sửa chữa bảo tồn kỷ niệm lịch sử độc đáo của mỗi tạo vật bằng cách nhấn mạnh sự "gãy xương" và sự bị phá vỡ của nó, thay vì che giấu hoặc ngụy trang những nét gãy. Kintsugi thường làm cho mảnh được sửa chữa thậm chí đẹp hơn bản gốc, làm sống lại nó với cuộc sống mới. Những kỹ thuật này họ học từ thiền học. Cái cũ và cái mới có thể sống chung với nhau để tạo nên cái gì đẹp hơn.

Trong một ý nghĩa rất thực tế, ý tưởng của wabi-sabi mời gọi người xem xét sự không hoàn hảo, một vết lõm trong một cái chén đồng hoặc một vết nứt trong một bình thủy tinh, hay những nét đổ nát qua thời gian của bức tượng Phật. Tất cả như là một vật thể có giá trị.


Ý tưởng ôm lấy sự không hoàn hảo hoàn toàn là cái nhìn ngược lại của chúng ta có trong thế giới Tây phương. Và như vậy, khi bạn chiêm nghiệm để tạo ra một nền văn hóa của sự đổi mới, để truyền cảm hứng cho những người tốt nhất và sáng nhất của bạn để đổi mới. Trước tiên bạn phải khuyến khích việc theo đuổi sự không hoàn hảo. Điều này không có nghĩa là chấp nhận thất bại. Nó có nghĩa là để nắm bắt học tập. Các nhà sáng tạo không có ý định thất bại từ ban đầu. Họ quyết định học hỏi, tìm tòi. Họ sử dụng sự không hoàn hảo như một phương tiện để kiểm tra các giả định của họ về những gì có thể. Và một ngày nào đó, họ sẽ có một sản phẩm hoàn hảo vào thời điểm đó.

Hãy suy nghĩ về màu sắc có trong tự nhiên như xanh, xám, tông màu đất và rỉ sét. Điều này tạo ra một bầu không khí yên bình và hài hòa. Wabi-sabi không có nghĩa là ôm lấy sự lộn xộn, mà là "có suy nghĩ và làm việc đằng sau nó, không bỏ bê." Một ấm trà tinh tế không thể tỏa sáng nếu nó được nằm trong một tủ chất chứa đầy nghẹt những những vật thể khác; mà là bạn phải cần chuẩn bị một không gian để bạn có thể cho nó đứng ở một chỗ riêng và thực sự đánh giá cao nó mỗi khi bạn đi qua đi lại. Mọi đồ vật trong nhà bạn phải đẹp, hữu ích, hoặc cả hai trong nghĩa wabi-sabi của bạn!

Sự chào đón sự không hoàn hảo này trong cuộc sống của bạn là trọng tâm của khái niệm wabi-sabi của Nhật Bản, có nghĩa là "vô thường, không hoàn hảo và không đầy đủ."  "Wabi" mô tả sự sáng tạo của vẻ đẹp hoàn hảo thông qua việc bao gồm các loại hoàn hảo đúng, chẳng hạn như một bất đối xứng trong một chén sứ thủ công (tương phản với độ chính xác của chén làm bằng máy). “Sabi” phản ánh loại vẻ đẹp phát triển theo độ tuổi, chẳng hạn như sự xuất hiện của quá trình oxy hóa bề mặt của một bức tượng đồng theo thời gian!

Thông thường, wabi-sabi được áp dụng cho các nguyên tắc thiết kế, chẳng hạn như tạo không gian sống để tránh các phòng khách trùng hợp với nhau vào những năm 1940 hoặc '50. Điều này bao gồm việc tập trung vào các vật dụng không đối xứng bạn sẽ tìm thấy trong tự nhiên như ghế bằng gỗ thủ công, sự rủ xuống tự nhiên của một cánh hoa khô trong một chiếc bình, hoặc một chiếc túi da mòn đã đi theo bạn trong suốt một thời gian dài trong tuổi thiếu niên v.v…

Nhưng không phải tất cả wabi-sabi đều có chủ ý. Thiên nhiên là nguồn tốt nhất của thẩm mỹ wabi-sabi. Và khi bạn hòa hợp với thế giới bên ngoài, bạn bắt đầu thấy wabi-sabi ở những nơi khó xảy ra nhất. Đó là:

·         Các vết nứt trong vỏ cây, một dấu hiệu của sự trưởng thành khỏe mạnh;

·         Hoặc các vết nứt cằn cỗi trên khuôn mặt của chúng ta khi chúng ta già đi;

·         Hoặc nét mặt rám nắng, tự tin khi chúng ta đạt được sự khôn ngoan trên suốt quảng đường dài;

Krishnamurti đi sâu hơn, nói rằng linh hồn chúng ta đều được cấu thành bằng cùng một loại giấy báo, xuất phát từ các nếp gấp trong bài báo và qua thời gian từ từ được gấp lại thành những nếp và khi mở ra, thì đó là những trải nghiệm của chính bạn trong suốt cuộc sống.

LB5: Những điều anh Truyết vừa nói trên nghe như là những lời của một thiền sư vậy, rất tiếc vì thời lượng có hạn, xin anh Truyết đúc kết cho thính giả của Radio VVA 1600 AM nghe những gì còn anh mà anh muốn chia xẻ trong câu chuyện triết lý của sự bất toàn wabi-sabi hôm nay.

MTT5: Thưa cô LB, có thể nói kết luận câu chuyện Wabi-sabi hôm nay trong đời thường là:” Nếu nói về sự 'không hoàn hảo' thì có thể lấy ngay trường hợp Việt Nam Cộng Hòa làm ví dụ là rất phù hợp. Miền Nam từng nức tiếng là Hòn Ngọc Viễn Đông tức là VNCH, một đất nước xinh đẹp, tự do, phồn thịnh rồi, phải không ạ? Trước khi bị CS cướp nước, cũng có nhiều điều tiếng này nọ chê bai, chỉ trích nền Tự do, Dân chủ và các vị lãnh đạo của Nước VNCH. Nhưng đến hôm nay, sau 51 năm nhìn lại, thì cũng chính các vị chê bai đấy, kể cả các vị từng 'Ăn cơm Quốc gia, thờ ma CS', thì hầu hết đều nhìn nhận  VNCH dù "không hoàn hảo" nhưng đã rất đẹp, rất Tự do, Dân chủ đấy sao??!!”

Người Nhật có một lý lẽ sống rất hay. Đó là Sá tịch, hay còn gọi là Wabi - sabi (わび・さび, 侘・寂), tức là Thô -Tịch, triết lý về việc đề cao sự không hoàn mỹ, tìm thú vui và sự an nhiên trong tình trạng không hoàn hảo, là khái niệm về sự bất đối xứng, sự thô ráp, sự lược giản hoá, sự cần kiệm, sự khắc khổ, sự khiêm nhường, sự thân thiện, và sự am tường tính nguyên vẹn đơn sơ mà cách tự nhiên và vạn vật vận hành.


Đó là triết lý để đi tìm nét đẹp (Mỹ) trong sự không hoàn hảo (Bất toàn), như việc họ không vứt bỏ cái ché bể, mà gắn những mảnh vỡ lại, coi những vết nứt đó là nét đẹp riêng mà những vật khác không thể có được. Họ hướng tới việc sử dụng những vật dụng tự nhiên, thô ráp, gồ ghề, giản đơn để cảm nhận cái đẹp của thiên nhiên.

Một sự tốt đẹp hoàn toàn, không một chút khiếm khuyết nào dù là nhỏ nhất, ta gọi cái đó là hoàn hảo. Về nguyên thủy, sự hoàn hảo không tồn tại. Có một sự thật là vạn vật, kể cả con người, dù có đang ở trạng thái tốt nhất thì cũng đang "hỏng" dần, "cũ" dần theo thời gian. Vật dụng cũ đi, sự sắc nét phai nhạt dần, con người cũng già đi, nhan sắc, thanh xuân mất dần. Bạn không thể cưỡng lại được vì đó là quy luật tự nhiên về Sinh - Lão - Bệnh - Tử, Sinh - Trụ - Hoại - Diệt. Nếu Bạn còn vướng chấp vào sự hoàn hảo, Bạn sẽ không thể chịu được, bị giày vò trong đau khổ, không muốn nhìn gương, không muốn ra đường gặp ai. Không có "bất hủ" trên đời này.

Vì vậy, xin hãy chấp nhận sự bất toàn của dân tộc để làm kim chỉ nam cho những hướng mới trong việc mưu tìm sự toàn bích tương đối trong cái bất toàn…

Mai Thanh Truyết

Houston, Mùa Phật đản 2026

 

 

 

Giữ gìn Ký ức về Ngày Quân lực VNCH như thế nào?


Trên đây là một câu hỏi không chỉ về lịch sử mà còn về đạo đức, giáo dục và tương lai dân tộc. Theo thiển ý, nên gìn giữ ký ức về Ngày Quân Lực 19 tháng 6, nhưng mục đích không phải để nuôi dưỡng hận thù hay kéo dài những chia rẽ của chiến tranh, mà để truyền lại cho các thế hệ sau những bài học lịch sử và những giá trị nhân bản mà một dân tộc cần có. Vì sao?

1-    Ký ức không phải là hận thù


Có một sự khác biệt rất lớn giữa hay khái niệm, nhớ để trả thù, và nhớ để học hỏi. Các quốc gia có ý thức dân chủ cao và trưởng thành đều duy trì ký ức lịch sử của nước mình, để từ đó rút ra những bài học cho các thế hệ về sau. Như người Mỹ vẫn tưởng niệm các binh sĩ tử trận trong cuộc Nội chiến, dù cuộc chiến đã kết thúc 161 năm, năm 1865, để học được bài học về sự chia rẽ Nam Bắc đã làm cho dân tộc mất đi sức sống và phát triển. Người Pháp vẫn ghi nhớ các chiến sĩ kháng chiến trong Thế chiến II, trong giai đoạn chính phủ Pétain thỏa hiệp cùng Đức Quốc Xã. Người Nhật vẫn tưởng niệm các nạn nhân của hai quả bom nguyên tử tại Hiroshima và Nagasaki đã là cho nước Nhật kiệt quệ; để rồi, toàn dân đứng lên xây dựng một quốc gia hùng mạnh chỉ sau vài thập niên sau đó.

Những sự tưởng niệm đó không nhất thiết nhằm khơi lại xung đột mà nhằm giữ lại ký ức tập thể của dân tộc, mang lại tình tự dân tộc, và chuyển tải tinh thần đó đến các thế hệ tiếp nối. Nếu một dân tộc đánh mất ký ức của mình, dân tộc đó sẽ rất khó truyền lại kinh nghiệm lịch sử cho các thế hệ kế tiếp.

2-    Điều gì cần được giữ lại?


Nếu chỉ giữ lại các khẩu hiệu chính trị của một thời chiến tranh, giá trị giáo dục và truyền thừa sẽ rất hạn chế. Thiết nghĩ, điều đáng giữ lại hơn là sự hy sinh, tinh thần trách nhiệm, giá trị của sự hòa bình và ổn định.

·         Sự hy sinh: Hàng 300 ngàn người lính Việt Nam Cộng Hòa đã mất mạng, với hơn 600 ngàn mang thương tật suốt đời. Dù người đời sau đánh giá cuộc chiến như thế nào, sự hy sinh ấy là một phần của lịch sử Việt Nam cận đại. Một hình ảnh bi hung của tuổi trẻ miền Nam.

·         Tinh thần trách nhiệm: Nhiều thanh niên miền Nam nhập ngũ khi tuổi đời còn rất trẻ, 17, 18 tuổi. Họ có thể khác nhau về động cơ nhập ngũ vì đến tuổi quân dịch hay vì gia cảnh, nhưng phần lớn đều chấp nhận bổn phận đối với miền Nam mà họ đang sống. Đó là một bài học về ý thức về trách nhiệm công dân.

·         Giá trị của hòa bình: Những người từng đi qua chiến tranh thường hiểu rõ hơn ai hết giá trị của hòa bình, và sự ổn định của xã hội. Đây chính là một bài học xương máu nhằm đánh thức lương tri các thế hệ tiếp nối qua mạng lưới toàn cầu, với, qua việc tiếp cận với văn minh trên thế giới.

Vì vậy, ký ức về Ngày Quân Lực VNCH cũng có thể là lời nhắc nhở rằng chiến tranh luôn để lại những mất mát mà không bên nào thực sự chiến thắng hoàn toàn, và cũng không có quang vinh nào trong tình trạng … cốt nhục tương tàn cả!

3-    Điều gì không nên truyền lại?

Điều không nên truyền lại cho các thế hệ sau là sự thù hận giữa người Việt với nhau, sự miệt thị những người có ký ức lịch sử khác mình, và quan niệm rằng mọi vấn đề đều có thể giải quyết trực diện bằng chiến tranh. Trên thực tế, rõ ràng là các thế hệ trẻ hôm nay không gây ra chiến tranh Việt Nam. Cho nên, họ không nên bị buộc phải kế thừa những oán hận của thế hệ trước, giữa kẻ thắng và người thua, giữa chính nghĩa và phi nghĩa qua sự minh định của “bên thắng cuộc”. Họ chỉ nên được kế thừa sự thật lịch sử, sự hy sinh, lòng nhân ái và tinh thần trách nhiệm của người lính…

4-    Từ ký ức đến tương lai


Trong chiều hướng suy nghĩ và phân tích trên, ký ức chỉ có ý nghĩa khi giúp các thế hệ tiếp nối có thể nhìn tương lai tích cực hơn, để rồi từ đó chuyển mình xây dựng một tương lai mới cho dân tộc. Nếu Ngày Quân Lực được tưởng niệm như một ngày tri ân, một ngày giáo dục lịch sử, một ngày suy ngẫm về trách nhiệm công dân, và một ngày nhắc nhở về giá trị của tự do và hòa bình. Ngày nầy vẫn có giá trị đối với các thế hệ mai sau. Ngược lại, nếu ký ức chỉ nhằm duy trì những đường ranh của tranh chấp trong quá khứ, nó sẽ dần mất đi sức sống khi những người trực tiếp trải qua chiến tranh dù đã chấm dứt từ nửa thế kỷ qua. Và thế hệ tiếp nối sẽ đối diện với hận thù, thắng thua…Từ đó, lại phải đưa đất nước vào một vòng xoáy mới, vòng xoáy của oán thù thiên thu …

5-    Kết luận

Theo thời gian, những người lính Việt Nam Cộng Hòa ở trong và ngoài nước sẽ lần lượt ra đi. Điều đó là quy luật tự nhiên mà không ai có thể thay đổi. Câu hỏi quan trọng hôm nay không phải là liệu ký ức về Ngày Quân Lực có được giữ lại hay không? Mà câu hỏi quan trọng hơn nữa là giữ lại ký ức để làm gì?

Nếu giữ lại ký ức để kể cho con cháu biết rằng đã có một thế hệ có khuynh hướng quốc gia sẵn sàng hy sinh cho điều họ tin tưởng, nếu giữ lại để nhắc rằng tự do, hòa bình và trách nhiệm công dân đều có cái giá của nó, nếu giữ lại ký ức để giúp người Việt hiểu nhau hơn thay vì xa nhau hơn, đối kháng hơn, thì ký ức ấy hoàn toàn xứng đáng được trao truyền. Chính vì một dân tộc sẽ không lớn mạnh nhờ quên đi quá khứ, mà lớn mạnh nhờ biết biến ký ức của quá khứ thành một chuyển tiếp tích cực cho tương lai. Và khi đó, Ngày Quân Lực VNCH không còn chỉ thuộc về một thế hệ hay một thể chế, mà trở thành một phần của câu chuyện dài dân tộc nói về lòng can đảm, bổn phận và khát vọng sống trong tự do của người lính VNCH.


Thời gian rồi sẽ làm phai nhạt các tranh luận chính trị của một thời, nhưng những giá trị như lòng can đảm, tinh thần trách nhiệm, sự hy sinh và tình yêu quê hương vẫn còn nguyên giá trị đối với mọi thế hệ. Nếu các thế hệ mai sau còn nhớ đến Ngày Quân Lực với tinh thần ấy, thì ký ức đó không phải là gánh nặng của quá khứ mà là một nguồn vốn tinh thần cho tương lai.

Người xưa thường nói lịch sử là ngọn đèn soi đường cho hiện tại. Nhưng ngọn đèn ấy chỉ thật sự có ích khi nó giúp chúng ta nhìn thấy con đường phía trước, chứ không phải chỉ chăm chú vào những vết chân đã qua, những vết thẹo của dân tộc do chiến tranh để lại. Đối với những người lính đã nằm xuống, có lẽ sự tưởng niệm cao đẹp nhất không phải là những lời ca tụng bất tận, mà là việc các thế hệ sau xây dựng được một xã hội nhân bản hơn, tự do hơn, xóa dần những thương tật, những tỳ vết mà quá khứ đã tạo ra. Một thế hệ mới có trách nhiệm hơn và biết tôn trọng sự khác biệt của nhau hơn. Nếu một ngày nào đó người Việt ở khắp nơi có thể cùng nhìn lại lịch sử với sự chân thành, lòng bao dung và tinh thần học hỏi, thì những hy sinh của quá khứ sẽ không trở thành vô nghĩa.

Tóm lại, gìn giữ ký ức của Ngày Quân Lực VNCH không phải để sống lại với quá khứ, mà để chuẩn bị cho tương lai của các thế hệ sau. Và đây, trong hiện tại, suy nghĩ trên cho thấy trọng tâm không nằm ở sự tiếc nuối hay oán hờn, mà nằm ở trách nhiệm truyền lại kinh nghiệm lịch sử cho con cháu.

Lịch sử rồi sẽ tiếp tục. sẽ được các thế hệ sau diễn giải theo phương cách của họ. Không phải ai thắng ai thua, mà là chúng ta đã học được gì để giúp thế hệ kế tiếp sống tốt hơn thế hệ cha ông của chúng.

Mai Thanh Truyết

Con đường Việt Nam

Houston - 6-6-2026

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Thursday, May 28, 2026

 

Giáo sư Nguyễn Văn Canh và Vai trò của giới Trí thức miền Nam


GS Nguyễn Văn Canh vừa qua đời ngày 13/5/2026 tại San Jose, CA. GS Nguyễn Văn Canh là một học giả và nhà giáo có ảnh hưởng trong giới trí thức miền Nam trước năm 1975. Khi đánh giá những đóng góp của ông đối với miền Nam Việt Nam, cần phân biệt giữa đóng góp học thuật, giáo dục, và đóng góp chiến lược chính trị, cùng những hoạt động sau 1975 trong cộng đồng người Việt hải ngoại.

Lịch sử cận đại Việt Nam thường được trình bày như lịch sử của các cuộc chiến tranh, của các biến động quân sự và những thay đổi chính quyền. Tuy nhiên, đằng sau các biến cố chính trị ấy là một hiện tượng ít được chú ý hơn nhưng có ảnh hưởng lâu dài; đó là sự hình thành và hoạt động của tầng lớp trí thức quốc gia. Sau Hiệp định Genève năm 1954, miền Nam Việt Nam bước vào một giai đoạn lịch sử đặc biệt. Hàng triệu người di cư từ miền Bắc, cùng với việc xây dựng một quốc gia mới trong điều kiện chiến tranh lạnh, đã đặt lên vai chính quyền và xã hội miền Nam hai nhiệm vụ, vừa chống lại sự bành trướng của cộng sản, vừa kiến tạo một thể chế có khả năng phát triển theo mô hình tự do và pháp trị. Trong hoàn cảnh ấy, trí thức không còn giữ vai trò thuần túy của người nghiên cứu hay giảng dạy. Họ được kỳ vọng trở thành người đào tạo nhân sự quốc gia, người xây dựng nền tảng lý luận cho nhà nước, và đôi khi là người định hướng chiến lược cho hành pháp trung ương.

Miền Nam Việt Nam vì thế xuất hiện một thế hệ học giả đáng chú ý gồm những nhà luật học, chính trị học và tư tưởng gia như Nguyễn Văn Bông, Nguyễn Ngọc Huy, và Nguyễn Văn Canh.

Nếu GS Nguyễn Văn Bông tiêu biểu cho tư tưởng cải cách hành chánh và pháp trị, GS Nguyễn Ngọc Huy đại diện cho học thuyết quốc gia dân tộc và tổ chức chính trị, thì GS Nguyễn Văn Canh nổi bật trong một lãnh vực nghiên cứu chiến tranh chính trị và bản chất của chủ nghĩa cộng sản tại Việt Nam.

Tên tuổi của ông không gắn với quyền lực hành pháp hay chức vụ chính trị lớn. Ông không phải là bộ trưởng, tổng trưởng hay lãnh tụ đảng phái. Ảnh hưởng của ông nằm trong lãnh vực ít ồn ào hơn nhưng có tầm quan trọng lâu dài hơn. Đó là giáo dục, nghiên cứu và tư tưởng chiến lược quốc gia. Điều đó khiến ông thuộc về lớp người có thể gọi là “trí thức chính trị”, những cá nhân tác động đến đời sống quốc gia không phải bằng quyền lực cưỡng chế mà bằng ý tưởng, lý luận và khả năng đào tạo con người.

Việc khảo cứu về GS Nguyễn Văn Canh vì thế không chỉ nhằm ghi nhận tiểu sử một học giả, mà quan trọng hơn nữa, đây còn là dịp để nhìn lại vai trò và số phận của cả một tầng lớp trí thức miền Nam, những người đã cố gắng xây dựng nền móng cho một quốc gia trong điều kiện chiến tranh và chia rẽ dân tộc vùng miền.

1-    Đóng góp trong lãnh vực giáo dục và đào tạo nhân sự miền Nam


GS Nguyễn Văn Canh thuộc thế hệ trí thức trưởng thành trong thời kỳ đất nước biến động sâu sắc giữa chế độ thuộc địa, chiến tranh giành độc lập và đối đầu với ý thức hệ. Ông theo đuổi ngành luật và chính trị học, sớm quan tâm đến vấn đề tổ chức nhà nước và sự vận hành của các chế độ chính trị. So với nhiều học giả cùng thời tập trung vào luật dân sự hoặc hành chánh, hướng nghiên cứu của ông mang màu sắc chính trị và chiến lược rõ rệt hơn. Đó không phải là một lựa chọn ngẫu nhiên.

Trong những năm 1950–1960, Việt Nam không chỉ đối diện với chiến tranh quân sự mà còn đối diện với chiến tranh tư tưởng. Sự phát triển của phong trào cộng sản tại Đông Dương khiến nhiều học giả miền Nam đặt câu hỏi căn bản:”Tại sao chủ nghĩa cộng sản có khả năng huy động quần chúng mạnh mẽ như vậy? Và một quốc gia tự do như Việt Nam Cộng Hòa phải đối phó bằng cách nào?”

Nguyễn Văn Canh thuộc số ít học giả xem đây là một vấn đề cần nghiên cứu khoa học thay vì chỉ lên án chính trị. Ông tham gia giảng dạy tại nhiều viện đại học và đào tạo cao cấp của miền Nam, bao gồm Đại học Luật khoa Sài Gòn, Đại học Huế, Đại học Vạn Hạnh, và các cơ sở huấn luyện thuộc hệ thống an ninh – hành chánh của Việt Nam Cộng hòa. Môi trường giảng dạy của ông khá đặc biệt vì nằm ở điểm giao tiếp giữa học thuật và thực tiễn quốc gia. Sinh viên của ông không chỉ là những thanh niên học luật thông thường mà còn là những công chức tương lai, nhân viên hành chánh, sĩ quan và giới hoạch định chính sách quốc gia. Do đó, nội dung giảng dạy của ông vượt khỏi phạm vi pháp luật và kỹ thuật. Ông quan tâm đến cơ cấu quyền lực nhà nước, bản chất của các chế độ chính trị, chiến tranh tâm lý, và an ninh quốc phòng quốc gia. Đây cũng là điểm khác biệt quan trọng giữa GS Nguyễn Văn Canh và nhiều giáo sư luật cùng thời.

Nếu mô hình giáo dục đại học truyền thống thường phân biệt luật học với chiến lược quốc gia, thì trong bối cảnh chiến tranh Việt Nam, ông xem hai lãnh vực ấy liên quan chặt chẽ với nhau. Theo quan điểm của ông, một quốc gia không thể tồn tại chỉ bằng sức mạnh quân sự. Quân đội có thể bảo vệ biên giới, nhưng sự ổn định lâu dài của quốc gia cần phải dựa trên tính chính danh của nhà nước, sự hiểu biết chính trị của người dân, và khả năng chống lại sự xâm nhập của các ý thức hệ cực đoan như chuyên chính vô sản của cộng sản quốc tế. Chính từ nhận thức này, ông ngày càng quan tâm đến nghiên cứu về chiến tranh chính trị. Đối với ông, cộng sản không chỉ là một đối thủ quân sự, mà còn là một hệ thống tổ chức chặt chẽ, một kỹ thuật huy động quần chúng, một phương pháp giành quyền lực thông qua kiểm soát tư tưởng, và cuối cùng là việc “quản lý người dân toàn diện”. Do đó, muốn đối phó với cộng sản Bắc Việt hiệu quả, thì cần hiểu rõ cấu trúc và phương pháp hoạt động của hệ thống ấy.

Cách tiếp cận này của ông mang dấu ấn học thuật rõ ràng. Nó khác với lối tuyên truyền chống cộng đơn giản vốn phổ biến trong một số môi trường chính trị thời đó. Ông cố gắng đưa việc nghiên cứu cộng sản trở thành một ngành phân tích chính trị có căn bản và phân tích dữ liệu cùng phương pháp nghiên cứu.


Điều này giúp giải thích vì sao ông được mời tham gia thuyết trình và huấn luyện tại nhiều cơ sở đào tạo cao cấp của Việt Nam Cộng hòa, kể cả những nơi liên quan đến lãnh vực quốc phòng và an ninh. Tuy nhiên, chính vị trí nằm giữa học thuật và chính trị thời bấy giờ ấy cũng đặt ông vào một nghịch lý. Giống nhiều trí thức miền Nam khác, ông có khả năng phân tích và cảnh báo, nhưng lại không nắm quyền quyết định chính sách. Từ đó, khoảng cách giữa tri thức và quyền lực là một trong những vấn đề lớn của nền chính trị miền Nam, và cũng là chủ đề cần được khảo sát khi đánh giá đóng góp của Nguyễn Văn Canh.

Theo nhiều tài liệu cộng đồng, ông từng là thuyết trình viên hoặc giảng viên tại Trường Cao đẳng Quốc phòng của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, nơi đào tạo cấp tướng lãnh và tham mưu trưởng. Nếu nhìn trong bối cảnh lịch sử, đây là một vị trí đáng kể vì miền Nam thời Đệ Nhị Cộng hòa đang tìm cách chuyên nghiệp hóa quân đội, nâng cao trình độ hoạch định chính sách, và kết hợp yếu tố dân sự- quân sự trong việc quản trị quốc gia.

Sau năm 1975, GS Canh sang Hoa Kỳ và cộng tác với môi trường nghiên cứu như Viện Hoover thuộc Đại học Stanford, Hoover Institution on War, Revolution and Peace,  đồng thời tham gia nhiều hội nghị quốc tế về Việt Nam và Đông Nam Á. Ông tiếp tục nghiên cứu về cộng sản Việt Nam, dân chủ và nhân quyền, chiến lược quốc tế liên quan đến Việt Nam, nhất là Trung Cộng. Ông cũng tham gia các hoạt động vận động chính sách và sinh hoạt cộng đồng người Việt hải ngoại về nhân quyền và vấn đề Biển Đông. Ông viết cuốn sách nghiên cứu chuyên sâu Vietnam Under Communism, 1975–1982 - Cộng Sản Trên Đất Việt, xuất bản bởi Nhà xuất bản Đại học Stanford; và Bộ sách Dân Tộc Tôi (gồm nhiều tập) ra mắt cuối năm 2023, tập trung vào chủ quyền đất nước, dân chủ và nhân quyền.

 

Do đó, ảnh hưởng của ông chánh yếu là ảnh hưởng đến tầng lớp trí thức và cố vấn học thuật, chứ không phải quyền lực hành pháp hay quân sự trực tiếp.

Trong tình hình miền Nam đang xây dựng bộ máy hành chính và pháp trị từ năm 1955 dưới thời Đệ Nhất Cộng hòa, lớp trí thức luật khoa và hành chánh mà ông đào tạo đã góp phần vào việc vận hành chính quyền và các cơ chế dân sự của miền Nam. Ông được biết đến như một học giả nghiên cứu sâu về chủ nghĩa cộng sản và chiến tranh cách mạng. Ông nhìn cuộc chiến Việt Nam không đơn thuần như một xung đột quân sự, mà là cuộc đối đầu ý thức hệ, một cuộc chiến tranh chính trị, và cạnh tranh về tổ chức xã hội với khối cộng sản. Chính vì quan điểm trên khiến ông tham gia giảng dạy và thuyết trình cho giới quân sự và lãnh đạo của miền Nam về chiến tranh chính trị, tâm lý chiến, và chiến lược đối phó với phong trào cộng sản.

Nhiều người ủng hộ việc xem đây là đóng góp quan trọng vì miền Nam lúc đó thường mạnh về quân sự nhưng thiếu chiều sâu lý luận và chiến lược chính trị.

2- Tác phẩm và di sản học thuật

Khi nói đến di sản học thuật của Nguyễn Văn Canh, không thể bỏ qua bộ sách Cộng Sản Trên Đất Việt. Đây có thể xem là công trình lớn nhất và tiêu biểu nhất trong sự nghiệp nghiên cứu của ông. Bộ sách không chỉ là hồi ký chính trị hay tác phẩm tuyên truyền chống cộng theo nghĩa thông thường mà, tham vọng của tác giả rộng hơn thế nữa. Giá trị của bộ sách được đánh giá khác nhau qua giới quốc gia và cộng đồng người Việt chống cộng xem đây là một công trình tư liệu và phân tích quan trọng, và mMột số học giả khác cho rằng cần đọc với thái độ phê bình vì tác phẩm mang lập trường chính trị rõ rệt. Ông cố gắng xây dựng một công trình tổng hợp nhằm khảo sát:


Nguồn gốc phong trào cộng sản Việt Nam;

  • Ảnh hưởng quốc tế của chủ nghĩa Marx–Lenin;
  • Phương thức tổ chức đảng;
  • Chiến tranh cách mạng;
  • Và tiến trình giành cũng như duy trì quyền lực tại Việt Nam của cs.

Về mặt cấu trúc, tác phẩm mang tính tư liệu và phân tích hơn là văn chương. Người đọc có thể nhận thấy ảnh hưởng của khoa học chính trị và nghiên cứu chiến lược trong cách trình bày có nhiều dữ kiện lịch sử, chú trọng tổ chức và cơ chế vận hành của cộng sản, quan tâm đến tính hợp lý của việc chiếm đoạt quyền lực. Điều này nói lên tính cách và mục tiêu của việc đào tạo và khuynh hướng học thuật của GS Nguyễn Văn Canh.

Tuy nhiên, cũng cần nhìn nhận khách quan rằng đây là một tác phẩm mang lập trường chính trị rõ rệt. Tác giả viết từ góc nhìn của quốc gia chống cộng và từ kinh nghiệm của một người từng sống trong cuộc chiến ý thức hệ. Do đó, bộ sách không phải là công trình “khách quan tính tuyệt đối”, nếu khái niệm ấy thực sự tồn tại trong nghiên cứu lịch sử chiến tranh. Đánh giá công bằng nhất, có lẽ đây là một nguồn tài liệu và diễn giải quan trọng của giới quốc gia Việt Nam về phong trào cộng sản. Nó cần được đọc dưới nhãn quan mang tinh thần học thuật, đối chiếu với các nguồn khác, nhưng không nên bị loại bỏ chỉ vì lập trường của tác giả. Trong nghiên cứu lịch sử hiện đại, những tiếng nói từ nhiều phía thường giúp người đọc hiểu rõ hơn về tính phức tạp của quá khứ, nhất là ở Việt Nam sau 20 năm chiến tranh quốc cộng. Đây là điều khá bình thường trong các công trình nghiên cứu về chiến tranh và ý thức hệ. Nhưng, khi khảo sát và phân tích những đóng góp của GS Nguyễn Văn Canh, chúng ta không thể bỏ qua một câu hỏi khó:”Nếu giới trí thức miền Nam có năng lực và tâm huyết như vậy, tại sao họ không tạo được ảnh hưởng quyết định đối với vận mệnh quốc gia?”

Đây không phải là nỗi băn khoăn riêng của Nguyễn Văn Canh mà là nghịch lý chung của tầng lớp trí thức miền Nam. Có ít nhất ba nguyên nhân:

·         Thứ nhất, khoảng cách giữa học thuật và quyền lực: Nhiều học giả được kính trọng trong đại học nhưng ít tham gia trực tiếp vào tiến trình quyết định chính sách. Chính trường miền Nam thường bị chi phối bởi giới quân sự, nhiều cuộc khủng hoảng chính trị dồn dập, và nhu cầu đối phó/đối đầu trước mắt không chỉ với CSBV, mà còn giữa những người quốc gia phe nhóm. Do đó, tiếng nói học thuật nhiều khi không trở thành chính sách thực tế, và dễ bị lãng quên.

·         Thứ hai, chiến tranh làm suy yếu đời sống trí thức: Một xã hội hòa bình có điều kiện phát triển tư tưởng dài hạn, ngược lại, chiến tranh kéo dài tạo ra áp lực đến không gian sinh tồn và khiến chính trị mang tính ngắn hạn, và làm cho giới trí thức ngại dấn thân. Trong hoàn cảnh ấy, đại học khó trở thành trung tâm hoạch định quốc gia như tại nhiều nước phát triển.

·         Thứ ba, sự lệ thuộc chiến lược vào Hoa Kỳ: Nhiều quyết định lớn của miền Nam chịu ảnh hưởng trực tiếp từ chính sách của Washington. Điều này giới hạn khả năng khai triển các chương trình cải cách xã hội do giới trí thức phát thảo.

GS Nguyễn Văn Canh đại diện cho một nghịch lý lịch sử, ông là người có khả năng đào tạo và phân tích, nhưng ảnh hưởng chánh yếu nằm trong lãnh vực tư tưởng hơn là quyền lực chính trị. Song chính điều này lại giúp ông giữ được vai trò của một học giả độc lập tương đối, ít bị đồng nhất hoàn toàn với các phe phái hay chính quyền cụ thể.

3-    Ba khuynh hướng trí thức quốc gia miền Nam - So sánh GS Nguyễn Văn Canh với GS Nguyễn Văn Bông và GS Nguyễn Ngọc Huy:

Để hiểu rõ vị trí của GS Nguyễn Văn Canh trong đời sống trí thức miền Nam Việt Nam, cần đặt ông bên cạnh hai học giả tiêu biểu khác cùng thời: GS Nguyễn Văn Bông và GS Nguyễn Ngọc Huy. Ba nhân vật này cùng thuộc giới trí thức quốc gia chống cộng của miền Nam, cùng quan tâm đến vận mệnh đất nước và cùng hoạt động trong môi trường đại học – chính trị. Tuy nhiên, mỗi người đại diện cho một hướng tiếp cận khác nhau về việc xây dựng quốc gia. Nếu dùng một cách phân loại tương đối, chúng ta có thể xem:

  • GS Nguyễn Văn Bông là nhà tư tưởng pháp trị – hành chánh;
  • GS Nguyễn Ngọc Huy là nhà tư tưởng quốc gia – chính trị;
  • Còn GS Nguyễn Văn Canh là học giả của chiến tranh chính trị và nghiên cứu cộng sản.

Ba khuynh hướng ấy vừa bổ sung vừa phản ảnh những trăn trở của miền Nam trong giai đoạn lịch sử đầy bất ổn trong suốt 20 năm.

3.1- GS Nguyễn Văn Bông – Tinh thần pháp trị và cải cách hành chánh: GS Nguyễn Văn Bông thường được xem là một trong những trí thức lỗi lạc nhất của miền Nam. Xuất thân từ ngành luật và hành chánh, ông nổi bật nhờ tư tưởng xây dựng một nhà nước hiện đại dựa trên pháp quyền, trách nhiệm công vụ, và cải cách hành chánh. Khác với nhiều chính khách trưởng thành từ quân đội hoặc đảng phái, ông nhìn vấn đề quốc gia qua lăng kính thể chế. Theo ông, sự tồn tại lâu dài của một quốc gia không thể dựa chánh yếu vào cá nhân lãnh đạo hay sức mạnh quân sự mà phải dựa vào bộ máy hành chánh hữu hiệu, luật pháp minh bạch, và thành phần công chức chuyên nghiệp. Đó là lý do ông dành nhiều tâm huyết cho Học viện Quốc gia Hành chánh và việc đào tạo nhân sự công quyền.Trong nhiều khía cạnh, Nguyễn Văn Bông đại diện cho giấc mơ xây dựng một nhà nước pháp trị kiểu hiện đại tại miền Nam. Biến cố ông bị ám sát năm 1971 thường được nhiều người xem là một mất mát lớn đối với giới trí thức và cải cách chính trị của Việt Nam Cộng hòa.

3.2- GS Nguyễn Ngọc Huy - Chủ thuyết quốc gia và tổ chức chính trị: Nếu GS Nguyễn Văn Bông quan tâm đến bộ máy nhà nước, thì GS Nguyễn Ngọc Huy tập trung nhiều hơn vào nền tảng tư tưởng và tổ chức chính trị.

Ông vừa là học giả vừa là nhà hoạt động chính trị, gắn bó với khuynh hướng Đại Việt và nỗ lực xây dựng một học thuyết quốc gia dân tộc. Theo Nguyễn Ngọc Huy, một quốc gia không thể đứng vững nếu chỉ chống cộng bằng phản ứng quân sự. Điều cần thiết là quốc gia cần phải có một lý tưởng chính trị, một chủ thuyết quốc gia, và chánh phủ đủ khả năng huy động xã hội.


Do đó, công trình của ông không chỉ là nghiên cứu học thuật mà còn mang tính vận động chính trị. Ông dành nhiều thời gian nghiên cứu lịch sử chính trị Việt Nam, tư tưởng dân tộc và vai trò của các đảng phái. So với GS Nguyễn Văn Bông, GS Nguyễn Ngọc Huy gần với hoạt động chính trị thực tế hơn và thích hợp với môi trường chính trị Việt Nam Cộng Hòa thời bấy giờ. Nếu gọi GS Nguyễn Văn Bông là nhà cải cách thể chế, thì phải gọi GS Nguyễn Ngọc Huy là người tìm kiếm linh hồn ý thức hệ cho quốc gia.

3.3- GS Nguyễn Văn Canh - Chiến tranh chính trị và nghiên cứu cộng sản: Nếu đặt cạnh hai học giả trên, GS Nguyễn Văn Canh có vị trí khá riêng biệt. Ông không tập trung chánh yếu vào cải cách hành chánh như GS Nguyễn Văn Bông, ông cũng không dành trọng tâm cho việc xây dựng đảng phái hay chủ thuyết quốc gia như Gs Nguyễn Ngọc Huy. Mà mối quan tâm lớn nhất của ông là:”Làm thế nào để hiểu và đối phó hữu hiệu với chiến tranh chính trị của cộng sản.” Điều này khiến hướng nghiên cứu của ông mang tính chiến lược nhiều hơn.

Trong khi GS Nguyễn Văn Bông nghiên cứu nhà nước và Gs Nguyễn Ngọc Huy nghiên cứu chính trị quốc gia, GS Nguyễn Văn Canh nghiên cứu đối thủ của quốc gia. Đây là một sự khác biệt quan trọng. Ông cho rằng cuộc chiến Việt Nam không thể được giải thích đơn thuần bằng địa lý hay quân sự. Đó là cuộc đối đầu của phương pháp tổ chức xã hội, hệ thống tư tưởng, và kỹ thuật huy động quần chúng. Vì vậy, nhiệm vụ của học giả không chỉ là bảo vệ lý tưởng quốc gia mà còn phải giải mã cách vận hành của hệ thống cộng sản để từ đó định hình ra phương hướng đối phó! Từ đó, công trình nghiên cứu kéo dài nhiều thập niên của ông về chủ nghĩa cộng sản tại Việt Nam đã được hình thành. Nếu phải diễn tả bằng một hình ảnh, thì:

  • Nguyễn Văn Bông lo xây nền móng nhà nước;
  • Nguyễn Ngọc Huy lo định hình linh hồn chính trị;
  • Còn Nguyễn Văn Canh lo nhận diện và phân tích nguy cơ đe dọa quốc gia của cộng sản.

Ba vai trò ấy khác nhau nhưng không đối nghịch, mà lại bổ túc cho nhau. Chúng phản ảnh ba nhu cầu căn bản của một quốc gia thời chiến là Quản trị - Lý tưởng - An ninh chính trị.

4-    Từ miền Nam sang môi trường học thuật Hoa Kỳ

Sau khi định cư tại Hoa Kỳ, GS Nguyễn Văn Canh tiếp tục hoạt động nghiên cứu và thuyết trình trong các diễn đàn học thuật cũng như cộng đồng người Việt hải ngoại. Ở đây, chúng ta cần nhìn hiện tượng này trong hoàn cảnh mở rộng hơn. Thế hệ trí thức miền Nam sau 1975, sau khi định cư tại hải ngoại, thực chất tạo thành một dạng “diaspora intellectuals” – giới trí thức lưu vong. Họ mất vị trí trong quốc gia cũ nhưng đồng thời có cơ hội hoạt động trong môi trường học thuật quốc tế. Một số người chuyển sang nghề nghiệp khác để ổn định đời sống. Một số tiếp tục nghiên cứu và viết lách. GS Nguyễn Văn Canh thuộc nhóm thứ hai.

Ông cộng tác với các môi trường nghiên cứu và tham dự nhiều hội nghị về Việt Nam và Đông Nam Á, tiếp tục quan tâm đến chính trị Việt Nam, chiến tranh lạnh tại châu Á, dân chủ và nhân quyền, và đặc biệt là cơ cấu quyền lực của hệ thống cộng sản Việt Nam. Điều này cho thấy một sự nhất quán đậm nét trong con đường trí thức của ông là mối quan tâm trước 1975 và sau 1975 gần như không thay đổi. Nếu tại miền Nam ông nghiên cứu chiến tranh chính trị để phục vụ nhu cầu quốc gia đang chiến tranh, thì tại hải ngoại ông tiếp tục nghiên cứu cộng sản như một hiện tượng chính trị và lịch sử cần được giải thích. Nói cách khác, môi trường thay đổi nhưng đối tượng nghiên cứu vẫn giữ nguyên.

5-    GS Nguyễn Văn Canh - Một thế hệ trí thức chưa trọn sứ mạng


Nếu nhìn rộng ra hơn nữa, ba học giả này còn tượng trưng cho một thế hệ trí thức miền Nam có nhiều tiềm năng nhưng không hoàn tất được sứ mạng lịch sử, không phải vì họ thiếu năng lực hay tâm huyết, trái lại, các GS trên là những người có trình độ quốc tế và viễn kiến đáng kể. Nhưng lịch sử không luôn vận hành theo lý lẽ của học thuật. Chiến tranh, khủng hoảng chính trị và sự lệ thuộc địa chiến lược khiến nhiều ý tưởng cải cách không có điều kiện trưởng thành.

Đó là bi kịch chung của giới trí thức miền Nam. Họ hiểu nhu cầu xây dựng quốc gia nhưng sống trong hoàn cảnh mà quyền lực chính trị thường ưu tiên nhiều giải pháp ngắn hạn và tạm thời. Và trong ý nghĩa ấy, GS Nguyễn Văn Canh không chỉ là một cá nhân. Ông còn là biểu tượng của một tầng lớp trí thức tin rằng tri thức có thể góp phần bảo vệ tự do và định hướng quốc gia, ngay khi tiếng nói của họ không luôn trở thành một chính sách quốc gia.

Nếu phải tóm lược, sự đóng góp của GS Nguyễn Văn Canh đối với miền Nam Việt Nam nằm chánh yếu ở ba phương diện:

·         Đào tạo trí thức và nhân sự công quyền cho miền Nam;

·         Phát triển tư duy chính trị và chiến lược chống cộng trong giới lãnh đạo và học thuật VNCH;

·         Gìn giữ và phát triển khí tiết của thành phần quốc gia Việt Nam sau 1975.

Ông không phải là một chính trị gia quyền lực như Cố TT Nguyễn Văn Thiệu hay một lãnh tụ đảng phái như Nguyễn Ngọc Huy, mà thuộc nhóm “trí thức chính trị” (political intellectual) – những người ảnh hưởng qua giảng dạy, nghiên cứu và định hình tư tưởng hơn là điều hành trực tiếp.

 

6-   GS Nguyễn Văn Canh và Mặt trận Biển Đông - Từ chiến tranh chính trị đến vận động công pháp quốc tế

Trong suốt cuộc hành trình học thuật và chính trị của GS Nguyễn Văn Canh, vấn đề Biển Đông xuất hiện như một giai đoạn phát triển muộn nhưng có ý nghĩa đặc biệt. Nếu trước 1975, ông tập trung vào phân tích chiến tranh chính trị và cơ chế vận hành của chủ nghĩa cộng sản, thì sau 1975, trọng tâm tư duy của ông mở rộng sang một không gian chiến lược rộng hơn, chính là an ninh khu vực Đông Á và trật tự pháp lý quốc tế trên biển. Biển Đông, trong cách nhìn ấy, không chỉ là việc tranh chấp lãnh thổ giữa các quốc gia ven biển. Nó trở thành một biểu tượng của sự cạnh tranh quyền lực giữa các mô hình quốc gia, nơi luật pháp quốc tế, sức mạnh cứng và ảnh hưởng ngoại giao tạo ra những tình huống phức tạp.

6.1- Biển Đông trong lý luận “chiến tranh chính trị” của GS Canh: Một điểm quan trọng để hiểu hoạt động của GS Canh là sự liên tục trong suốt chuỗi lý luận từ khi bước chân vào con đường chính trị. Ông không chuyển từ “chống cộng” sang “Biển Đông” như hai chủ đề tách biệt. Thay vào đó, ông nhìn Biển Đông như một biến thể của cùng một hiện tượng chiến lược mà ông đã nghiên cứu từ trước như là chiến tranh chính trị không dùng quân đội trực diện là chánh yếu, mà sử dụng luật pháp, tuyên truyền, kinh tế và ngoại giao để thay đổi thực trạng, để rồi, dần dần tạo ra “sự đã rồi” về quyền kiểm soát.


Trong phân tích của ông, cách tiếp cận của Trung Cộng tại Biển Đông mang nhiều yếu tố của mô hình này; đó là, việc xây dựng thực thể hành chính trên các đảo/đá; việc mở rộng hiện diện quân sự từng bước; việc sử dụng các lập luận lịch sử và pháp lý song song; và sau cùng, tránh xung đột quân sự quy mô lớn trong giai đoạn đầu. Từ góc nhìn đó, Biển Đông không phải một tranh chấp “đóng băng”, mà là một tiến trình chiến lược dài hạn của Trung Cộng

6.2- Quốc tế hóa tranh chấp trong sự lựa chọn chiến lược: Một trong những quan điểm chính của GS Canh là cần quốc tế hóa vấn đề Biển Đông, thay vì để nó bị giới hạn trong các cơ chế song phương. Ông lập luận rằng trong mối tương quan lực lượng không cân xứng, các quốc gia nhỏ ven Biển Đông khó có khả năng đàm phán hiệu quả nếu chỉ dựa vào việc thương lượng trực tiếp, hoặc các cơ chế khu vực thiếu tính ràng buộc mạnh như tổ chức Asean. Do đó, giải pháp chiến lược là đưa tranh chấp ra các diễn đàn rộng hơn như Luật Biển Quốc tế (UNCLOS), các thể chế đa phương, và đặc biệt là hệ thống quan hệ quốc tế do các cường quốc ngoài khu vực tham gia.

Trong chuỗi lý luận này, luật pháp quốc tế không chỉ là công cụ pháp lý, mà còn là một công cụ chiến lược nhằm cân bằng quyền lực.

6.3- Vận động tại Hoa Kỳ - Từ học thuật sang chính sách công: Sau khi định cư tại Hoa Kỳ, GS Canh tham gia vào một dạng hoạt động khác với môi trường đại học thuần túy là vận động chính sách (policy advocacy). Ông cùng một số học giả và tổ chức cộng đồng người Việt hải ngoại tham gia các cuộc hội thảo về Biển Đông, các buổi điều trần và trao đổi với giới lập pháp, và hoạt động cung cấp thông tin cho các văn phòng nghị sĩ Hoa Kỳ. Mục tiêu không phải là thay thế chính sách quốc gia, mà là nâng mức độ nhận thức của giới lập pháp Mỹ về Biển Đông, nhấn mạnh yếu tố luật pháp quốc tế, và thúc đẩy các biện pháp mang tính răn đe hoặc trừng phạt đối với các hành vi bị xem là vi phạm trật tự hàng hải quốc tế.

Một số tài liệu cộng đồng ghi nhận ông tham gia vận động cho các sáng kiến lập pháp liên quan đến Biển Đông trong Quốc hội Hoa Kỳ, trong đó có các đề nghị về việc trừng phạt các hoạt động quân sự hóa của Trung Cộng, bảo vệ tự do hàng hải, và phản đối thay đổi nguyên trạng bằng vũ lực hoặc cưỡng ép.

Cần nhấn mạnh rằng trong hệ thống chính trị Hoa Kỳ, các đạo luật loại này là kết quả của nhiều nhóm tác động khác nhau, gồm danh sách các nghị sĩ bảo trợ, các think tank, cộng đồng di dân, và giới học giả. Và, trong đó, GS Canh là một trong những tiếng nói học thuật từ cộng đồng Việt Nam hải ngoại tham gia vào tiến trình này, chứ không phải tác nhân đơn lẻ quyết định chính sách.

6.4- Xử dụng “công pháp quốc tế như công cụ chiến lược”: Điểm đáng chú ý trong cách tiếp cận của GS Canh là ông không xem luật quốc tế như một hệ thống lý tưởng thuần túy, mà như một công cụ thực dụng trong quan hệ quyền lực. Theo ông, trong bối cảnh các cường quốc cạnh tranh ảnh hưởng nhằm hướng tới việc luật pháp quốc tế có thể trở thành “tiếng nói chung”, việc giúp các quốc gia nhỏ tạo ra cơ sở chính danh, và hình thành áp lực ngoại giao đa phương.


Trong cách nhìn trên, Biển Đông không chỉ là vấn đề chủ quyền, mà còn là một bài toán về trật tự quốc tế có nhiều thử thách đối với tính hiệu lực của luật biển, và là một phép thử đối với khả năng hợp tác quốc tế trong việc kiểm soát xung đột giữa các quốc gia có tranh chấp..

6.5- Giới hạn của việc vận động hải ngoại: Một đánh giá cân bằng cần ghi nhận cả giới hạn của các hoạt động ở hải ngoại của GS Nguyễn Văn Canh, mặc dù có giá trị về mặt nâng cao nhận thức, tạo ra mạng lưới thông tin rộng lớn, và đưa vấn đề vào diễn đàn chính trị quốc tế; tuy nhiên, các phong trào vận động từ cộng đồng hải ngoại thường có ảnh hưởng gián tiếp, dài hạn, và phụ thuộc vào bối cảnh địa chính trị lớn hơn. Do đó, chúng ta không nên phóng đại vai trò cá nhân của bất kỳ học giả nào trong việc “thay đổi chính sách toàn cầu”.

Trong trường hợp GS Canh, đóng góp quan trọng nhất nằm ở việc duy trì sự hiện diện của vấn đề Biển Đông trong chính trị người Việt hải ngoại, và chuyển hóa nó thành ngôn ngữ của luật pháp và chính sách thay vì chỉ diễn đạt cảm xúc lịch sử trong cộng đồng.

6.6- Ý nghĩa trong tư tưởng của GS Nguyễn Văn Canh: Chúng ta nhận thấy, trong hoạt động về Biển Đông của GS Canh, đây không phải là một hướng rẽ, mà là sự tiếp nối liên tục từ chiến tranh chính trị (trước 1975) đến nghiên cứu hệ thống cộng sản, rồi mở rộng sang cạnh tranh chiến lược khu vực, và cuối cùng là vận động công pháp quốc tế.

Có thể nói, Biển Đông là nơi con người và suy nghĩ của ông gặp lại chính Ông ở một cấp độ rộng hơn và không còn giới hạn trong không gian Việt Nam, mà đặt trong cấu trúc quyền lực của toàn khu vực Ấn Độ – Thái Bình Dương. Và trong ý nghĩa đó, “mặt trận Biển Đông” của GS Nguyễn Văn Canh không phải là chiến trường quân sự, mà là một mặt trận tư tưởng và công pháp quốc tế.

7-    Tưởng về GS Nguyễn Văn Canh


Nhìn toàn thể cuộc hành trình trí thức của Giáo sư Nguyễn Văn Canh, từ các giảng đường ở miền Nam trước 1975, qua những nghiên cứu về chiến tranh chính trị, đến các hoạt động vận động Biển Đông tại Hoa Kỳ, có thể thấy một trục tư tưởng xuyên suốt, ông luôn xem chính trị không phải là cảm xúc, mà là một cấu trúc quyền lực vận hành bằng luật lệ, có tổ chức và có chiến lược dài hạn.

Trong mặt trận Biển Đông, điều này thể hiện rõ hơn cả. Ông không đi theo lối kêu gọi biểu tượng hay khẩu hiệu. Ông chọn một con đường khó hơn và “cứng” hơn là đưa vấn đề chủ quyền vào ngôn ngữ của công pháp quốc tế, cơ chế lập pháp và cân bằng quyền lực toàn cầu. Ở cấp độ này, sự đóng góp của ông không nằm ở việc “thay đổi cục diện ngay lập tức”, điều vốn vượt quá khả năng của bất kỳ cá nhân nào, mà nằm ở chỗ ông góp phần chuyển dịch một cuộc tranh chấp lịch sử thành một hồ sơ pháp lý – chính trị có thể được thảo luận trong hệ thống quốc tế hiện đại.

Đây chính là điểm mạnh nhưng cũng là một chiều sâu ít người nhìn thấy. Ông hiểu rằng trong thế giới hiện đại, chủ quyền quốc gia không chỉ được giữ bằng sự hiện diện vật lý, mà còn bằng tính chính danh được công nhận, được ghi nhận và được tranh luận trong luật pháp quốc tế.

Vì vậy, nếu phải định vị vai trò của GS Nguyễn Văn Canh trong vấn đề Biển Đông, có thể nói một cách dứt khoát hơn:”Ông không phải là người “tạo ra thay đổi tức thời trên thực địa”, mà là một trong những tiếng nói trí thức kiên trì, muốn quốc tế hóa vấn đề Biển Đông, góp phần giữ nó trong không gian luật pháp và chính trị toàn cầu, nơi các tranh chấp lãnh thổ hiện đại cuối cùng được định hình. Và xét rộng hơn, di sản của ông nằm ở chỗ không phải sức mạnh quyền lực, mà là sức bền của những suy nghĩ chiến lược, không phải chiến thắng tức thời, mà là khả năng đặt một vấn đề quốc gia vào đúng “bàn cờ” của thế giới hiện đại.

Và trong ý nghĩa đó, GS Nguyễn Văn Canh thuộc về một lớp trí thức hiếm hoi của miền Nam, những người tin rằng ngay cả khi lịch sử không đứng về phía mình, tri thức vẫn có thể tiếp tục định nghĩa về cách một dân tộc hiểu về quyền lợi và vị trí của mình trên bình diện thế giới.

Đồng bào Miền Nam Việt Nam sẽ không bao giờ quên một người con Việt, Nguyễn Văn Canh.

Mai Thanh Truyết

Houston – Mùa Phật đản 2026

 

Ghi chú:

 

 Anh Truyet thân kính

          Từ bài viết cuả Anh , QH thấy Anh rất hiểu rõ GS Canh , em với Thầy thường nói chuyện và qua đó em cũng nhận được những lời dạy dổ hướng dẫn 

từ Thầy , và hôm nay được đọc  bài viết của Anh , em càng khâm phục sụ nhận xét của Anh . Đúng như Anh nhận xét ,"Nguyễn Văn Canh thuộc số ít học giả xem đây là một vấn
đề cần nghiên cứu khoa học thay vì chỉ lên án chính trị.....Quốc tế hóa tranh chấp trong sự lựa chọn chiến lược: Một trong những quan điểm chính của GS Canh là
cần quốc tế hóa vấn đề Biển Đông,"... nên trong năm 2008 Thầy đã dầy công nghiên cứu , liên lạc với các nhà sử học để tìm những bằng chứng HS -TS là của VN , 

và Thầy thường nói đời chúng ta chưa chắc có thể lấy lại HS -TS mà hy vọng hậu thế sẽ làm được, nên chúng ta phải tìm được những bằng chứng xác thực cho lớp trẻ sau này

xử dụng . Và Thầy cũng đã đưa vụ HS - TS lên LHQ với Quyễn Bạch Thư gởi tận tay các đại diện của các nước tại LHQ và chuyển đến các tổng thống trên thế giới .... lúc đó 

Anh Nguyễn Trung Châu và các Anh trong BCH của Thầy đã tích cực tiếp tay làm việc . Sự ra đi của Thầy là một nuốt tiếc và rất đau lòng cho em.

         Và cũng vì muốn lưu lại những tài liệu cho giới trẻ xữ dụng nên ngoài hành động Thầy còn viết và xuất bản nhiều quyễn sách,  mãi đến tuổi gần 90 Thầy  cho ra quyễn DÂN TỘC TÔI

trọn bộ gồm 3 cuốn . Thầy có gởi cho QH nhưng đến hiện tại QH vẫn chưa đọc hết....  

        QH chân  thành cảm ơn Anh đã tin tưởng stx , và hôm nào Anh rãnh thì chúng ta đến đển gặp Thầy Huyền Việt để bàn về buổi lễ cầu siêu cho GS CANH.    

        Thân Kính

        QH-STX      - 27/5/2026