Tuesday, June 30, 2026

 Con đường GS Nguyễn Ngọc Huy, Anh Ba đi

Phần I – Câu chuyện Hội đàm Paris 1968 – 1973

 


Những lời tâm tình của người viết: Bạn đọc loạt bài dưới đây trả dài qua ký ức hơn 60 năm qua, từ những ngày còn là một câu sinh viên xa lạ lang thang trên những nẻo đường Paris, cho đến những ngày tha hương của một ông già 84 tuổi nơi quê hương tạm dung Hoa Kỳ. Có thể nói, GS Nguyễn Ngọc Huy và tôi có một duyên tình hết sức đặc biệt, mỗi lần gặp nhau đều trong những trường hợp đặc biệt, buồn nhiều hơn vui. Người viết đã từng “ăn mòn răng” ở một quán ăn nhỏ ở quận 5 ème Paris (sẽ ráng nhớ tên), lúc GS đã về lại Việt Nam rồi. Quán nầy mở ra vào đầu thập niên 60 của thế kỷ trước, được xử dụng như làm nơi hội họp và kinh tài của Đảng Đại Việt do BS Nguyễn Tôn Hoàn và GS Nguyễn Ngọc Huy phụ trách. Quán do nhạc sĩ Phạm Trọng Cầu quản lý. Do duyên tình đưa đầy, người viết gặp được Gs lần đầu tiên trong giai đoạn Hội đàm Paris tại Tòa Đại sứ Việt Nam tại Pháp do Cố vấn Văn hóa, BS Trần Văn Bình (Bs riêng của cố Tổng thống Trần Văn Hương sau đó) triệu tập. Kết qua là tôi được danh dự làm hướng dẫn viên cho phái đoàn của GS, Bs Trần Văn Bình đi vận động và thăm hỏi đồng hương và sinh viên miền Đông nước Pháp. Chuyến đi dài nhứt trong đời cùng với GS hơn một tuần lễ gây nhiều ấn tượng trong tôi. GS Huy có rất nhiều điều cần học hỏi.

 

Lần gặp GS lần thứ hai và sau đó nhiều lần năm 1973 khi tôi về nước, hoặc ở nhà riêng 2/57 (?) Đường Cao Thắng, một hẻm bên cạnh Nhà sản xuất bàn ghế Anh Đào của gia đình bạn tôi là Nguyễn Đại Thức và Nguyễn Đại Thể. Những lần gặp GS cùng với TS Phan Văn Song để thảo luận về cung cách làm thế nào đẩy mạnh ảnh hưởng của Phong trào Quốc gia Cấp tiến và Đảng Tân Đại Việt  lên sinh viên và giáo sư ở miền Nam. Và chính vì thế, mà TS Phan Văn Song hiện diện và là Viện trưởng Đại Học Cao đẳng Thương mãi Minh Trí, và tôi, Giám đốc Học vụ Viện Đại học Cao Đài Tây Ninh. Kế tiếp, xin trích từ bài viết của Song:” Thừa lệnh Giáo sư, tôi đã giới thiệu Truyết vào Đảng và Truyết bí mật «Tê Đơ» Tân Đại Việt tại nhà Ông Cụ tôi, là anh Ba Xướng, đường Nguyễn Duy Dương, sau lưng trường Nam Sinh Mù chợ An Đông. Hôm ấy có mặt Giáo sư do ông cậu tôi là Thiếu tá Nguyễn Trọng Đệ chở đến.

Lần gặp GS tiếp theo là ngày viếng quan tài của Bà NN Huy, mất vì tai nạn ở Vũng Tàu tại tư gia đường Cao Thắng.

 

Qua hải ngoại, lần đầu năm 1986, tình cờ tôi gặp GS tại Boston nhân chuyến đi thăm người học trò Nguyễn Đình Tấn, Kỹ sư hóa học, được cho biết là GS đang ở tầng thứ ba trong một căn phòng kiến trúc xưa, dành riêng cho “người hầu” trong nhà (chambre de bonne). Căn phòng rất nhỏ, mái nghiên và trần rất thấp, chỉ có một ô vuông bằng kiếng độ 2 feet mỗi bề, và một chiếc bàn nhỏ làm văn phòng cho GS, bên cảnh một chiếc giường đơn nhỏ nhít và một kệ sách và đồ vật linh tinh. Và tầng thứ hai dành riêng cho ông bà Giác Đức. Còn gia đình người học trò ở tầng dưới cùng. Cuộc sống của GS là thế đó…

 

Và lần cuối cùng tôi gặp được GS là ở Minnesota năm 1987, lúc tôi làm postdoctoral cho National Institute of Health. Gặp GS hai lần trong hai buổi ăn sáng tại nhà GS Stephen Young. Lần cuối nầy, GS tiều tụy hơn trước nhiều do chứng ung thư cuống họng. Giọng nói ông yếu ớt, phát âm không thành tiếng rõ rệt, Ông có vẽ mệt mõi…

 

Và định mệnh đã mang GS Nguyễn Ngọc Huy vào vùng… miên viễn ngày 28 tháng 7 năm 1990 tại Paris, kết thúc một số kiếp của một người con Việt cô đơn và cô độc!

 

***

Xin có vài tóm lược về GS Nguyễn Ngọc Huy: Ông là thành viên của Đảng Đại Việt, tốt nghiệp Tiến sĩ Chính trị học năm 1961 tại Paris. Về Việt Nam Ông giảng dạy tại Học viện Quốc gia Hành chánh, Saigon. Nơi đây, Ông sang lập Phong trào Quốc gia Cấp tiến cùng với GS Nguyễn Văn Bông, Viện trưởng HVQGHC. Ông tham chính một thời gian rất ngắn qua vai trò Chánh sự vụ, bên cạnh Tướng Nguyễn Khánh đầu năm 1964. Tháng 11/1964, Ông vùng với BS Nguyễn Tôn Hoàn thành lập Đảng Tân Đại Việt và nắm vai trò Tổng Thơ Ký. Cuộc đời của GS Nguyễn Ngọc Huy dường như đã được an bài và gắn liền với Paris: Tốt nghiệp ở Paris. Trong thời Đệ II Cộng hòa Ông được đề cử là Cố vấn cho phái đoàn VNCH tham dự Hội đàm Paris năm 1968 – 1973. Và sau cùng ngày 28/7/1990, Ông mất tại Paris trên đường đi vận động quốc tế cho một giải pháp Việt Nam. Quả thật đó là một định mệnh oan nghiệt cho Ông. Quốc gia mất đi một người con Việt yêu dấu!

GS Nguyễn Ngọc Huy là một trong những nhân vật chính trị và học giả có ảnh hưởng lớn ở miền Nam Việt Nam trước năm 1975. Trong giai đoạn diễn ra cuộc đàm phán tại Hội nghị Paris về chấm dứt chiến tranh và tái lập hòa bình ở Việt Nam, ông không phải là thành viên chính thức của phái đoàn Việt Nam Cộng hòa, nhưng lại đóng một vai trò quan trọng trên mặt trận chính trị, học thuật và vận động dư luận quốc tế.

1-    Vai trò một nhà chiến lược chính trị


Các bên chính thức tham gia Hội nghị Paris gồm: Hoa Kỳ - Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (miền Bắc) - Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam - Việt Nam Cộng hòa. Phái đoàn Việt Nam Cộng hòa do Đại sứ tại Pháp, Phạm Đăng Lâm làm Trưởng phái đoàn; sau đó là  Phụ tá Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, Ông Nguyễn Phú Đức, đảm trách.

GS Nguyễn Ngọc Huy không giữ chức vụ chánh thức trong đoàn đàm phán này. Trong thời gian ở Pháp và châu Âu, GS Nguyễn Ngọc Huy hoạt động trên ba mặt:

  • Nghiên cứu chính trị và đóng góp ý kiến cùng nghiên cứu các phản biện cho phái đoàn VNCH;
  • Tiếp xúc giới học giả và báo chí, sinh viên và đồng hương cự ngụ tại Pháp;
  • Vận động dư luận quốc tế ủng hộ lập trường của Việt Nam Cộng hòa.

Ông cho rằng cuộc chiến Việt Nam không đơn thuần là nội chiến mà nằm trong bối cảnh đối đầu của Chiến tranh Lạnh, cuộc chiến ý thức hệ, đồng thời nhấn mạnh quyền tự quyết của người dân miền Nam.

2- Phản biện lập luận của Hà Nội

Một đóng góp đáng chú ý của Ông là xây dựng các lập luận học thuật chánh trị nhằm phản bác quan điểm của phía cộng sản Bắc Việt. Ông thường nhấn mạnh những nét căn bản trong ký kết ở Geneve ngày 20/7/1954 (xin ghi nhớ VNCH không có ký) rằng:

·        


Hiệp định Genève không trao chủ quyền giám sát toàn thể Việt Nam cho nhà cầm quyền Hà Nội;

  • Việt Nam Cộng hòa là một thực thể chánh trị có bộ máy nhà nước và liên quan ngoại giao với quốc tế riêng rẽ, có những cuộc phổ thông đầu phiếu công khai và dân chủ;
  • Việc sử dụng lực lượng quân sự từ miền Bắc vào miền Nam là yếu tố sau hiệp định Geneve của Bắc Việt là vi phạm Hiệp định, và làm leo thang chiến tranh.

Những lập luận này được trình bày trong các bài nghiên cứu, hội thảo và các cuộc tiếp xúc riêng với các học giả phương Tây.

3- Liên lạc với giới trí thức Pháp

Trong thời gian Hội nghị Paris kéo dài gần năm năm, Paris trở thành trung tâm tranh luận quốc tế về Việt Nam. GS Nguyễn Ngọc Huy đã diễn thuyết tại nhiều diễn đàn, gặp gỡ các giáo sư đại học ở Pháp và các quốc gia như Thụy Sĩ, Bỉ, Đức và Hòa Lan, trao đổi thường xuyên với giới báo chí Tây phương …nhằm giải thích rõ lập trường của Việt Nam Cộng hòa bằng tiếng Pháp và tiếng Anh.

Nhờ nền tảng học thuật và khả năng ngoại ngữ, ông được đánh giá là một trong những trí thức Việt Nam có sức thuyết phục trong các cuộc tranh luận quốc tế.

4- Đánh giá về Hiệp định Paris 1973

Sau khi Hiệp định Paris được ký kết, GS Nguyễn Ngọc Huy cho rằng:

  • Hoa Kỳ đã đạt được mục tiêu rút quân trong chính sách Việt Nam hóa chiến tranh.
  • Việt Nam Cộng hòa bị suy yếu về quân sự do việc giảm thiểu ngân sách quân sự và dân sự (USAID) cũng như làm suy yếu Việt Nam Cộng hòa trong lãnh vực  ngoại giao với quốc tế
  • Hiệp định Paris không tạo ra cơ cấu hữu hiệu để bảo đảm việc ngừng bắn ở miền Nam, cũng như ngăn chặn sự xâm nhập của quân đội Bắc Việt qua đường mòn Hồ Chí Minh.
  • Sự hiện diện của quân đội miền Bắc tại miền Nam vẫn còn mơ hồ, trong lúc đó, việc rút quân của quân đội Hoa Kỳ được xác nhận lịch trình chấm dứt sự hiện diện rất rõ ràng.  

Những nhận định trên về sau, được nhiều nhà nghiên cứu xem là có phần phù hợp với diễn biến dẫn đến sự sụp đổ của Việt Nam Cộng hòa năm 1975.

5 – Lượng giá chung


Nếu phân loại vai trò của GS Nguyễn Ngọc Huy trong giai đoạn Hội nghị Paris, chúng ta có thể tóm tắt lần lượt như sau:

-       Trong lãnh vực ngoại giao, vai trò của GS Nguyễn Ngọc Huy không phải là thành viên chánh thức của phái đoàn VNCH trong việc đàm phán;

-       Nhưng trong lãnh vực ngoại giao đại chúng, ông rất tích cực dấn thân ngày đêm cho công cuộc đấu tranh dành chánh nghĩa cho VNCH;

-       Về học thuật chánh trị, Ông phân tích và bảo vệ lập trường của VNCH;

-       Về chánh trị, Ông lãnh đạo Phong trào Quốc gia Cấp tiến nhằm đào tạo một tầng lớp trí thức cộng hòa mới dựa trên tinh thần dân chủ pháp trị, cũng như thành lập Đảng Tân Đại Việt, ngõ hầu xây dựng những cán bộ có trình độ lý luận dân chủ, quốc gia – cộng sản …nhằm đối đầu với triết lý cách mạng chuyên chính vô sản của CSBV;

-       Về mặt quốc tế, Ông, ngày đêm, tiếp xúc với các học giả, báo chí, và với giới chánh trị ở Pháp và các quốc gia Âu châu;

-       Đặc biệt, với tính giản dị và bình dân, Ông hòa mình vào lớp sinh viên, đồng hương trong khi đi vận động khắp nơi ở Pháp (người viết có duyên cơ đã đi cùng Ông ở nhiều nơi trong giai đọan nầy) như hòa mình ăn ngủ trong các trung tâm sinh viên giống như mọi người.

Nhiều sử gia nhìn nhận rằng nếu các trưởng đoàn đàm phán như Phạm Đăng Lâm hay Nguyễn Phú Đức là những người đại diện VNCH trên bàn hội đàm Paris, GS Nguyễn Ngọc Huy thuộc nhóm "kiến trúc sư tư tưởng" ở hậu trường. Ảnh hưởng của ông không nằm ở việc trực tiếp ký kết các văn kiện, mà ở việc hình thành và truyền bá cơ sở lý luận cho lập trường của Việt Nam Cộng hòa trong các diễn đàn học thuật và dư luận quốc tế. Đây là vai trò gián tiếp nhưng có ý nghĩa đáng kể trong bối cảnh cuộc chiến Việt Nam cũng là một cuộc đấu tranh về chính trị và tuyên truyền trên trường quốc tế.

Các phản biện của Nguyễn Ngọc Huy đối với lập trường của Hà Nội trong thời kỳ Hội đàm Paris (1968–1973) chánh yếu mang tính học thuật, pháp lý và chính trị, chứ không phải là những bài diễn văn công kích CSBV. Ông cố gắng sử dụng các nguyên tắc của luật lệ về bang giao quốc tế và khoa học chính trị để bảo vệ lập trường của Việt Nam Cộng hòa.


Rất tiếc, một tinh hoa của đất nước, một hòn ngọc của dân tộc đã ra đi rất sớm trên chặng đường tranh đấu cho độc lập tự do cho Việt Nam Cộng Hòa.

Chú thích: Qua những tài liệu, văn bản nghiên cứu của GS Nguyễn Ngọc Huy cùng những đúc kết trong những lần phản biện cùng phái đoàn cs Bắc Việt, có hai thành viên của phái đoàn hòa đàm là:

-       Ông Nguyễn Hữu Nghĩa, đặc trách báo chí cho phái đoàn, đã đúc kết và thành công trong tiểu luận cho bằng Maitrise ès Lettres ở Đại học Besancon;

-       LS Trần Thanh Hiệp, thành viên của phái đoàn cũng đã thành công trong luận án cho văn bằng Diplôme d’Études Approfondies en Droit ở cùng đại học trên.

Tất cả do người viết giới thiệu các vị trên với giáo sư bảo trợ và giúp đỡ trong những lần các vị trên về Besancon. Rất trân quý tinh thần học hỏi của hai vị, người thứ nhứt là bạn, thứ hai là bậc huynh trưởng. Cả hai vẫn còn mạnh khỏe và sống tại Paris.

Mời đọc tiếp Phần II- Phản bác trực diện với CSBV

Mai Thanh Truyết

Một thời Paris

Houston – 30-6-2026

 

Sunday, June 28, 2026

 Tình tự Dân tộc qua “Hận Sông Gianh” và “Hận Sông Bến Hải”

 

 


Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, có một bài thơ, sáng tác vào khoảng đầu thập niên 1950 nói về một nỗi đau của đất nước. Đó là bài “Hận Sông Gianh” của Đằng Phương tức GS Nguyễn Ngọc Huy đã đi vào lòng người miền Nam trước 1975. Và, trong một số bài viết chính luận và hồi ký, người ta thường dùng cụm từ:"Sau Hận Sông Gianh là Hận Sông Bến Hải" để ví von rằng sau nỗi đau chia cắt thời Trịnh–Nguyễn (Sông Gianh). Rồi đến nỗi đau chia cắt đất nước ở vĩ tuyến 17 (Sông Bến Hải) giai đoạn 1954–1975. Anh Việt Thu viết bài “Tám điệp khúc” khi vừa qua tuổi 20, tức là vào năm 1965. Bài nhạc ngũ cung rất đậm đà cái mùi của kiểu Nam Kỳ Lục Tỉnh. Tác giả thường nhắc đi nhắc lại:”Mẹ Việt Nam ơi! Hai mươi năm ngăn lối rẽ đường về - Mẹ Việt Nam ơi! Ai chia ly tan tác cả ngàn đời - Mẹ Việt Nam ơi! Con xin dâng xin hiến trọn cả đời."

 

Cả hai đều lấy tên một dòng sông làm biểu tượng nói lên những trăn trở về nỗi đau chia cắt đất nước. Quá khứ hơn 200 năm đối với Sông Gianh, và 20 năm đối với Sông Bến Hải, mãi cho đến hôm nay vẫn tiếp tục là một đề tài chúng ta suy gẫm, đề từ đó, có thể tìm một hướng đi mới cho tương lai Việt Nam. Với lời thơ:“Đây sông Gianh đây biên cương thống khổ Đây sa trường đây nấm mộ dân nam Đây giòng sông, giòng máu Việt còn loang Đây cổ độ xương tàn xưa”, nội dung nói về nỗi đau dân tộc vì cảnh phân tranh Trịnh–Nguyễn và sự chia cắt đất nước. Bài thơ này của thi sĩ Đằng Phương tức GS Nguyễn Ngọc Huy từng được nhiều thế hệ học sinh miền Nam biết đến trước 1975.

 

1-   


Điểm chung của hai dòng sông

 

Con sông Gianh ở Quảng Bình đã ghi dấu mốc lịch sử qua cuộc phân tranh Trịnh – Nguyễn vào thế kỷ 17, 18, và con sông Bến Hải, Quãng Trị nhắc nhở chúng ta về Hiệp định Genève, ký kết 20/7/1954 chia đôi đất nước qua vĩ tuyến 17. Nói về hai biến cố trên, kết quả là hận thù, tiếc nuối qua cuộc nội chiến dai dẳng giữa Đàng Trong và Đàng Ngoài. Ở thời Trịnh–Nguyễn, chiến tranh kéo dài hơn 200 năm làm cho đất nước suy yếu, ngoại bang có cơ hội can thiệp. Ở cuộc chiến ý thức hệ Bắc - Nam, có hàng triệu người chết và bị thương, gia đình ly tán, hận thù ý thức hệ kéo dài nhiều thế hệ cho đến ngày hôm nay 2026. Và dĩ nhiên, sau chiến tranh, sau ngày 30/41975, vẫn còn những vết thương chưa lành.

 

Cả các bài viết trên đều không nguyền rũa một bên nào. Tác giả chỉ “hận dòng sông” vô tình làm ranh giới ngăn đôi. Hận chứ không đau, chứ không phải kêu gọi trả thù. Và tình tự dân tộc thể hiện qua ba chữ: ĐAU - NHỚ - MONG.

·         Đau vì “một nhà” bị xé đôi, Nguyễn Ngọc Huy làm bài thơ “Hận Sông Gianh”, sau khi đất nước lại bị chia đôi lần nữa qua câu: “Non nước ngàn năm sao nỡ chia đôi”. Anh Việt Thu 1965 viết tiếp:“ Mẹ Việt Nam ơi! Hai mươi năm ngăn lối rẽ đường về - Mẹ Việt Nam ơi! Ai chia ly tan tác cả ngàn đời”, câu than thở cùng Mẹ Việt Nam vì ai mà dân tộc bi chia ly ngàn đời…chỉ vì vĩ tuyến 17. Nơi đây, người con Việt coi “non nước ngàn năm là một”, cho nên khi bị cắt đôi thì “đau như cắt ruột”.

·         Nhớ vì cùng một cội nguồn, cà hai bài đều nhắc “bến xưa”, “dòng sông”, “cầu”, “người yêu bên kia sông”. Sông Gianh/Bến Hải không phải sông của riêng ai. Người Bắc có họ hàng ở Nam, người Nam có mồ mả tổ tiên ở Bắc. Từ đó, tình dân tộc vẫn nhớ và còn nhận nhau là đồng bào. Dù chính kiến khác, dù sao vẫn còn, vẫn gọi “anh em một nhà”.

·         Mong vì không chấp nhận chia cắt mãi vì “Hận Sông Bến Hải” kết bằng “Ngày thống nhất, cầu nối đôi bờ”, “Hận Sông Gianh” dù tên là “Hận” nhưng thực chất là tiếc cho 200 năm Trịnh - Nguyễn nhằm nhắc chừng đừng để lịch sử lặp lại. Tình tự dân tộc nơi đây mong thống nhất không phải vì phe nào thắng, mà vì “Nam -  Bắc một nhà” mới là trạng thái bình thường của dân tộc.

 

Vận dụng “hận dòng sông” để nói lên một điều: “Người Việt sợ nhất là chia cắt. “Hận” ở đây không phải hận con người, mà hận hoàn cảnh, hận chiến tranh, hận ranh giới vô hình. Càng hận chia cắt, càng chứng tỏ tình yêu với “một dải non sông” vẫn còn nguyên vẹn. Vì vậy, bài thơ của Đằng Phương cho tới giờ, lời thơ trên vẫn được ngâm mãi. Không phải để khơi lại thù cũ, mà để nhắc rằng, đất nước nầy, dân tộc nầy, chỉ đẹp nhứt khi không còn sông nào làm đường ranh biên giới cả!   


Có phải "ngăn đôi đất nước" chỉ là lỗi của một phía?

 

Khúc quành của Sông Gianh

 

Nếu nhìn bằng lăng kính chính trị, mỗi phía đều có lý lẽ riêng, nếu nhìn bằng lăng kính dân tộc, người chết đều là người Việt, người mất nhà cửa đều là người Việt và người gánh hậu quả và phải chịu thiệt thòi cũng đều là người Việt. Do đó, người con Việt hôm nay có thể giữ quan điểm chính trị khác nhau, nhưng cũng cần thừa nhận một sự thật là chia cắt dân tộc luôn là bi kịch, không phải chiến thắng dù là của một phía nào.

Vì vậy, thái độ ứng xử hiện nay của những vị thức giả sẽ nên như thế nào?

Chúng ta không quên lịch sử, không phủ nhận sự thật lịch sử, không bóp méo quá khứ, không biến lịch sử thành công cụ tuyên truyền một chiều. Và chắc chắn chúng ta không nuôi dưỡng hận thù. Sau hơn 50 năm kể từ năm 1975, thế hệ trẻ không có trách nhiệm trả thù quá khứ và họ có trách nhiệm học từ quá khứ. Một dân tộc mạnh là dân tộc biết nhớ lịch sử, nhưng không sống bằng hận thù lịch sử. Người Việt trong nước, người Việt hải ngoại, người từng ở miền Bắc, người từng ở miền Nam, đều là thành phần của cộng đồng dân tộc Việt Nam.

Không ai có độc quyền yêu nước cả, kể cả Đàng Cộng sản Bắc Việt.

3-    Tình tự dân tộc cần được định nghĩa lại

 


Cầu Hiền Lương

 

Không phải là mọi người phải suy nghĩ giống nhau. Tình tự dân tộc cần được hiểu là cùng nhận chung một nguồn cội, cùng chia sẻ trách nhiệm với tương lai đất nước, cùng tôn trọng phẩm giá của đồng bào mình.  Người Việt có thể khác chính kiến, khác vùng miền, khác trải nghiệm lịch sử; nhưng vẫn có thể cùng mong muốn đất nước thịnh vượng, xã hội công bằng, môi trường được bảo vệ, con cháu có tương lai tốt đẹp hơn. Người Việt cần nên, dù bất đồng thế nào, vẫn nhận nhau là đồng bào. Tinh thần ấy từng được Nguyễn Trãi nhắc đến qua tư tưởng "lấy đại nghĩa thắng hung tàn", và qua Phan Châu Trinh khi đề cao “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”.

 

Người Việt thời trí tuệ nhân tạo - AI có thể rút gọn bài học của Sông Gianh và Sông Bến Hải thành một câu:”Chia rẽ làm dân tộc suy yếu; hòa giải trên nền tảng sự thật làm dân tộc mạnh lên”. Và có lẽ câu hỏi quan trọng nhất hôm nay không phải là:"Ai thắng trong quá khứ?" mà là:"Người Việt sẽ cùng nhau xây dựng tương lai như thế nào?".

 

Và câu hỏi:” Hận Sông Gianh, Hận Sông Bến Hải có làm mất tình tự dân tộc không? Câu trả lời ngắn sẽ là có thể làm suy yếu tình tự dân tộc, nếu hận thù được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Nhưng chúng ta không thể xóa bỏ hoàn toàn tình tự dân tộc, vì ý thức mình là người Việt vẫn tồn tại sâu trong văn hóa, ngôn ngữ và lịch sử chung. Không một cá nhân nào, một nhóm nào, một đảng phái nào… có thể triệt tiêu được tình tự dân tộc Việt hết cả! Đó là hồn nước, hồn thiêng sông núi. Đó là di sản của tổ tiên Việt. Và đó cũng là căn tính Việt.

4-    Bài học cho người Việt hôm nay

Nếu chỉ giữ lại hận Sông Gianh hay hận Sông Bến Hải, dân tộc sẽ tiếp tục bị quá khứ dẫn dắt.Nếu giữ lại bài học của Sông Gianh và bài học của Sông Bến Hải, dân tộc có thể trưởng thành hơn, và có những bước đi tích cực hơn. Có lẽ điều đáng suy ngẫm là không phải vì quên hận thù mà người ta mất chính nghĩa, mà vì biết đặt tương lai dân tộc cao hơn hận thù, người ta mới thực sự gìn giữ được tình tự dân tộc. Với tư thế của một người con Việt, dù đứng ở phía nào của lịch sử, câu hỏi cuối cùng vẫn là, điều gì có lợi nhất cho dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XXI?"

Khi câu hỏi ấy được đặt lên trước, hận thù thường nhỏ lại, còn tình tự dân tộc thường lớn lên, và ngày càng tăng trường thêm lên, và con đường tương lai Việt Nam rộng mở hơn.

5- Tình tự dân tộc để thoát khỏi bế tắc hiện tại

Lịch sử đã qua trang hơn 50 năm qua rồi, người Việt trong nước hay hải ngoại đều có tri thức, đều có kinh nghiệm, và đều có lòng yêu quê hương theo cách riêng. Nếu còn nhìn nhau bằng lăng kính thắng - thua của thế kỷ XX thì rất khó huy động toàn bộ nguồn lực dân tộc. Nhật Bản, Đức, Hàn Quốc đều từng trải qua chia rẽ, chiến tranh và đổ vỡ. Điều giúp họ đi lên là hướng về tương lai, xây dựng thể chế hiệu quả, phát huy tài năng của mọi công dân. Tất cả là vì tình tự dân tộc của mỗi nước.

Xin nói với người cộng sản Bắc Việt là, tài sản lớn nhất của Việt Nam không phải là đất đai hay khoáng sản, hay việc cầm chịch quyền lực để cai trị. Mà, “Tài sản lớn nhất của nước Việt Nam là hơn 100 triệu con người Việt Nam”. Do đó, tôi, người viết nói:“các ông” cần:

5.1- Khơi mở Giáo dục khai phóng

Một nền giáo dục hiện đại cần có các giá trị sau: - Nhân bản - Dân tộc - Khai phóng - Khoa học. Đó thực ra cũng là những giá trị phù hợp với thế kỷ XXI. Một nền giáo dục tốt phải đào tạo ra con người biết suy nghĩ độc lập, biết phản biện, biết tôn trọng sự thật, và nhứt là biết tương tác với nhau. Giáo dục từ chương, và việc học thuộc lòng ngày càng kém giá trị vì nó đánh mất khả năng sáng tạo và suy nghĩ phản biện của học sinh/sinh viên.

5.2- Bảo vệ môi trường như bảo vệ tương lai dân tộc

Nhìn từ góc độ dân tộc, việc mất rừng là mất tương lai, việc ô nhiễm nguồn nước là mất tương lai, và việc suy thoái đồng bằng sông Cửu Long là mất tương lai. Sau hơn 50 năm, những vấn đề như việc khai thác tài nguyên thiếu kiểm soát, việc ô nhiễm công nghiệp, việc suy giảm đa dạng sinh học;, việc sạt lở và việc xâm nhập mặn ở đồng bằng sông Cửu Long v.v… không phải là vấn đề của riêng một địa phương. Đó là vấn đề sinh tồn của quốc gia. Một dân tộc không thể giàu lâu dài nếu môi trường bị hủy hoại.

5.3- Xây dựng thể chế khuyến khích sáng tạo

Các nhà kinh tế như Douglass North, Daron Acemoglu và James A. Robinson đều nhấn mạnh rằng, sự thịnh vượng lâu dài của một quốc gia phụ thuộc rất nhiều vào phẩm chất của thể chế. Một xã hội phát triển cần có luật pháp được tôn trọng, tài sản được bảo vệ, cơ hội tương đối bình đẳng cho mọi công dân; và tài năng cá nhân đều được trọng dụng. Khi người dân tin rằng nỗ lực của họ được ghi nhận, xã hội sẽ năng động hơn, và được điều hợp nhuần nhuyễn hơn.

5.4- Giữ độc lập dân tộc trong một thế giới đang cạnh tranh khốc liệt

Việt Nam nằm ở vị trí địa chính trị rất đặc biệt. Lịch sử cho thấy, nếu quá lệ thuộc vào bất kỳ cường quốc nào đều có rủi ro; nếu tự cô lập với thế giới cũng có rủi ro. Điều quan trọng là cần tăng nội lực bằng cách tạo sự đồng thuận của đa số người dân nếu có một chính sách phát triển quốc giá đúng đắn và thích hợp với hoàn cảnh đất nước. Một quốc gia mạnh không chỉ vì quân đội được trang bị vũ khí tối tân, mà một quốc gia mạnh vì người dân có tri thức và niềm tin vào tương lai.

Sau hơn 51 năm thống nhứt toàn cõi đất nước, nhưng người CSBV vẫn còn khư khư quản lý đất nước qua những giáo điều đã từng bị chính “cái nôi” cộng sản đã từ bỏ từ lâu rồi. Chính vì vậy quê hương vẫn còn trì trệ trong phát triển và lòng người vẫn còn chia rẽ triền miên. Chính người cộng sản Việt phải hiểu được điều trên, để rồi mạnh dạn điều chỉnh những vấn nạn vừa kể trên, May ra, nếu CSBV thực hiện được những điều đó, chắc chắn chỉ trong một thời gian ngắn ngắn, một Việt Nam sẽ được thành hình với sự đóng góp của những con Việt đúng nghĩa từ khắp bốn phương…

6- Hình dung suy nghĩ của một “đứa con Việt thế hệ AI”

 

Tuổi trẻ thế hệ trí tuệ nhân tạo nhìn bằng dữ liệu, không bằng hận thù: Thế hệ Tôi (tuổi trẻ hiện tại 2026) lớn lên với Google Maps, không có vĩ tuyến 17 trên bản đồ nữa. Nếu gỏ “Sông Bến Hải” sẽ ra ngay cầu Hiền Lương sơn 2 màu, gỏ “Sông Gianh” ra cầu Quán Hàu kết nối Bắc - Nam. Vì vậy cho nên “hận dòng sông” với Tôi không còn là hận ranh giới, nhưng mà là hận vì ngày xưa ông bà Tôi phải chọn “bên này hay bên kia”. Dữ liệu lịch sử cho tôi thấy hơn 200 năm Trịnh-Nguyễn phân tranh, 20 năm chia đôi đất nước vì ý thức hệ... người thiệt nhất luôn là người dân bình thường, là “cô gái bên sông” trong các bài “hận”. Chúng Tôi hận chiến tranh, chứ không hận đồng bào.

 

“Một nhà Bắc – Nam” được định nghĩa rộng hơn: Ông bà trước đây định nghĩa “một nhà” là Bắc và Nam không bị chia cắt. Thế hệ AI chúng Tôi định nghĩa “một nhà” với 54 dân tộc thiểu số, trên 90 triệu người Việt trong nước, cùng với 5 triệu người Việt hải ngoại. Nghe “Hận Sông Bến Hải”, Tôi không chỉ nghĩ tới Quảng Trị. Tôi nghĩ tới mọi “dòng sông vô hình” đang chia cắt dân tộc mình, mặc dù chúng ta không định hình được những lằn ranh chia cắt. Chúng ta chia cắt vì vùng miền chê nhau, chia cắt vì giàu - nghèo, chia cắt vì suy nghĩ “phe này - phe kia” trên mạng xã hội. Chúng ta chia cắt vì hai chữ Quốc gia – Cộng sản? GS Nguyễn Ngọc Huy “hận sông” vì sông làm chia đôi đất nước. Còn chúng Tôi “hận” vì kỹ thuật toán, tiến bộ khoa học … chia đôi con người.

 

Từ “mong thống nhất” đến “mong kết nối”: Các ông bà xưa ở hai miền mong xe tăng vượt qua cầu Hiền Lương từ phía Bắc xuống hay từ phía Nam lên. Còn chúng Tôi mong một cú nhích “chuột” là gọi facetime cho bà ngoại ở Nghệ An, cho anh họ ở Sài Gòn, cho cô ở Cali, chúng Tôi mong data chạy nhanh hơn đạn, mong wifi mạnh hơn bom. “Hận Sông Gianh” hơn 200 năm mới liền. Hận Sông Bấn Hải mất 20 năm mới thông thương lại. Bây giờ có cáp quang AAG rồi, chỉ cần một giây thôi là có thể nối liền được ngay.  

 

Thống nhất địa dư đã xong từ năm 1975 rồi.

Bây giờ là thống nhất “tinh thần”.

 

Nếu cố GS Nguyễn Ngọc Huy còn sống tới năm 2026, Tôi nghĩ bác sẽ không viết “Hận Sông Gianh” nữa. Mà sẽ viết:“Nhớ về Sông Gianh” hay “Thương Sông Bến Hải”. Thương vì sông từng là vết thương đẫm máu của cả hai miền. Và nhớ vì nhờ vết thương chia rẽ Đàng Trong và Đàng Ngoài đó mà dân tộc mình hiểu được sự chia cắt đau lắm. Cho nên, hiện giờ có AI, có 4G, có 5G rồi, xin đừng tự cắt - chia nhau nữa!

 

Nói gọn lại là Ông bà đã từng “hận sông” vì sông chia đôi nước. Chúng Tôithương sông” và hứa không để ý tưởng, định kiến... chia đôi lòng người nữa.

7- Lời trần tình của người viết

Sông Gianh và Sông Bến Hải là hai vết thương rỉ máu trong dòng lịch sử Việt, nhưng dù có đau thương đến đâu, các vết thương đó cũng không thể xóa bỏ được tình tự dân tộc Việt Nam. Điều làm dân tộc suy yếu không phải là ký ức lịch sử, mà là hận thù kéo dài và chia rẽ kéo dài. Người Việt có thể khác nhau về quan điểm lịch sử trong quá khứ, nhưng vẫn có thể cùng chung một tình yêu quê hương và trách nhiệm với hiện tại và tương lai đất nước.


Người viết đã từng quan niệm:”Dù muốn dù không, những người CSBV cũng là những người con Việt, cùng nói một ngôn ngữ Việt, chẳng lẽ không cùng đối thoại với nhau hay sao?”. Chính suy nghĩ trên làm cho người viết quyết định ở lại Sài Gòn ngày 30/4/1975. Cũng như quyết định “ra đi” sau hơn bảy năm “sống cùng với chế độ”. Hôm nay, nhìn lại hai quyết định trên, người viết vẫn nghĩ là hai quyết định trên “vẫn không trật” cho dù cũng đã trả một giá tương đối đắt vì đã mất hơn bảy năm… đóng góp cho quê hương?

Hôm nay, xin tiếp tục suy nghĩ, trong thế kỷ XXI và thời đại trí tuệ nhân tạo AI, bài học lớn nhất là:”Lấy tương lai thay cho hận thù, lấy tri thức thay cho giáo điều, lấy việc dung hợp dân tộc thay cho sự chia rẽ dù đứng dưới hình thức nào hay nhãn quan nào!” Và có lẽ điều quý giá nhất mà người Việt cần giữ là:"Chúng ta trước hết là người Việt Nam, rồi sau đó, mới thuộc về bất kỳ phe phái, vùng miền hay thế hệ nào."

Đó chính là cốt lõi của tình tự dân tộc và cũng là con đường để dân tộc Việt Nam phát triển bền vững trong tương lai.

Một người Con Việt – Mai Thanh Truyết

Mùa Vu lan trong Phật giáo - 2026

Tháng của hy vọng và sự biến đổi tâm hồn trong Thiên Chúa giáo

 

 

 

 

Friday, June 19, 2026

 

Juneteenth - BLM - Vấn đề Da đen  

Nói về phong trào Black Lives Matter


Các tổ chức thuộc phong trào Black Lives Matter (BLM) và các nhà vận động cộng đồng thường kỷ niệm ngày Juneteenth như một ngày tôn vinh sự giải phóng của người da đen; họ thường hát bài "Lift Every Voice and Sing" (vốn được coi là Quốc ca của người da đen). Tuy nhiên, các tuyên bố cho rằng tổ chức BLM đã chính thức chọn một bài hát khác làm quốc ca thay thế, hay việc nô lệ đã đến châu Mỹ trước thời Columbus, thực chất phản ảnh những tranh luận lịch sử đang diễn ra chứ không phải là quan điểm được đa số giới chuyên môn đồng thuận. Việc xem xét kỹ hơn các tuyên bố này cho thấy:

·         Bài hát thay thế quốc ca: Bài "Lift Every Voice and Sing" do James Weldon Johnson sáng tác năm 1900, đã được cộng đồng người da đen hát trong nhiều thập kỷ và được tổ chức Hiệp hội Quốc gia vì sự Tiến bộ của Người da màu  NAACP - National Association for the Advancement of Colored People công nhận từ năm 1919. Mặc dù giải NFL và nhiều nhà hoạt động xã hội đã đề cao bài hát này bên cạnh bài "The Star-Spangled Banner" - Quốc ca Hoa Kỳ, nó vẫn mang ý nghĩa là một bài thánh ca văn hóa về niềm hy vọng song hành, chứ không phải là một bài hát được tổ chức BLM chính thức chọn làm biểu tượng chính trị.

·        


Nô lệ đến châu Mỹ trước thời Columbus: Tuyên bố cho rằng nô lệ da đen đã đến châu Mỹ hơn một thế kỷ trước khi Columbus đặt chân tới đây (năm 1492) thường bắt nguồn từ các lý thuyết đề cao vai trò của người châu Phi (Afrocentric), vốn được phổ biến qua những cuốn sách như *They Came Before Columbus* của Ivan Van Sertima. Mặc dù một số học giả ủng hộ các lý thuyết về sự tiếp xúc giữa các nền văn hóa trước thời Columbus, vấn đề này vẫn gây nhiều tranh cãi và chưa đạt được sự đồng thuận rộng rãi trong giới học thuật.

·         Chế độ nô lệ tại châu Mỹ trước năm 1776: Quan điểm cho rằng chế độ nô lệ đã tồn tại ở châu Mỹ trước năm 1776 là một sự thật lịch sử được công nhận rộng rãi. Những người châu Phi bị bắt làm nô lệ đã được các nhà thám hiểm Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha đưa đến châu Mỹ vào đầu những năm 1500, và sau đó họ đã đến Jamestown vào năm 1619. (trích trên Google).

Như vậy, việc Black Lives Matter ăn mừng Juneteenth um sùm ngày 19/6 rồi lấy bài hát “Lift Every Voice and Sing", thường được gọi là "Black National Anthem" (Quốc ca của người Mỹ gốc Phi) tuyên bố rằng Slaves Mỹ đen “dô” nước Mỹ hơn 100 năm trước Columbus, truớc 1776. Những chủ đề như Black Lives Matter, Juneteenth hay chính trị bản sắc thường dễ dẫn đến tranh luận qua cảm tính. Tuy nhiên, cách tiếp cận hiệu quả nhất vẫn là tôn trọng sự thật lịch sử và bằng chứng khách quan, thừa nhận những bất công đã tồn tại và nhu cầu cải thiện xã hội, và sau cùng hướng tới hòa giải, đối thoại và bình đẳng cho mọi người. Một xã hội trưởng thành không phủ nhận quá khứ, nhưng cũng không để quá khứ trở thành nguồn gốc của sự chia rẽ kéo dài. Ký ức lịch sử có giá trị nhất khi nó giúp con người xây dựng một tương lai tốt đẹp hơn, trong đó mọi công dân đều có cơ hội bằng nhau, không còn bất cứ đặc ân nào, đặc quyền nào trong thứ tự xã hội hết.


Đây là một vấn đề nhạy cảm, chúng ta nên cần tách riêng ba khía cạnh: lịch sử, bản sắc văn hóa và chính trị xã hội. Trước hết, cần nói rõ, rằng Juneteenth (19/6) là ngày kỷ niệm việc chế độ nô lệ chấm dứt trên thực tế tại bang Texas vào năm 1865, khi quân đội Liên bang thông báo lệnh giải phóng nô lệ tại Galveston, hơn hai năm sau Tuyên ngôn Giải phóng Nô lệ ngày 1/1/1863 của Abraham Lincoln. Từ năm 2021, Juneteenth đã trở thành ngày lễ liên bang của Hoa Kỳ.

Về việc một số sự kiện Juneteenth hoặc các giải thể thao trình diễn bài hát "Lift Every Voice and Sing", thường được gọi là "Black National Anthem", cần hiểu rằng đây là một tên gọi mang tính biểu tượng, không phải quốc ca chính thức thay thế cho quốc ca Hoa Kỳ. Bài hát được sáng tác năm 1900 và trở thành biểu tượng của phong trào dân quyền Mỹ gốc Phi. Trong các sự kiện lớn, nó thường được hát bên cạnh, chứ không thay thế, bài quốc ca chính thức "The Star-Spangled Banner".

Về tuyên bố rằng người châu Phi đã đến châu Mỹ hơn 100 năm trước Columbus, đây là một giả thuyết gây tranh cãi lâu nay. Một số tác giả như Ivan Van Sertima cho rằng đã có tiếp xúc xuyên Đại Tây Dương giữa người Tây Phi và châu Mỹ trước năm 1492. Tuy nhiên, giới khảo cổ học và sử học chính thống hiện nay chưa tìm thấy bằng chứng khảo cổ, di truyền học hay văn bản lịch sử đủ mạnh để xác nhận điều này.

Cần phân biệt:

  • "Columbus không phải người đầu tiên đến châu Mỹ": điều này đúng. Người bản địa đã sinh sống ở châu Mỹ hàng chục nghìn năm, và người Viking do Leif Erikson dẫn đầu đã đặt chân đến Bắc Mỹ khoảng năm 1000.
  • "Người châu Phi đến châu Mỹ trước Columbus": hiện vẫn là giả thuyết chưa được chứng minh.
  • "Người nô lệ da đen có mặt ở Mỹ trước năm 1776": điều này đúng. Những người châu Phi bị đưa đến các thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ từ năm 1619, tức là khoảng 157 năm trước khi Hoa Kỳ tuyên bố độc lập năm 1776.

Thiết nghĩ, đằng sau những tuyên bố mạnh mẽ trong các sự kiện Juneteenth có hai động lực khác nhau:

  1. Nhu cầu khẳng định bản sắc và đóng góp lịch sử của cộng đồng người Mỹ gốc Phi châu, vốn từng bị xem nhẹ trong các sách giáo khoa và cung cách suy diễn chính thống trong cộng đồng và trong các thủ tục hành chánh.
  2. Xu hướng chính trị bản sắc (identity politics), trong đó một số nhóm hoạt động có thể đi xa hơn dữ kiện lịch sử nhằm kích động sự phân biệt chủng tộc… đã được kiểm chứng.

Việc tôn vinh ký ức về nạn nô lệ và những đóng góp của người Mỹ gốc Phi là cần thiết, nhưng nếu các tuyên bố lịch sử không dựa trên bằng chứng khoa học, chúng dễ tạo ra phản ứng ngược và làm gia tăng chia rẽ xã hội. Đó cũng là chính sách đảng Dân chủ tận dụng để phá hoại trong suốt hai nhiệm kỳ của TT Trump 45, và 47. Một xã hội dân chủ cần có khả năng làm đồng thời hai việc là việc thừa nhận những bất công trong quá khứ, mà vẫn tôn trọng tiêu chuẩn và sự việc xảy ra trong lịch sử Hoa Kỳ. Lịch sử không nên trở thành công cụ phục vụ cho bất kỳ hệ tư tưởng nào, dù đến từ cánh tả hay cánh hữu. Sự thật lịch sử phải được xây dựng trên bằng chứng, không phải trên cảm xúc hay nhu cầu chính trị của từng thời điểm.

Câu hỏi được đặt ra là “Có phải đây là một cái cớ để người da đen đứng lên một cách "có chính nghĩa" hay không?”

Câu hỏi nầy chạm đến một vấn đề rất dễ gây tranh cãi liên quan đến động cơ của các phong trào xã hội. Cũng cần nên phân biệt giữa mục tiêu chung của phong tràohành động hoặc phát biểu của một số cá nhân hay từng nhóm cụ thể. Phong trào Black Lives Matter ra đời năm 2013 sau vụ việc liên quan đến cái chết của Trayvon Martin, với mục tiêu cốt lõi là phản đối bạo lực và phân biệt đối xử đối với người Mỹ gốc Phi châu. Nhiều người ủng hộ phong trào vì họ tin rằng vẫn còn những bất bình đẳng dai dẳng trong lĩnh vực tư pháp, giáo dục, nhà ở và cơ hội trong việc tuyển dụng công ăn việc làm ở Hoa Kỳ.

Tuy nhiên, không phải mọi người tham gia phong trào đều có cùng quan điểm, và không phải mọi phát biểu nhân danh phong trào đều dựa trên dữ liệu lịch sử hay được tất cả người Mỹ gốc Phi đồng tình. Câu hỏi trên, thiết nghĩ có thể được diễn dịch nhu sau:

  • Nếu "đứng lên" có nghĩa là đòi hỏi quyền bình đẳng, cơ hội công bằng và sự tôn trọng nhân phẩm, thì đó là quyền chính đáng của bất kỳ cộng đồng nào từng chịu bất công.
  • Nếu "đứng lên" có nghĩa là biện minh cho các tuyên bố lịch sử thiếu bằng chứng, thái độ thù địch hoặc phân biệt đối xử ngược lại với các nhóm khác, thì điều đó không thể được xem là chính nghĩa.

Điều quan trọng là tránh cách nhìn nhận một cộng đồng gồm vài hàng chục triệu người như một khối đồng nhất, vì người Mỹ gốc Phi châu có nhiều quan điểm chính trị, kinh tế và văn hóa rất khác nhau. Nhiều người ủng hộ Juneteenth nhưng không đồng ý với mọi khẩu hiệu của BLM; nhiều người khác lại không ủng hộ BLM nhưng vẫn cho rằng lịch sử nô lệ và phân biệt chủng tộc cần được ghi nhớ. Lịch sử Hoa Kỳ cho thấy các phong trào đòi quyền dân sự thành công nhất thường dựa trên ba yếu tố: - Sự thật lịch sử được kiểm chứng - Các nguyên tắc pháp quyền và bình đẳng trước pháp luật – Và tinh thần hòa giải thay vì đối đầu.

Như Martin Luther King Jr. từng nhấn mạnh, mục tiêu không phải là thay thế sự thống trị của nhóm này bằng nhóm khác, mà là xây dựng một xã hội nơi con người được đánh giá bởi phẩm cách và năng lực của họ.

Vì vậy, thay vì hỏi liệu đây có phải là "cái cớ" hay không, có lẽ câu hỏi hữu ích và tích cực hơn là:”Những yêu cầu nào dựa trên bằng chứng và hướng tới sự bình đẳng thực sự, và những yêu cầu nào đang bị chi phối bởi cảm xúc hoặc chính trị của từng nhóm riêng lẻ? Sự phân biệt này giúp chúng ta thảo luận vấn đề một cách công bằng và tránh rơi vào những khái quát hóa về bất kỳ sắc tộc nào, nhứt là so sánh với các sắc tộc khác như Mễ, Việt, và Tàu…

Thiết nghĩ, chúng ta không nhìn nhận Black Lives Matter theo cách "pro" hay "con" một cách tuyệt đối, vì bản thân BLM là một hiện tượng xã hội phức tạp, gồm nhiều cung cách và hoàn cảnh phát sinh ra nhiều ý nghĩa khác nhau. Cần phân biệt tách bạch ra ba yếu tố căn bản trong BLM như:

·         Khẩu hiệu và nguyên tắc căn bản nhìn chung là tích cực: Mệnh đề chung của "Black Lives Matter" xuất phát từ thực tế lịch sử về chế độ nô lệ, phân biệt chủng tộc và những bất bình đẳng kéo dài trong xã hội Hoa Kỳ. Nếu hiểu khẩu hiệu này theo ý nghĩa là mọi công dân phải được pháp luật bảo vệ như nhau, không ai bị đối xử bất công vì màu da, và chánh quyền cũng cần xem xét và khắc phục những bất bình đẳng có thật, thì đó quả thật là những giá trị phù hợp với nguyên tắc bình đẳng của một xã hội dân chủ. Trong ý nghĩa nầy, việc ủng hộ các mục tiêu chính đáng trên của BLM là đúng.

·         Tổ chức và và các hoạt động cụ thể của từng nhóm BLM cũng cần nên đánh giá cẩn trọng từng trường hợp vì BLM không phải là một khối thống nhất. Có sự khác biệt giữa phong trào xã hội rộng lớn với hàng triệu người ủng hộ, có các tổ chức chính thức mang tên BLM nhưng chủ trương khác nhau, và những cá nhân hoặc nhóm hoạt động địa phương cũng khác nhau. Một số đề nghị cải cách của phong trào đã thúc đẩy các cuộc thảo luận quan trọng về trách nhiệm của cảnh sát, cải cách tư pháp và bất bình đẳng xã hội một cách ôn hòa. Nhưng cũng có một số khẩu hiệu cực đoan như "Defund the Police" như đã xảy ra ở Seattle hay Portland… đã gây tranh cãi vì có nguy cơ làm suy yếu an ninh cộng đồng, đặc biệt tại các khu dân cư nghèo. Ngoài ra, đã có những tranh cãi về quản trị, tài chính và lãnh đạo của một số tổ chức liên quan đến BLM. Vì vậy, tóm lại, chúng ta cần đánh giá bằng dữ liệu và kết quả thực tế, không nên mặc nhiên ủng hộ hoặc phản đối toàn bộ.

·         Chính trị cực đoan của BLM: Khi bất kỳ phong trào nào chuyển từ mục tiêu bình đẳng cơ hội sang hành động qua mục tiêu đấu tranh giữa các nhóm trong BLM, hoặc khi các tuyên bố lịch sử thiếu bằng chứng được sử dụng như nhằm khích động công chúng hay sách động chính trị, thì nguy cơ chia rẽ xã hội sẽ tăng lên. Nếu một số nhóm sử dụng BLM để quy kết trách nhiệm tập thể dựa trên màu da, để xem mọi khác biệt về kết quả là bằng chứng của áp bức, nhằm biện minh cho việc xử dụng bạo lực hoặc phá hoại, và phủ nhận tầm quan trọng của bằng chứng lịch sử. Tất cả những điều trên không phù hợp với nguyên tắc bình đẳng, và pháp quyền.

Tóm lại, Ủng hộ mục tiêu về phẩm giá và bình đẳng của BLM, nhưng không mặc nhiên ủng hộ mọi chiến thuật, khẩu hiệu hay tuyên bố sách động của các tổ chức hoặc cá nhân nhân danh BLM. Một xã hội dân chủ lành mạnh cần có khả năng làm đồng thời hai việc quan trọng và căn bản là việc thừa nhận và sửa chữa các bất công lịch sử, và nhứt là giữ vững tiêu chuẩn về tư pháp, lập pháp, hành pháp. Thực thi một nền dân chủ pháp quyền và trách nhiệm cá nhân là cần thiết cho quốc gia. Đó không phải là quan điểm "pro" hay "con", mà là cách tiếp cận dựa trên nguyên tắc.

Từ đó, một kết luận tích cực về vấn đề Black Lives Matter có thể được nhìn nhận qua quan điểm là bất kể người nào đồng ý hay không đồng ý với mọi khẩu hiệu, chiến thuật hay quan điểm của BLM, phong trào này đã buộc xã hội Hoa Kỳ phải đối diện nghiêm chỉnh hơn với những câu hỏi khó về lịch sử nô lệ, phân biệt chủng tộc và sự bình đẳng trước pháp luật. Điều quan trọng nhất mà BLM gợi nhắc không phải là sự đối đầu giữa các sắc tộc, mà là một nguyên tắc nền tảng của nền dân chủ: “Mọi con người đều có giá trị như nhau và mọi công dân đều xứng đáng được đối xử công bằng.”

Một phong trào xã hội chỉ tạo ra giá trị bền vững khi nó chuyển hóa sự phẫn nộ thành những thay đổi tích cực qua việc thúc đẩy đối thoại thay vì đối đầu, khuyến khích cải cách dựa trên dữ liệu thay vì hành động quá khích gây bạo động qua cảm xúc, để rồi sau cùng, xây dựng sự thấu hiểu giữa các nhóm xã hội thay vì khoét sâu khác biệt. Lịch sử Hoa Kỳ cho thấy mỗi bước tiến về quyền công dân, từ việc xóa bỏ chế độ nô lệ, trao quyền bầu cử cho phụ nữ đến phong trào dân quyền của thập niên 1960, đều bắt đầu bằng việc xã hội dám nhìn thẳng vào những bất công của mình.

Do đó, thách thức của thế kỷ XXI không còn là xác định ai đúng ai sai trong quá khứ, mà là làm thế nào để ký ức về quá khứ trở thành động lực xây dựng một tương lai công bằng hơn. Như Martin Luther King Jr. đã từng mơ ước mục tiêu cuối cùng không phải là một xã hội nơi các nhóm sắc tộc cạnh tranh để giành ưu thế, mà là một xã hội nơi màu da bên ngoài càng ít quyết định cho cơ hội sống còn, và nơi mỗi con người được đánh giá bằng nhân cách, năng lực và đóng góp của họ và xã hội.

Thay lời kết qua nhận xét của người viết

Theo tài liệu chính thức của BLM, không có tài liệu nào (người viết tìm không thấy hay tìm chưa ra!) nói "BLM dùng Juneteenth để giành độc lập và lập quốc riêng cho người da đen". Nhưng họ nói "Độc lập/tự do" như tự do sống, tự do mơ ước, tự do khỏi bạo lực cảnh sát và phân biệt đối xử trong nước Mỹ. Mục tiêu họ nêu:”xây dựng một tương lai tự do cho tất cả người Da đen” và “cho đến khi tất cả đều được tự do” - "build a free future for all Black people" and "until all are free", tức quyền công dân đầy đủ, chứ không phải tách ra thành quốc gia riêng. 

BLM là phong trào phi tập trung, nên từng nhóm địa phương có thể nói khác nhau. Nhưng tuyên bố cấp tổ chức toàn quốc thì tập trung vào cải cách, công lý, bồi thường, chứ không phải ly khai.


Patrisse Cullors - Đồng sáng lập BLM: Ít có bài phát biểu riêng chỉ về Juneteenth. Nhưng bà thường dùng từ “Black liberation” - Giải phóng da đen. Trong sách When They Call You a Terrorist và các phỏng vấn, bà định nghĩa “liberation” là:”Chấm dứt bạo lực nhà nước, phân biệt chủng tộc hệ thống, có nhà ở, y tế, giáo dục cho cộng đồng da đen trong nước Mỹ. Bà không kêu gọi ly khai. Tổ chức BLM Global Network bà đồng sáng lập ghi rõ mục tiêu là “xóa bỏ bạo lực do nhà nước dung túng” và “xây dựng quyền lực địa phương” -  “dismantle state-sanctioned violence” và “build local power” để có quyền tự quyết chính trị-kinh tế, nhưng vẫn trong khuôn khổ công dân Mỹ.

Alicia Garza - Người viết hashtag #BlackLivesMatter: Là người viết dòng “Black Lives Matter” đầu tiên 2013. Về Juneteenth, bà nói:” Tự do là một cuộc tranh đấu không ngừng nghỉ” – “freedom is a constant struggle”. Nó không chỉ là ăn mừng quá khứ, mà là cam kết đấu tranh cho tương lai nơi người da đen được sống, mơ ước, và tự quyết cuộc đời mình. Bà dùng chự “self-determination” – “tự quyết”. Nhưng trong các bài diễn thuyết, “self-determination” của bà  có ý nghĩa là cộng đồng da đen có quyền quyết định về cảnh sát, trường học, nhà ở của mình, đòi bồi thường/reparations. Không phải “national independence” tách khỏi Mỹ.

Opal Tometi - Đồng sáng lập BLM, gốc Nigeria, nhấn mạnh Juneteenth nối lịch sử nô lệ xuyên Đại Tây Dương. Bà nói:”Juneteenth nhắc chúng ta rằng tự do chưa bao giờ được trao, mà phải đấu tranh giành lấy. Công việc của chúng ta là đảm bảo thế hệ sau được tự do thực sự.” Opal đồng thời là giám đốc Black Alliance for Just Immigration. Tổ chức này đòi quyền di trú và quyền công dân cho người da đen nhập cư, tức là đòi quyền trong hệ thống Mỹ, không phải tách ra.

Tóm lại từ ba người sáng lập, họ dùng những từ ngữ như: “freedom”, “liberation”, “self-determination”, “total freedom”, qua ý nghĩa: “Tự do khỏi bạo lực cảnh sát, phân biệt đối xử, nghèo đói, thiếu quyền lực chính trị. Đòi bồi thường - reparations, đầu tư cộng đồng, cải cách hệ thống. Hoàn toàn không có các chữ: “secession”, “independence from USA”, “tách ra lập quốc gia riêng” trong bất kỳ bài Juneteenth chính thức nào của họ. Chữ “Độc lập” trong ngữ cảnh BLM là “độc lập khỏi nỗi sợ bị giết vì màu da”, “độc lập khỏi hệ thống không coi mạng da đen là quan trọng”. Đó có lẽ cũng là thước đo thành công thực sự của BLM, không phải khi phong trào trở nên mạnh hơn, mà khi xã hội trở nên công bằng hơn đến mức một phong trào như vậy không còn cần thiết và hiện hữu nữa.

Lời cuối cùng, thiết nghĩ, từ bản chất, BLM, qua quan điểm và chủ trương của ba “sáng lập viên” rất trong sáng và thực tế, nhưng chính phong trào đã bị bẻ cong vì chủ trương của Đảng Dân chủ “mua chuộc” những nhóm cực đoan lẻ tẻ của phong trào nhằm thực hiện ý định … phá nát các xây dựng và thành quả của Đảng Cộng hòa theo chủ trương của Nhóm Globalists xã hội chủ nghĩa cực đoan toàn cầu.

Mai Thanh Truyết

Ngày Juneteenth – 19-6-2026