Monday, August 17, 2026

 

Nghị quyết 23 năm 2026 khác với Nghị quyết 36 năm 2004


Nghị quyết 36 đã đặt nền móng cho chính sách người Việt tại hải ngoại trước những chuyển biến mới thế giới. Nó đã nói đến các việc dưới đây, trích đoạn trong văn bản của nghị quyết:

  • Người Việt ở nước ngoài là bộ phận không tách rời của dân tộc;
  • Thu hút trí thức, doanh nhân;
  • Khuyến khích đầu tư;
  • Bảo hộ công dân;
  • Vận động cộng đồng;
  • Tăng cường cán bộ chuyên trách tại các cơ quan đại diện;
  • Tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước tới cộng đồng.

Như vậy, Nghị quyết 23 không bắt đầu từ con số 0, mà bắt đầu từ kết quả sau 22 thi hành NQ 36! Cái mới là mức độ tham vọng và phạm vi chiến lược đã được nâng lên “một tầm cao mới”. Bộ Ngoại giao cũng chính thức nói rằng Nghị quyết 23 là bước phát triển mới sau quá trình tổng kết hơn 20 năm thực hiện Nghị quyết 36 và các văn bản liên quan.

1. Cái mới thứ nhất: Từ “kiều bào” thành “nguồn lực chiến lược”

Đây có lẽ là thay đổi lớn nhất. Trước đây, trọng tâm tương đối rõ ràng là vận động kiều bào hướng về quê hương. Từ nay, NQ23 chuyển sang … kiều bào là nguồn lực chiến lược của quốc gia. Và Bộ Ngoại giao còn nhấn mạnh đến việc kiều bào là “cầu nối giữa Việt Nam với thế giới.”

Điều này có hai mặt, một mặt, Việt Nam muốn khai thác chất xám; khoa học kỹ thuật; nguồn vốn; kinh nghiệm quản trị; quan hệ quốc tế; mạng lưới doanh nghiệp; khả năng kết nối với các trung tâm công nghệ lớn trên thế giới. Đây là một chiến lược rất bình thường của một quốc gia có những cộng đồng dân tộc (diaspora) lớn.

Nhưng mặt thứ hai, khi một cộng đồng được xác định là “nguồn lực chiến lược” của quốc gia, Nhà nước sẽ có động cơ lớn hơn để xây dựng mạng lưới, nhận diện nhân sự, kết nối, phân loại và huy động cộng đồng.


Chính ở đây mới xuất hiện câu hỏi TNR.

2. Cái mới thứ hai: Chuyển từ “vận động” sang “xây dựng mạng lưới”

Đây là điểm cần đặc biệt lưu ý. Nghị quyết 36 đã nói đến vận động và tiếp xúc cộng đồng. Nhưng Nghị quyết 23 nhấn mạnh hơn đến đến những đối tượng chuyên biệt rõ ràng: mạng lưới; hội đoàn; đội ngũ nòng cốt; thế hệ trẻ; trí thức; chuyên gia; doanh nhân; cơ quan đại diện; kết nối trong nước và ngoài nước.

Bộ Ngoại giao ngay sau khi nghị quyết được ban hành đã tổ chức hội nghị triển khai và nhấn mạnh việc “phát huy mạnh mẽ hơn nữa vai trò của các Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài” và nhanh chóng cụ thể hóa nghị quyết thành chương trình hành động. Đây là sự thay đổi từ tiếp cận cộng đồng - community outreach, sang một mô hình gần hơn với sự tham gia của người hải ngoại có tổ chức - organized diaspora engagement. Từ đó,làm cho khả năng tác động đến cộng đồng lớn hơn.

3. Cái mới thứ ba: “Đội ngũ nòng cốt”

Đây là một cái mới mà cộng đồng Việt Nam ở Mỹ nên đặc biệt quan tâm. Nếu chỉ nói “hỗ trợ cộng đồng” thì rất bình thường, nhưng nói:”“phát hiện, bồi dưỡng đội ngũ nòng cốt, nhất là thế hệ trẻ”, thì vấn đề sẽ bước sang một sắc thái tổ chức chính trị rõ hơn. Chúng ta có thể hiểu rất tích cực là truy tìm những người trẻ có năng lực để làm cầu nối văn hóa, khoa học, kinh tế Việt Nam - Hoa Kỳ. Điều đó cũng có nghĩa là có thể hiểu theo hướng chính trị là … xây dựng một lớp nhân sự có khả năng truyền đạt và bảo vệ quan điểm của Hà Nội trong cộng đồng diaspora của người Việt hải ngoại.

Cả hai cách hiểu trên đều có thể xảy ra, và chỉ có thực tế triển khai mới cho chúng ta biết cách hiểu nào là chính xác.

4. Cái mới thứ tư: Dữ liệu về người Việt Nam ở nước ngoài

Đây là điểm nhạy cảm nhất đứng về mặt an ninh. Nghị quyết 23 chủ trương xây dựng, liên thông và vận hành cơ sở dữ liệu về người Việt Nam ở nước ngoài. (Chúng tôi vẫn chưa hiểu rõ chữ “liên thông” ngầm có ý nghĩa gì? Theo Google, chữ liên thông được hiểu như:”Chữ liên thông có nghĩa gốc là nối liền, thông suốt và gắn kết liên tục với nhau giữa các bộ phận, hệ thống hoặc cấp học mà không bị gián đoạn. Từ này được dùng phổ biến trong giáo dục, hành chính và toán học.”)


Đây là một bước tiến rất lớn về năng lực quản trị về mặt chính trị. Nếu cơ sở dữ liệu chỉ phục vụ khách hàng như: lãnh sự; hộ chiếu; quốc tịch; bảo hộ công dân; đầu tư; chuyên gia; doanh nghiệp … thì hoàn toàn bình thường.

Nhưng hãy thử đặt câu hỏi, nếu cơ sở dữ liệu đó chứa thông tin chính trị thì sao? Ví dụ: Ai là nhà hoạt động? Ai tham gia hội đoàn nào? Ai chống chính quyền? Ai viết bài công kích Đảng?  Ai tổ chức biểu tình chống Đảng? Ai tài trợ tổ chức chống đối Đảng? Ai có quan hệ với ai ở trong nước? ... Khi đó, một cơ sở dữ liệu hành chính có thể biến thành cơ sở dữ liệu tình báo/chính trị để từ đó, Đảng có thể theo sát từng cá nhân “phản động”!

Đây là lý do tại sao cách vận hành thực tế trong khi thi hang NQ23 quan trọng hơn bản thân các câu chữ đề ra trong nghị quyết.

5. Cái mới thứ năm: “Bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa”

Đây là cụm từ có ý nghĩa an ninh rất rõ. Nó không còn đơn thuần là nhắm vào văn hóa Việt Nam, đầu tư, từ thiện, khoa học, mà đưa cộng đồng ở nước ngoài vào không gian bảo vệ an ninh quốc gia. Điều đó có thể hoàn toàn hợp lý nếu hiểu là người Việt ở nước ngoài giúp quảng bá chủ quyền Việt Nam, chống thông tin sai lệch về Việt Nam, đóng góp cho an ninh quốc gia.

Nhưng, nếu từ góc nhìn Hoa Kỳ, câu hỏi sẽ là “Bảo vệ Tổ quốc từ xa” được thực hiện trên đất Mỹ bằng phương thức nào? Nếu bằng diễn thuyết, vận động công khai, viết báo, vận động hành lang hợp pháp thì không có vấn đề đặc biệt. Nhưng nếu bằng cách theo dõi, đe dọa, cưỡng ép người Mỹ hoặc người Mỹ gốc Việt, thì đó là Đàn áp xuyên quốc gia - TNR. FBI định nghĩa TNR chính là khi một chính phủ nước ngoài vượt qua biên giới để “đe dọa, bịt miệng, cưỡng ép, quấy rối hoặc gây hại” (intimidate, silence, coerce, harass or harm) cộng đồng Việt di dân lớn (diaspora), hoặc cộng đồng người Việt tị nạn tại tại Hoa Kỳ.

7. Cái mới thứ bảy: Đây là điểm nguy hiểm nhất: “Quan điểm khác biệt” và “Quan điểm thù địch”

Đây chính là “nút thắt” chính trị của Nghị quyết 23. Tuy nghị quyết có ngôn ngữ có vẻ mở hơn trước, như việc lắng nghe cả những quan điểm khác biệt của người hải ngoại, nhưng đồng thời vẫn duy trì khái niệm về “quan điểm sai trái, thù địch”, và các hoạt động bị coi là “chống phá đất nước.”

Vấn đề không phải là Nhà nước có quyền chống hoạt động bạo lực hay gián điệp hay không, nhưng vấn đề là: Ai định nghĩa “chống phá” nếu việc phê bình chính sách Việt Nam sai trái hoàn toàn khác với vấn đề chống phá. Nhưng nếu NQ23 coi người Việt hải ngoại phê bình Đảng, cùng phản đối chính sách và biểu tình ôn hòa là “chống phá”, thì đây mới là một nguy cơ rất lớn, vì người Việt tại Hoa Kỳ có quyền tự do ngôn luận và


hội họp theo luật Hoa Kỳ.

Và FBI nói rất rõ rằng TNR thường nhắm tới những người chỉ trích chính quyền nước ngoài hoặc những cộng đồng người Việt bất đồng chính kiến hay lưu vong – dissident or exile. Như vậy Nghị quyết 23 có phải “một kế hoạch đàn áp xuyên quốc gia - TNR” không?

Đứng về mặt văn bản, chúng ta chưa có đủ bằng cứ để kết luận NG23 là một chính sách đàn áp xuyên quốc gia của FBI, nhưng chúng ta có thể nói, có một số công cụ xử dụng trong nghị quyết cho thấy Việt Nam có thể sử dụng việc ảnh hưởng ngoại giao và thực hiện chiến dịch TNR nếu bị lạm dụng. Và đây mới là điều cần theo dõi cung cách hành xử và áp dụng của Việt Nam ở hải ngoại đối với người Việt nơi đây.

8. Nhận xét của người viết

Nghị quyết 23 muốn đạt được hai mục tiêu cùng lúc:

·         “Hòa hợp dân tộc – gác lại quá khứ – hướng tới tương lai.”

·         “Đấu tranh trực diện với các quan điểm sai trái, thù địch.”


Hai mục tiêu này có thể cùng tồn tại, nhưng cho đến hiện tại sau 22 năm thực hiện NQ36, Hà Nội hầu như thất bại trong mục tiêu đầu về hòa giải hòa hợp, may ra, có vài “con nhạn lạc đàn” nối gót theo bước chân của đảng vì… vì cái “bả” vinh hoa và vật chất.

Người Việt hải ngoại có thể yêu nước Việt, nhưng không đồng ý với nhà cầm  quyền hiện tại qua việc điều hành quốc gia bằng chuyên chính vô sản. Và chắc chắn, đối với thế hệ trẻ Việt Nam, thế hệ Gen Z ở Hoa Kỳ, họ sẽ phủ nhận hoàn toàn đường hướng điều hành quốc gia của Việt Nam hiện tại.

FBI không nói rằng mọi hoạt động áp đặt của chính phủ nước ngoài đối với cộng đồng Việt hải ngoại đều là TNR, nhưng ngược lại, họ tập trung lưu ý vào hành vi cưỡng ép, đe dọa, bịt tiếng nói hoặc gây hại của nhà cầm quyền Việt Nam đối với người Mỹ gốc Việt tại Mỹ.

Rõ ràng là, nếu một người Mỹ gốc Việt viết bài phản đối chính quyền Việt Nam, bị cơ quan hay người đại diện Việt Nam theo dõi, và gia đình tại Việt Nam bị gây áp lực, và người đó bị đe dọa phải ngừng hoạt động v.v… Câu chuyện đã chuyển sang TNR.

Và nếu có hành vi cưỡng bức trên lãnh thổ Hoa Kỳ, FBI có lý do để xem đó là vấn đề thực thi pháp luật của Mỹ.

Giả sử một người Việt Mỹ nói: “Tôi chống chính quyền cộng sản Việt Nam.” Điều đó tự nó không làm người ấy trở thành đối tượng an ninh của Hoa Kỳ. Ngược lại, nếu một chính phủ nước ngoài cố tìm cách làm cho người đó im tiếng bằng các biện pháp cưỡng ép trên lãnh thổ Mỹ, thì chính phủ Hoa Kỳ mới là bên có quyền bảo vệ người đó.

FBI nói rất rõ những người ở Hoa Kỳ được bảo vệ các quyền và tự do của họ, dù có bất cứ quốc tịch nào, không bắt buộc phải có quốc tịch Mỹ; FBI khuyến khích báo cáo các trường hợp nghi ngờ TNR. Điều này rất quan trọng đối với cộng đồng Việt Nam. Không cần phải là công dân Hoa Kỳ mới được bảo vệ khỏi TNR trên đất Mỹ.

Nghị quyết 23 sẽ được kiểm nghiệm không phải bằng lời hứa “lắng nghe quan điểm khác biệt”, mà bằng cách Nhà nước Việt Nam đối xử với những người Việt ở nước ngoài có quan điểm khác biệt như thế nào.

Và đó chính là ranh giới giữa hòa hợp dân tộc và đàn áp xuyên quốc gia.

Mai Thanh Truyết

Con đường Việt Nam

Houston – Tháng 8-2026

 

Saturday, August 15, 2026

 


Nghị quyết 23 dưới mắt người Hoa Kỳ

 

Nghị quyết 23 gồm 8 trang do TBT CS Tô Lâm ký ngày 2/8/2026. Hình dưới đây là bản chụp trang thứ 8 của Nghị quyết:

 


Nghị quyết số 23-NQ/TW, ban hành ngày 2 tháng 8 năm 2026, được xem là một nỗ lực mang tính chiến lược và thực tiễn của Việt Nam nhằm khai thác tiềm năng của cộng đồng người Việt ở nước ngoài, đặc biệt là cộng đồng người Mỹ gốc Việt đông đảo và có tầm ảnh hưởng lớn. Thay vì chỉ chú trọng vào các mối liên hệ tình cảm hay nguồn kiều hối, chính sách này được nhìn nhận như một bước mở đường về mặt thể chế để tận dụng nguồn vốn trí tuệ, công nghệ và các mạng lưới toàn cầu từ cộng đồng tại Hoa Kỳ.

 

Dưới đây là những câu Vấn – Đáp được góp nhặt từ nhiều nguồn trên mạng xã hội về nội dung Nghị quyết ảnh hưởng lên người Việt hải ngoại và hành pháp Hoa kỳ như thế nào.

 

Câu hỏi 1: FBI, CIA hay chính phủ Hoa Kỳ có thể xem Nghị quyết 23 của Việt Nam là một hành động "khủng bố" hay “đàn áp” người Việt hải ngoại hay không?


Đáp 1: Có thể, nhưng tôi sẽ không gọi Nghị quyết 23 là “khủng bố” theo nghĩa pháp lý của Hoa Kỳ nếu chỉ căn cứ vào nội dung của một nghị quyết chính trị. Cách gọi chính xác hơn, nếu nghị quyết được dùng để gây sức ép lên người Việt ở Mỹ, là “Đàn áp xuyên quốc gia” (transnational repression – TNR) hoặc, tùy hành vi cụ thể, “ảnh hường xấu từ nước ngoài - foreign malign influence”.

Điểm này rất đáng chú ý vì FBI hiện đã có một khung khái niệm khá rõ.

1. FBI phân biệt rất rõ “khủng bố” và “đàn áp xuyên quốc gia”: FBI định nghĩa transnational repression là khi một chính phủ nước ngoài vượt ra ngoài biên giới của mình để đe dọa, bịt tiếng nói, cưỡng ép, quấy nhiễu hoặc gây hại cho cộng đồng người của mình ở nước ngoài. Các hình thức có thể gồm theo dõi, đe dọa, gây áp lực lên gia đình, hacking, kiện tụng lạm dụng, ép hồi hương, bắt cóc, hành hung, thậm chí ám sát.

Đặc biệt, FBI Dallas vừa nhấn mạnh năm 2026 rằng TNR có thể nhằm vào dissidents, political activists, journalists, political opponents, và không chỉ người Việt còn quốc tịch Việt Nam mà cả những người có liên hệ với quốc gia đó.

Trong khi đó, khái niệm terrorism của luật Mỹ tập trung vào việc sử dụng force or violence để cưỡng ép hoặc đe dọa dân chúng/chính quyền nhằm đạt mục tiêu chính trị.

Vì vậy: Một nghị quyết đàn áp về mặt chính trị ≠ tự động trở thành “terrorism”.

Nhưng những hành động được thực hiện để thi hành nghị quyết ở ngoài lãnh thổ Việt Nam có thể trở thành transnational repression, và trong trường hợp có bạo lực thì có thể phát sinh những tội danh nghiêm trọng hơn.

2. Điều tôi thấy đáng quan tâm hơn là: Nghị quyết 23 có thể được Mỹ nhìn dưới lăng kính TNR hay không?

Có thể, nếu nghị quyết tạo cơ sở cho việc truy đuổi, đe dọa hoặc cưỡng ép người Việt ở nước ngoài. Chúng ta cần phân biệt hai tầng:

Tầng 1 – Văn bản chính trị trong lãnh thổ Việt Nam: Ví dụ Việt Nam ban hành nghị quyết nhằm quản lý, kiểm soát hoặc xử lý những người mà chính quyền xem là chống đối. Từ đó, Hoa Kỳ có thể phê phán về nhân quyền, nhưng điều đó chưa đủ để FBI gọi nghị quyết ấy là terrorism.

Tầng 2 – Nghị quyết được triển khai vượt biên giới: Nếu từ đó xuất hiện những hoạt động như: theo dõi người Việt tại Hoa Kỳ; thu thập thông tin về các nhà hoạt động; gây áp lực lên thân nhân ở Việt Nam; đe dọa người đang sống tại Mỹ; dùng người trung gian để sách nhiễu; hacking; cưỡng ép người đó trở về Việt Nam; đe dọa hoặc dùng bạo lực; tìm cách bắt cóc hoặc gây thương tích; … thì đây chính xác là loại hành vi mà FBI gọi là transnational repression.

3. Và đây là điểm rất quan trọng đối với cộng đồng Việt Nam

FBI không chỉ quan tâm đến việc một người có phải là “đối thủ chính trị” hay không. FBI nói rõ rằng TNR có thể tạo ra “chilling effect”: ngay cả những người chưa trực tiếp bị nhắm tới cũng sợ rằng mình có thể bị theo dõi hoặc trừng phạt nếu lên tiếng, từ đó tự im lặng. Điều này rất gần với trường hợp một chính quyền nước ngoài muốn tác động đến cộng đồng diaspora ở Hoa Kỳ.

Nói cách khác, nếu một nghị quyết tạo ra một hệ thống khiến người Việt ở Mỹ phải nghĩ:“Nếu tôi lên tiếng chống chính quyền Việt Nam thì tôi hoặc gia đình tôi ở Việt Nam sẽ gặp chuyện”, thì bản thân hiệu ứng sợ hãi đó đã nằm trong phạm vi mà FBI quan tâm khi nghiên cứu TNR, dù chưa xảy ra bạo lực.

4. CIA thì sao?


CIA có vai trò khác FBI. FBI chịu trách nhiệm chính về các hoạt động đe dọa hoặc vi phạm pháp luật xảy ra trên lãnh thổ Hoa Kỳ, trong đó có TNR và foreign malign influence. FBI cũng có một Foreign Influence Task Force để chống các hoạt động ảnh hưởng nước ngoài mang tính bí mật, cưỡng ép hoặc bất hợp pháp.

CIA chủ yếu là cơ quan tình báo đối ngoại. Vì vậy CIA có thể quan tâm đến việc một chính phủ nước ngoài sử dụng mạng lưới của mình ở nước ngoài như thế nào, nhưng không phải CIA là cơ quan quyết định một nghị quyết của Việt Nam có phải “terrorism” theo luật Mỹ hay không.

5. Chính phủ Hoa Kỳ có thể phản ứng như thế nào?

Đây mới là phần đáng chú ý. Washington có thể không gọi Nghị quyết 23 là “terrorism”, nhưng có thể xem những hoạt động phát sinh từ nó dưới các phạm trù: Transnational repression → Foreign malign influence → Counterintelligence → Human-rights violations

và nếu có hành vi phạm luật Mỹ thì có thể chuyển sang criminal investigation.

Đáng chú ý, một dự luật tại Quốc hội Mỹ trong khóa 119 — Vietnam Human Rights Act (H.R. 3122) — đã đề cập trực tiếp đến việc bảo vệ công dân và doanh nghiệp Mỹ trước cyber-espionage và transnational repression do Bộ Công an Việt Nam tiến hành, đồng thời đề xuất các biện pháp trừng phạt đối với những quan chức Việt Nam chịu trách nhiệm về một số vi phạm nhân quyền. Đây mới là dự luật, không nên hiểu là luật đã có hiệu lực, nhưng nó cho thấy vấn đề Việt Nam–TNR đã được đưa vào nghị trình lập pháp Mỹ.

Vì vậy, cách diễn đạt vấn đề Nghị quyết 23 hiện nay có thể như sau:

·         Không nên đặt câu hỏi: “Hoa Kỳ có coi Nghị quyết 23 là một hành động khủng bố hay không?” Mà chính xác hơn là: “Hoa Kỳ có thể xem việc Việt Nam sử dụng Nghị quyết 23 làm cơ sở để theo dõi, đe dọa, cưỡng ép hoặc trừng phạt người Việt ở Hoa Kỳ là một hình thức transnational repression hay không?”

·         Câu trả lời là: Có, hoàn toàn có khả năng, nếu có bằng chứng về những hành động vượt biên giới như vậy.

Và đây là một khác biệt rất quan trọng về mặt pháp lý: không cần phải gọi nó là “terrorism” thì chính phủ Hoa Kỳ mới có thể can thiệp. TNR tự nó đã là một vấn đề mà FBI công khai xác định là đe dọa đối với chủ quyền Hoa Kỳ, quyền tự do và an toàn của những người sống tại Mỹ.

Câu hỏi 2: Khi đi sâu hơn vào chính Nghị quyết 23, xin phân tích từng điều khoản của nghị quyết và chỉ ra điểm nào có thể bị cộng đồng người Việt hải ngoại hoặc chính phủ Mỹ xem là “transnational repression”, điểm nào chỉ là chính sách nội bộ của Việt Nam. Đây sẽ là cách phân tích pháp lý, chính trị chính xác hơn nhiều. Và case study trong trường hợp của vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh tại Đức như thế nào”

Đáp 2: Trường hợp Trịnh Xuân Thanh bị bắt cóc tại Berlin ngày 23/7/2017. Đây là một trường hợp rất quan trọng nếu chúng ta đang bàn về khái niệm “đàn áp xuyên quốc gia”. Đức nhìn vụ này như thế nào? Không phải chỉ là một cáo buộc chính trị của cộng đồng người Việt. Tòa án Đức đã xét xử và kết án những người tham gia.

Trịnh Xuân Thanh, một cựu cán bộ và lãnh đạo doanh nghiệp nhà nước Việt Nam, đã sang Đức và xin tị nạn. Ngày 23/7/2017, ông bị một nhóm người cưỡng ép đưa lên xe ngay tại Berlin, sau đó bị đưa qua nhiều nước và cuối cùng trở về Việt Nam. Các cơ quan tố tụng Đức xác định đây là một chiến dịch của tình báo Việt Nam.

Điều đặc biệt quan trọng là:

  • Năm 2018, một người tham gia bị Kammergericht Berlin kết án 3 năm 10 tháng tù về tội hoạt động tình báo và đồng lõa tước đoạt tự do.
  • Năm 2023, một người khác bị kết án 5 năm tù với các tội danh liên quan đến hoạt động tình báo và hỗ trợ vụ bắt cóc.
  • Tòa Đức mô tả đây là một hoạt động của tình báo Việt Nam, và vụ việc được đánh giá là vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Đức.

Nói cách khác, đối với Đức, đây không phải chỉ là “một vụ bắt người để xử lý tội phạm”. Đây là một chính quyền nước ngoài tổ chức một chiến dịch cưỡng bức bắt một người trên lãnh thổ Đức và đưa người đó ra khỏi Đức.

Nếu đặt vụ Trịnh Xuân Thanh bên cạnh khái niệm Transnational Repression (TNR) mà FBI hiện sử dụng, chúng ta thấy một sự tương đồng rất rõ:

Chính quyền Việt Nam → nhắm vào một người mà họ coi là đối tượng chính trị → người đó ở nước ngoài → sử dụng mạng lưới tình báo/nhân sự để cưỡng ép → đưa người đó trở về Việt Nam.

Đó chính là dạng hành vi cực đoan nhất của đàn áp xuyên quốc gia. Thậm chí, vụ Berlin còn nghiêm trọng hơn rất nhiều so với việc theo dõi hay gây áp lực tâm lý, bởi ở đây có hành vi physical abduction – bắt cóc bằng vũ lực. Nếu sau này có một nghị quyết của Việt Nam đưa ra những biện pháp nhằm vào người Việt ở nước ngoài, chúng ta không nên vội gọi bản thân nghị quyết đó là “khủng bố”.

Thay vào đó, hãy đặt câu hỏi: Nghị quyết ấy có tạo cơ sở hoặc chỉ đạo cho những hoạt động của Nhà nước Việt Nam vượt ra ngoài lãnh thổ Việt Nam để theo dõi, đe dọa, cưỡng ép, bắt cóc hoặc trừng phạt những người đang sinh sống hợp pháp tại nước ngoài hay không?

Nếu có bằng chứng, thì vụ Trịnh Xuân Thanh chính là một tiền lệ cực kỳ quan trọng để hiểu mức độ nghiêm trọng của vấn đề, và có một ranh giới rất rõ:

·         Phê phán một người Việt ở hải ngoại → chính trị.

·         Theo dõi người đó → có thể là TNR. Đe dọa gia đình để buộc họ im tiếng → TNR.

·         Hacking, cưỡng ép, bắt cóc → TNR ở mức rất nghiêm trọng và có thể cấu thành nhiều tội hình sự.

Vụ Trịnh Xuân Thanh đã cho thấy ranh giới cuối cùng đó thực sự có thể bị vượt qua. Điều đáng nói nữa là tòa án Đức nhận định hoạt động này là “một hoạt động dưới sự chỉ đạo của tình báo Việt Nam”, và một bản án năm 2018 gọi đây là một vụ việc chưa từng có trong lịch sử gần đây của CHLB Đức, đồng thời là hành động vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế.

Vì vậy, nếu gắn liền mối liên quan về vụ Berlin 2017 → Nghị quyết 23 → người Việt hải ngoại → TNR, là đang đặt đúng câu hỏi. Nhưng cần tách bạch thật kỹ giữa nội dung của Nghị quyết 23 và những hành động cụ thể được thực hiện dựa trên nghị quyết đó. Chính sự khác biệt này quyết định liệu Hoa Kỳ/Đức có thể xem xét vấn đề ở cấp độ pháp lý hay chỉ ở cấp độ chính trị–nhân quyền.

Câu hỏi 3: Cho biết chi tiết và phân tích nội dung nghị quyết 23.

Đáp 3: Toàn văn Nghị quyết 23-NQ/TW ngày 2/8/2026 của Bộ Chính trị về công tác người Việt Nam ở nước ngoài: Đây là văn bản mới, thay thế Nghị quyết 36-NQ/TW năm 2004. Bộ Ngoại giao cũng đã đăng bản chính thức của nghị quyết. Cần đọc Nghị quyết 23 ở hai tầng: một mặt là chính sách “thu hút và hòa hợp kiều bào”; mặt khác là cơ chế tổ chức, thông tin và “đấu tranh” đối với những người mà chính quyền xem là chống đối. Chính tầng thứ hai mới liên quan đến câu hỏi trước về FBI/CIA và “transnational repression”.

1. Trước hết: Nghị quyết 23 không phải là một nghị quyết “khủng bố người Việt hải ngoại”. Nếu đọc nguyên văn một cách công bằng, phần lớn Nghị quyết 23 không có nội dung đàn áp. Ngược lại, nghị quyết nói khá nhiều điều có vẻ tích cực:

  • Coi người Việt Nam ở nước ngoài là “bộ phận không tách rời” của dân tộc;
  • Coi cộng đồng hải ngoại là “nguồn lực chiến lược quan trọng”;
  • Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người Việt ở nước ngoài;
  • Tạo điều kiện về quốc tịch, nhà ở, đầu tư;
  • Thu hút trí thức, khoa học gia, doanh nhân;
  • Cho phép người Việt ở nước ngoài tham gia một số tổ chức chính trị-xã hội trong nước;
  • Khuyến khích đóng góp ý kiến vào chính sách;
  • Nhấn mạnh hòa hợp dân tộc và “gác lại quá khứ, hướng tới tương lai”.

Đặc biệt, có một câu rất đáng chú ý: “Đảng và Nhà nước “lắng nghe… kể cả những quan điểm khác biệt nhưng không phương hại đến lợi ích quốc gia - dân tộc.” Đây là một điểm mới và tích cực về mặt ngôn ngữ chính trị so với cách tiếp cận cứng rắn trước đây. Nhưng vấn đề nằm ở chỗ: quan điểm khác biệt” được phép đến đâu, và ai quyết định thế nào là “phương hại đến lợi ích quốc gia-dân tộc”?

Đó mới là câu hỏi lớn.

2. Điểm quan trọng nhất: Nghị quyết 23 vừa “thu hút” vừa “kiểm soát”

Có thể tóm tắt chính sách của Nghị quyết 23 bằng một công thức: Thu hút → kết nối → tổ chức → thông tin → huy động → đấu tranh. Đây là điểm khác biệt đáng chú ý. Nghị quyết không chỉ nói về việc bảo vệ kiều bào hay thu hút đầu tư. Mà nó xây dựng một hệ thống quản lý cộng đồng người Việt toàn cầu.

Chẳng hạn, nghị quyết yêu cầu:

  • Tăng cường lãnh đạo của Đảng;
  • Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài chịu trách nhiệm;
  • Theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, giám sát;
  • Phát triển hội đoàn;
  • Phát hiện và bồi dưỡng “đội ngũ nòng cốt”, đặc biệt là giới trẻ;
  • Bố trí cán bộ/bộ phận chuyên trách về cộng đồng tại các cơ quan đại diện ở nước ngoài;
  • Xây dựng và liên lạc cơ sở dữ liệu về người Việt Nam ở nước ngoài.

Đây là một bước tiến đáng kể về năng lực tổ chức và tiếp cận cộng đồng trong tương lai.

3. “Đội ngũ nòng cốt” là một điểm cần đặc biệt chú ý

Nghị quyết nói:“Phát hiện, bồi dưỡng đội ngũ nòng cốt, nhất là thế hệ trẻ trong các hội đoàn.” Đồng thời, nghị quyết chủ trương mở rộng và củng cố các hội đoàn, mạng lưới người Việt Nam ở nước ngoài, kết nối họ với trong nước. Về mặt tích cực, điều này có thể đơn giản có nghĩa là giúp thế hệ trẻ Việt Nam ở nước ngoài giữ tiếng Việt, văn hóa và quan hệ với quê hương.

Đây, không có gì bất thường. Nhưng về mặt chính trị, nó cũng có một hàm ý khác: Hà Nội muốn xây dựng những mạng lưới có tổ chức trong cộng đồng diaspora.

Và nếu các mạng lưới đó được sử dụng để gây áp lực chính trị, theo dõi người bất đồng chính kiến hoặc vận động chống lại những người chỉ trích chính quyền, thì vấn đề sẽ chuyển từ “diaspora engagement” sang foreign influence / transnational repression.

Đây là điểm thiết nghĩ FBI Hoa Kỳ sẽ quan tâm.

4. Điểm nhạy cảm nhất: Điều 397. Đây là đoạn phải đọc kỹ nhất nếu muốn kết nới mối liên quan giữa Nghị quyết 23 với “Xuyên quốc già đàn áp – TNR”.

Nghị quyết nói rằng cộng đồng người Việt ở nước ngoài có vai trò “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa”, và “Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, các hoạt động lợi dụng người Việt Nam ở nước ngoài để chống phá đất nước.”

Đồng thời, nghị quyết nói đến việc xây dựng cơ sở dữ liệu về người Việt Nam ở nước ngoài. Ở đây xuất hiện ba thành tố: diaspora + information + counter-opposition. Đó chính là nơi cần theo dõi khi triển khai thực tế. Nó tạo ra một khung chính trị để tiến hành hoạt động “đấu tranh” đối với những người bị chính quyền coi là “sai trái”, “thù địch” hoặc “chống phá”.

Đây chính là vùng xám cần theo dõi.

5. Một điểm khác còn đáng chú ý hơn: “thông tin, tuyên truyền”

Nghị quyết dành riêng mục 6 cho vấn đề thông tin, tuyên truyền về việc khuyến khích người Việt ở nước ngoài:

  • Thông tin về đường lối, chủ trương của Đảng;
  • Tuyên truyền chính sách, pháp luật Nhà nước;
  • Quảng bá hình ảnh Việt Nam;
  • Chia sẻ thông tin về sự phát triển và vị thế của Việt Nam;
  • Tham gia hợp tác trong công tác thông tin, tuyên truyền về Việt Nam tại nước sở tại.

Điều này có thể được hiểu theo cách rất bình thường: Vietnam public diplomacy; nhiều quốc gia đều làm như vậy. Nhưng nếu hoạt động này chuyển sang việc tổ chức người Việt tại Mỹ để gây áp lực lên các nhà báo, chính trị gia, học giả hoặc tổ chức Mỹ đang phê bình chính quyền Việt Nam, thì câu chuyện hoàn toàn khác. Khi đó, nó có thể trở thành foreign influence operation.

6. “Cơ sở dữ liệu người Việt Nam ở nước ngoài” cũng cần được chú ý

Nghị quyết yêu cầu: “Xây dựng, liên thông, vận hành hiệu quả cơ sở dữ liệu về người Việt Nam ở nước ngoài.” Về hành chính, đây có thể là việc hoàn toàn hợp lý để biết số lượng kiều bào; chuyên gia nào ở đâu; doanh nhân nào; nhà khoa học nào; nhu cầu lãnh sự; hỗ trợ công dân v.v… Nhưng từ góc độ an ninh quốc gia của Hoa Kỳ, câu hỏi sẽ là:

Dữ liệu đó chứa những gì? Ai được truy cập? Dùng vào mục đích gì? Có thu thập thông tin chính trị của người Việt tại Mỹ hay không?

Nếu chỉ là tên, địa chỉ liên lạc, nghề nghiệp, nhu cầu lãnh sự thì chẳng có gì đặc biệt. Nhưng nếu trở thành danh sách những người chống chính quyền, tổ chức nào họ tham gia, ai phát biểu gì, ai tài trợ ai, gia đình họ ở đâu...thì mức độ rủi ro hoàn toàn khác.

7. Vậy FBI sẽ nhìn Nghị quyết 23 như thế nào?

ba mức.

Mức 1 - Chính sách kiều bào: Việt Nam nói:“Hãy giữ tiếng Việt, đầu tư về Việt Nam, đóng góp cho đất nước, quảng bá Việt Nam.” Như vậy, không có vấn đề gì về mặt an ninh Hoa Kỳ.

Mức 2 - Foreign influence: Việt Nam tổ chức mạng lưới người Việt tại Mỹ để quảng bá chính sách của Việt Nam, vận động chính trị, gây ảnh hưởng đến dư luận, thì Hoa Kỳ có thể quan tâm đến foreign influence, tùy cách thức hoạt động.

Mức 3 - Transnational repression: Nếu mạng lưới đó được dùng để theo dõi, đe dọa, cưỡng ép, trả đũa hoặc gây hại cho người Việt ở Mỹ vì họ chỉ trích chính quyền Việt Nam, thì đây, chính là lúc FBI có cơ sở quan tâm trực tiếp đến TNR. FBI hiện định nghĩa TNR chính là việc chính quyền nước ngoài sử dụng các biện pháp vượt biên giới để đe dọa hoặc cưỡng ép những người ở nước ngoài.

8. Nghị quyết 23 có một nghịch lý rất đáng suy nghĩ

Nó vừa nói:“không phân biệt... xuất thân, địa vị xã hội” và:“lắng nghe… những quan điểm khác biệt”, nhưng đồng thời lại nói:“đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch”, và: “các hoạt động… chống phá đất nước.”

Vấn đề nằm ở ranh giới giữa “quan điểm khác biệt” và “quan điểm thù địch”.

·         Nếu ranh giới này được xác định rộng như phê bình chính phủ = chống phá, thì Nghị quyết 23 có thể trở thành công cụ kiểm soát tiếng nói chính trị.

·         Nhưng nếu ranh giới được xác định hẹp như bạo lực, gián điệp, phá hoại, tội phạm thực sự = chống phá; phê bình chính sách = quyền tự do thì nghị quyết có thể vận hành theo hướng hòa giải và thu hút kiều bào. Thiết nghĩ, điều sau nầy rất khó nằm trong suy diễn của những người viết ra nghị quyết.

 

9. Kết luận


Không thấy có bằng chứng nào để gọi Nghị quyết 23 là một “hành động có thể đưa đến khủng bố” người Việt hải ngoại. Nhưng suy nghĩ nầy cũng cần nên được lưu ý, chứ chưa hẵn được loại trừ như trường hợp của Trịnh Xuân Thanh chẳng hạn. Nên nhớ, người ký Nghị quyết trên chính là thủ phạm của vụ bắt cóc TXT bên Đức năm 2017.

Nhưng thấy có một số điều khoản trong nghị quyết đáng được cộng đồng người Việt khắp nơi theo dõi kỹ, đặc biệt là:

  1. “Phát hiện, bồi dưỡng đội ngũ nòng cốt”;
  2. Mở rộng và củng cố hội đoàn, mạng lưới người Việt;
  3. “Đấu tranh phản bác” các quan điểm bị coi là sai trái, thù địch;
  4. “Bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa”;
  5. Xây dựng/liên thông cơ sở dữ liệu người Việt Nam ở nước ngoài;
  6. Tăng cường cán bộ chuyên trách tại cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài;
  7. Tổ chức thông tin, tuyên truyền về Việt Nam tại nước sở tại.

Nếu từng điều riêng rẻ thì chưa phải là TNR. Nhưng nếu bảy chính sách trên được triển khai tại Hoa Kỳ cùng một lúc, nhằm theo dõi, gây áp lực, đe dọa, trả đũa hoặc cưỡng ép người Việt vì hoạt động chính trị hợp pháp của họ, thì đó lại là một vấn đề hoàn toàn khác, và lúc đó khái niệm transnational repression của FBI trở nên trực tiếp và rất phù hợp.

Và đây chính là điểm đáng để chúng ta nghiên cứu tiếp: không chỉ đọc Nghị quyết 23, mà phải so sánh Nghị quyết 23 với Nghị quyết 36 năm 2004, rồi lập một “bản đồ” những quyền hạn/cơ chế mới mà Nghị quyết 23 tạo ra đối với người Việt ở nước ngoài. Từ đó chúng ta mới biết Nghị quyết 23 thực sự “mới” ở chỗ nào và chỗ nào có thể tạo rủi ro cho TNR – Đàn áp xuyên quốc gia.

Mai Thanh Truyết

Góp nhặt cát đá

Houston – 15-8-2026