Wednesday, October 14, 2026

 

NCK12: Câu hỏi kết thúc: Thưa Tiến sĩ Mai Thanh Truyết, nếu phải gửi gắm một lời nhắn ngắn gọn đến thế hệ trẻ người Việt tại Houston, Anh muốn các em nhớ điều gì về trách nhiệm bảo vệ sự thật lịch sử, tự do và tương lai của cộng đồng mình?

 

MTT12: Những lời dưới đây xin thân gửi các em, thế hệ tương lai của cộng đồng người Việt tại Houston. Nếu có một điều chính yếu cần nhắn gửi, tôi mong các em luôn mang theo trong hành trình trưởng thành là: Tự do các em đang có hôm nay không phải là một sự hiển nhiên, mà là một di sản được đánh đổi bằng máu, nước mắt và lòng dũng cảm của thế hệ đi trước.

Sự thịnh vượng trên đại lộ Bellaire, những thành công của người Việt trong chính trường hay các cộng đồng lớn tại Texas không tự nhiên mà có. Nó được xây dựng từ tro tàn và ý chí kiên cường của những con người đã bỏ lại tất cả sau năm 1975 để chọn đi theo ánh sáng của tự do.

Trách nhiệm của các em đối với lịch sử và tương lai của cộng đồng không nằm ở việc gánh vác sự hận thù, mà là bảo vệ những giá trị hằn hữu sau:

1-    Bảo vệ sự thật lịch sử bằng tri thức: Hãy lắng nghe ký ức của cha ông bằng trái tim cởi mở và tư duy phản biện. Sự thật lịch sử về làn sóng tị nạn chính trị cần được gìn giữ một cách chính trực. Hãy dùng tri thức, ngôn ngữ và nền giáo dục hiện đại của các em để viết tiếp và kể lại câu chuyện đó cho thế giới một cách tự hào, ngăn chặn mọi nỗ lực làm sai lệch quá khứ.

2-    Giữ vững quyền tự do bằng sự minh bạch: Sức mạnh lớn nhất của các em chính là sự hiểu biết về luật pháp và các giá trị dân chủ của nước Mỹ. Hãy dùng sự minh bạch, tính thượng tôn pháp luật để bảo vệ các hội đoàn, bảo vệ không gian mạng của cộng đồng trước những sự thao túng hay chia rẽ từ bên ngoài, nhứt là ở Việt Nam cộng sản.

3-    Kiến tạo tương lai bằng sự bao dung và bản lĩnh: Hãy tiếp tục đưa cộng đồng người Việt tại Houston tiến xa hơn nữa trong mọi lĩnh vực. Sự cởi mở, hòa nhã với thế giới bên ngoài, nhứt là với người bản xứ, là sức mạnh của một xã hội tự do, nhưng bản lĩnh của các em nằm ở chỗ biết rõ mình là ai, cội nguồn của mình ở đâu, và đâu là những ranh giới giá trị không bao giờ được phép nhân nhượng.

Các em là những người định hình diện mạo của cộng đồng trong nhiều thập niên tới. Hãy sống, cống hiến và bảo vệ ngôi nhà chung Houston bằng niềm tự hào của một người Mỹ gốc Việt tự do và chính trực.

Cảm ơn GS Nguyễn Chính Kết đã điều hợp cho buổi hội luận ngày hôm nay.

Mai Thanh Truyết

  https://drive.google.com/file/d/1EOEau1uKTlvaqHDDmi1xak8IQiboj2X5/view?usp=drive_link

 

Chương trình Chuyện Đời Thường

Liên Bích phụ trách

Radio VVA 1600 AM - Ngày 13/10/2026

 

Cộng đồng Việt trên đất Mỹ

 

LB1: Thưa Quý vị, Nhớ lại, từ những ngày đầu tiên bở ngỡ trên vùng đất lạ khắp 50 tiều bang Hoa Kỳ, cộng đồng người Việt bắt đầu một cuộc sống mới với sự giúp đở tận tình của người dân và chính phủ Mỹ. Người Việt sống tại đây luôn luôn ghi lòng tạc dạ những sự giúp đở trên. Từ một cộng đồng sống rải rác khắp nơi trở thành những cộng đồng lớn mạnh với gần 3 triệu hiện nay. Và người Việt, nhứt là tuổi trẻ, hiện có mặt khắp nơi trong chính quyền khu vực, địa phương, cấp tiểu bang, cấp liên bang. Thậm chí có cả trong quân đội mang quân hàm cấp tướng nữa. Xin Ts MTT cho quý thính giả của VVA biết sơ lược về tình trạng phát triển của cộng đồng người Việt hiện tại.

 

MTT1: Sau 51 năm kể từ biến cố năm 1975, cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ đã trải qua một chặng đường phát triển rất đáng chú ý, từ những người tị nạn ban đầu trở thành một cộng đồng có vị trí kinh tế, văn hóa và xã hội ngày càng rõ nét trong đời sống nước Mỹ.

1. Giai đoạn hình thành (1975–1985): Từ người tị nạn đến xây dựng cuộc sống mới

  • Đợt đầu tiên, khoảng 130.000 người Việt đến Mỹ vào năm 1975.
  • Những năm sau đó, làn sóng “thuyền nhân” tiếp tục sang Mỹ qua các chương trình nhân đạo và đoàn tụ gia đình.
  • Đa số khởi đầu với hai bàn tay trắng, gặp nhiều khó khăn về ngôn ngữ, nghề nghiệp và thích nghi văn hóa.
  • Các cơ sở cộng đồng đầu tiên xuất hiện: chùa, nhà thờ, hội đồng hương, trường Việt ngữ và các cơ sở truyền thông tiếng Việt.

2. Giai đoạn ổn định và phát triển kinh tế (1985–2000)

Thế hệ thứ nhất dần ổn định đời sống và phát triển các ngành nghề nhỏ: nhà hàng, chợ Việt Nam. Tiệm nail. Cơ sở dịch vụ và thương mại. Nghề nail trở thành một hiện tượng kinh tế đặc biệt của người Việt tại Mỹ. Hình thành các khu “Little Saigon”: Little Saigon (California), Khu Bellaire ở Houston, San Jose, Virginia, Seattle, Dallas…

Những khu vực này không chỉ là trung tâm kinh doanh mà còn là nơi bảo tồn văn hóa Việt Nam.

3. Giai đoạn hội nhập dòng chính (2000–2026): Sau hơn nửa thế kỷ, cộng đồng người Việt đã bước sang một giai đoạn mới:

 

* Giáo dục: Thế hệ thứ hai và thứ ba có tỷ lệ học đại học cao. Nhiều người trở thành: bác sĩ, kỹ sư, luật sư, giáo sư, nhà khoa học, doanh nhân.

* Chính trị và xã hội: Người Việt ngày càng tham gia vào hệ thống chính trị Mỹ: Nghị viên thành phố - Ủy viên giáo dục - Dân biểu tiểu bang - Dân biểu liên bang

Điều này phản ánh quá trình chuyển từ vai trò cộng đồng di dân sang vai trò công dân tích cực trong xã hội Mỹ.

* Kinh tế: Hàng chục nghìn doanh nghiệp Việt hoạt động trên nhiều lĩnh vực: nhà hàng - công nghệ - tài chính - y tế - địa ốc - dịch vụ chuyên môn.

* Giữ gìn bản sắc văn hóa: Dù hội nhập sâu vào xã hội Mỹ, cộng đồng người Việt vẫn duy trì: Tiếng Việt - Tết Nguyên Đán - Áo dài - Âm nhạc và văn học Việt Nam - Chùa chiền, nhà thờ - Các hội đoàn và sinh hoạt cộng đồng. Đây là một đặc điểm nổi bật: hội nhập mà không hoàn toàn đánh mất bản sắc dân tộc.

* Những thách thức hiện nay: Sau 51 năm, cộng đồng cũng đối diện nhiều câu hỏi mới:

  • Làm sao giữ tiếng Việt cho thế hệ trẻ?
  • Làm sao kết nối các thế hệ khác nhau?
  • Vai trò của cộng đồng trong xã hội Mỹ sẽ đi về đâu?
  • Làm sao chuyển từ tinh thần bảo tồn cộng đồng sang phát triển ảnh hưởng trong dòng chính?

 

51 năm qua là hành trình đi từ: Người tị nạn - Người định cư - Người xây dựng cộng đồng - Công dân tham gia dòng chính Hoa Kỳ. Nếu giai đoạn đầu là câu chuyện của sự sống còn, thì giai đoạn hôm nay là câu chuyện của hội nhập, đóng góp và truyền lại di sản văn hóa cho các thế hệ tương lai.

 

Có thể nói, cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ là một trong những cộng đồng di dân thành công của nước Mỹ: vừa giữ được nhiều nét văn hóa dân tộc, vừa từng bước khẳng định vị trí trong đời sống kinh tế, giáo dục và xã hội của quốc gia này.

 

LB2: Thưa anh Mai Thanh Truyết, trong nhiều thập niên, cộng đồng người Việt hải ngoại đã kiên trì đấu tranh bằng biểu tình và vận động dân cử, nhưng nhiều người cảm thấy hiệu quả không còn như trước nữa. Thưa Anh, Anh nhìn nhận thế nào về giới hạn của phương thức đấu tranh truyền thống này?

 

MTT2: Thưa Cô LB, tôi nghĩ đây là một câu hỏi rất căn bản nếu muốn nhìn lại con đường của cộng đồng người Việt hải ngoại trong vài thập niên qua. Tôi không cho rằng biểu tình hay vận động dân cử là sai. Vấn đề là sau 51 năm, hoàn cảnh đã thay đổi, trong khi phương thức đấu tranh ở nhiều nơi vẫn chưa thay đổi tương ứng.

 

1-    Biểu tình có sức mạnh, nhưng sức mạnh có giới hạn: Trong những năm đầu sau 1975, biểu tình có một vai trò rất quan trọng nhằm tập hợp cộng đồng, bày tỏ lập trường, tạo ra tiếng vang trong truyền thông, gây áp lực lên chính giới địa phương, duy trì ký ức lịch sử và căn tính của cộng đồng Việt trên đất Hoa Kỳ.

 

2-    Vận động dân cử cũng có một giới hạn khác. Vận động dân cử thực ra là một phương thức rất quan trọng trong xã hội dân chủ. Nhưng có một khác biệt là không cần phải có đông người Việt là cộng đồng đã có sức mạnh chính trị. Mà, sức mạnh chính trị còn phụ thuộc vào số cử tri và tỷ lệ đi bầu, cộng thêm khả năng tổ chức và khả năng đối thoại, cùng khả năng trở thành một lực lượng có ích cho chính quyền địa phương. Nếu người Việt tham gia đều đặn vào đời sống chính trị địa phương, đi bầu, tham dự các cuộc họp, làm việc với văn phòng dân cử, tham gia hội đồng cộng đồng, đóng góp cho các vấn đề của thành phố và khu vực, thì ảnh hưởng của cộng đồng sẽ vào sâu trong sinh hoạt Hoa Kỳ hơn rất nhiều.

 

3-    Một giới hạn lớn hơn là, sau 51 năm, thế hệ Việt đã thay đổi. Đây có lẽ là vấn đề quan trọng nhất. Thế hệ người Việt tị nạn đầu tiên có một ký ức lịch sử rất mạnh về Việt Nam trước và sau 1975. Nhưng thế hệ thứ hai, thứ ba, và đặc biệt những người trẻ sinh ra hoặc lớn lên tại Hoa Kỳ, thế hệ Gen Z, có một câu hỏi khác: “Tôi là người Việt, nhưng tôi đang sống ở đây. Tôi phải đóng góp thế nào cho xã hội này?” Nếu cộng đồng chỉ tiếp tục nói bằng ngôn ngữ của quá khứ như … chống cộng, biểu tình, phản đối, tưởng niệm, thì sẽ có nguy cơ không còn nói được với một thế hệ trẻ, thế hệ Gen Z Việt nữa. Không phải vì thế hệ trẻ đó quên nguồn gốc. Mà vì mối quan tâm của họ đã mở rộng. Họ quan tâm đến giáo dục, việc làm, kinh doanh, môi trường, nhà ở, an sinh xã hội, cơ hội chính trị, tương lai con cái...Do đó, nếu cộng đồng muốn tồn tại như một lực lượng có ảnh hưởng trong 20–30 năm tới, thì phải chuyển câu hỏi từ: “Chúng ta phản đối điều gì?” sang một câu hỏi xây dựng và thực tế hơn là: “Chúng ta đóng góp được gì?”

 

4-    Và đây là điểm tôi cho rằng rất đáng suy nghĩ, xin nói thật lòng, là có lẽ cộng đồng không nên bỏ “đấu tranh”, nhưng mà nên thay đổi khái niệm về đấu tranh, từ việc đấu tranh để chống lại một điều gì đó, sang đấu tranh bằng cách xây dựng một cộng đồng có năng lực và có ích, nghĩa là từ đấu tranh chính trị - protest politics sang đấu tranh “vì hay cho” một cộng đồng chính trị - community politics.

 

Tôi xin cô đọng lại thành một câu là biểu tình giúp cộng đồng được nhìn thấy được vấn đề. Vận động giúp cộng đồng được lắng nghe. Nhưng nếu cộng đồng tổ chức, tham gia và đóng góp mới giúp cộng đồng có ảnh hưởng lâu dài hơn. Và tôi nghĩ đây chính là chỗ chúng ta đang lần lần nhìn ra vấn đề của cộng đồng người Việt tại Houston, không phải người Việt thiếu tiếng nói, mà có thể chúng ta chưa biến tiếng nói ấy thành một năng lực cộng đồng có tổ chức và có tính liên tục.

 

LB3: Thưa anh Mai Thanh Truyết, Thực tế cho thấy nhà cầm quyền Việt Nam ngày càng ít bị ảnh hưởng bởi các cuộc biểu tình ở hải ngoại, dù số lượng người tham gia vẫn còn đông. Theo Anh, vì sao hình thức đấu tranh này không còn tạo được sức ép đáng kể như trước đây?

 

MTT3: Thưa cô LB và quý thính giả của VVA, tôi nghĩ nhận xét này có căn bản trong quá khứ và hiện tại, nhưng chúng ta cần phân biệt giữa “biểu tình không còn tác dụng” và “biểu tình không còn là công cụ tạo sức ép trực tiếp đối với Hà Nội như trước nữa.” Hai điều này không hoàn toàn giống nhau. Có mấy nguyên nhân chính:

  1. Khoảng cách địa lý và quyền lực: Một cuộc biểu tình tại Hoa Kỳ tạo ra tiếng vang trong xã hội Hoa Kỳ, nhưng chính quyền Việt Nam không trực tiếp chịu một cái giá chính trị hay kinh tế tức thời nào.
  2. Hà Nội đã quen với phương thức này rồi: Trong suốt 51 năm qua, việc biểu tình của người Việt hải ngoại đã trở thành một hiện tượng quen thuộc. Khi một phương thức được lặp lại nhiều lần mà không tạo ra hậu quả mới, CSBV là đối tượng bị phản đối có thể học cách “chịu đựng và bỏ qua” thay vì thay đổi chính sách.
  3. Môi trường Việt Nam đã thay đổi rất nhiều rồi: Các mối liện lạc kinh tế, thương mại, ngoại giao, giáo dục và trao đổi giữa Việt Nam với Hoa Kỳ ngày càng rộng. Chính quyền cs Việt Nam có nhiều lợi ích và quan hệ quốc tế khác để cân bằng. Vì vậy, một cuộc biểu tình đơn lẻ ở hải ngoại khó có thể làm thay đổi tính toán chiến lược của Hà Nội. Đây là một thực tể thiết nghĩ chúng ta không cần phải phủ nhận.
  4. Quan trọng nhất: “số đông” không đồng nghĩa với “sức ép”: Đây là điều cộng đồng cần nhìn thẳng vào. 10.000 người xuống đường có thể tạo một hình ảnh rất mạnh. Nhưng nếu, 10.000 cử tri đi bầu đều đặn, 10.000 người tham gia các tổ chức địa phương, hàng trăm doanh nghiệp đóng góp cho cộng đồng, các chuyên gia cung cấp dữ liệu và một mạng lưới liên lạc thường xuyên với giới dân cử có thể tạo ra ảnh hưởng chính trị lớn hơn rất nhiều. Vì vậy, tôi sẽ không kết luận rằng “biểu tình sẽ đưa đến thất bại.” Nhưng đúng hơn là biểu tình là công cụ để trình bày lập trường của cộng đồng; nhưng nó không tự động biến một cộng đồng thành một lực lượng có ảnh hưởng.

 

Những điều tôi trình bày trên đây có thể là bước ngoặt mà cộng đồng người Việt hải ngoại đang hiện diện trước mắt chúng ta. Nếu chúng ta “đấu tranh để Hà Nội phải nghe mình” chuyển sang việc “xây dựng một cộng đồng mạnh đến mức chính quyền địa phương, chính giới Hoa Kỳ và cả Hà Nội đều phải quan tâm đến tiếng nói của mình. Đó mới là một sự thay đổi từ phản ứng sang chủ động, và theo tôi, có ý nghĩa hơn rất nhiều cho thế hệ trẻ, thưa cô LB.

 

LB4: Thưa Tiến sĩ Mai Thanh Truyết, Gần đây, nhiều tiếng nói trong cộng đồng cho rằng muốn có ảnh hưởng thật sự, người Việt phải bước vào dòng chính của xã hội Mỹ. Anh có thể giải thích vì sao việc có các dân cử gốc Việt lại là yếu tố chiến lược trong cuộc đấu tranh cho tự do dân chủ Việt Nam?

 

MTT4: Thưa Cô LB, tôi nghĩ đây là một bước chuyển tiếp rất quan trọng trong suy nghĩ chính trị của cộng đồng người Việt hải ngoại. Nếu mục tiêu vẫn là tự do, dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam, thì việc có những người Việt trở thành dân cử tại Hoa Kỳ có giá trị chiến lược không phải đơn giản vì họ là “người Việt”, mà vì họ đã bước vào nơi mà quyền lực chính sách thực sự được hình thành trong xã hội Hoa Kỳ.

 

Từ người bên ngoài vận động hành lang thành người bên trong dòng chính. Một cuộc biểu tình có thể gửi thông điệp đến một dân biểu. Nếu một dân biểu gốc Việt có uy tín trong cả cộng đồng Việt và trong cộng đồng Mỹ rộng lớn hơn, tiếng nói của họ về Việt Nam sẽ không còn bị nhìn đơn thuần như tiếng nói của một nhóm người Việt chống cộng ở hải ngoại, mà có thể trở thành một tiếng nói của chính trường Hoa Kỳ về Việt Nam. Đó mới là ảnh hưởng chiến lược.

 

Dân cử gốc Việt còn có thể tạo ra “cầu nối thế hệ” vì thế hệ thứ nhất có ký ức về Việt Nam; thế hệ thứ hai, thứ ba lớn lên trong xã hội Mỹ. Nếu một người trẻ gốc Việt trở thành nghị viên thành phố, dân biểu tiểu bang, rồi dân biểu liên bang, thì họ chứng minh một điều rất quan trọng là người Việt không chỉ là một cộng đồng di dân sống trong quá khứ, mà người Việt đã trở thành một thành phần của đời sống chính trị Hoa Kỳ. Khi đó, vấn đề Việt Nam có thể được trình bày bằng ngôn ngữ của dân chủ, nhân quyền, pháp quyền và lợi ích quốc gia của Hoa Kỳ, thay vì chỉ bằng ngôn ngữ của ký ức 1975. Đây là cách để chuyển ký ức thành ảnh hưởng chính trị.

 

Và có một điều còn quan trọng hơn nữa là không nên chỉ tìm “người Việt để bầu”. Tôi nghĩ cộng đồng cần tránh một cái bẫy là tự coi một chân lý dưới đây là bất biến như: “Ứng cử viên là người Việt thì người Việt phải bỏ phiếu cho họ.” Không hẳn như thế,  Chúng ta cần mở thêm nữa, để nhìn một người Việt có năng lực, có phẩm chất, thấu hiểu những vấn để của cộng đồng, phục vụ toàn thể cử tri, và nhứt là có lập trường phù hợp với những giá trị mà cộng đồng muốn bảo vệ. Và đặc biệt, xin cô LB lưu ý là cộng đồng không nên trở thành một khối chỉ thuộc về Đảng Cộng hòa hay Đảng Dân chủ. Nếu người Việt có mặt trong cả hai đảng, họ sẽ có khả năng xây dựng quan hệ rộng hơn trong chính trường Hoa Kỳ. Đó mới là sức mạnh của cộng đồng lâu dài.

 

Và cuối cùng, mục tiêu của cộng đồng Việt không phải là đưa thật nhiều người Việt vào chính quyền Hoa Kỳ chỉ vì họ là người Việt. Mục tiêu là xây dựng một thế hệ người Mỹ gốc Việt có đủ năng lực và uy tín để tiếng nói của họ về Việt Nam được lắng nghe trong chính trường Hoa Kỳ.

Nếu nhìn như vậy, “hội nhập dòng chính” không phải là từ bỏ cuộc đấu tranh cho tự do dân chủ Việt Nam. Ngược lại, đó có thể là một hình thức đấu tranh trưởng thành hơn, từ việc biểu tình ngoài đường phố cho đến những bước chân bước vào nghị trường.

 

LB5: Thưa anh Truyết, dù cộng đồng người Việt khá đông và có trình độ, số người tham gia chính trị vẫn còn rất khiêm tốn. Theo Anh, đâu là những rào cản khiến chúng ta chưa hình thành được một thế hệ lãnh đạo gốc Việt mạnh mẽ trong chính trường Hoa Kỳ?

 

MTT5: Thưa cô LB, tôi nghĩ đây là một vấn đề nghiêm trọng nhứt trong cộng đồng. Người Việt ở Hoa Kỳ không thiếu người tài, nhưng người tài không tự nhiên trở thành lãnh đạo chính trị. Giữa “có trình độ” và “có ảnh hưởng chính trị” là cả một khoảng cách mà cộng đồng chúng ta chưa xây dựng đầy đủ. Tôi thấy có nhiều rào cản như sau: Tâm lý “lo làm ăn hơn lo chính trị”: Thế hệ đầu tiên sang Mỹ phần lớn phải bắt đầu lại từ nghề nghiệp, gia đình, nhà cửa, kinh doanh, xây dựng tương lai cho…con cái. Họ xem thành công kinh tế là ưu tiên, và chính trị thường được xem là chuyện của người khác. Điều này tạo ra một nghịch lý là trong cộng đồng, có rất nhiều bác sĩ, kỹ sư, luật sư, doanh nhân, giáo sư… nhưng số người chấp nhận bỏ thời gian nhiều năm để đi vào địa hạt chính trị lại rất ít.

 

Nhưng, cộng đồng Việt hiện chưa có một hệ thống đủ mạnh và liên tục như vậy. Sự phân hóa nội bộ làm tiêu hao năng lượng của cộng đồng: Đây là vấn đề chúng ta phải thẳng thắn nhìn nhận dù cho có phũ phàng. Tất cả là do lỗi của chính chúng ta. Nếu một người Việt có ý định bước vào chính trị mà trước tiên phải đối phó với sự chia rẽ giữa các nhóm trong chính cộng đồng Việt, thì họ sẽ mất rất nhiều năng lượng trước khi bước ra được chính trường Mỹ. Kinh nghiệm ở các kỳ bầu cử nghị viên ở vùng SW Houston vừa qua, cho thấy vì chia rẽ cho nên có 3-4 ứng cử viên Việt ra tranh cử cùng một Đon vị. Rốt cuộc, vì chia phiếu, một ứng cử viên da màu đắc cử trong một địa phương trong đó cử tri Việt chiếm đa số! Rất tiếc!

Một cộng đồng muốn có sức mạnh chính trị phải học được điều rất căn bản của nền dân chủ, là bài học rằng có thể bất đồng với nhau về chính trị nhưng vẫn hợp tác với nhau vì lợi ích chung. Đó là điều mà chính trường Hoa Kỳ đã vận hành hàng ngày. Chúng ta chưa tận dụng đầy đủ sức mạnh của lá phiếu. Cũng lấy thí dụ đơn vị bầu cử trên, số cử tri người Việt chiếm độ 12.000 người, và qua thống kê nhiều kỳ bầu cử trong quá khứ, chỉ cần 5.000 cử tri Việt đi bầu, bảo đảm với quý vị rằng, chắc chắn chúng ta sẽ thắng! Nếu cộng đồng Việt biến được người dân cư ngụ trong một đơn vị bầu cử thành một lực lượng cử tri đi bầu thì giá trị chính trị của cộng đồng sẽ tăng lên rất nhanh. Tôi xin tóm tắt lại thành một ý như sau, vấn đề của cộng đồng Việt không phải thiếu người tài, mà vấn đề là chúng ta chưa biến được “người tài” thành “người lãnh đạo”, và chưa biến được “dân số” thành “sức mạnh chính trị” qua lá phiếu cử tri!.

 

LB6: Thưa Tiến sĩ Mai Thanh Truyết, nhiều chuyên gia cho rằng giới trẻ gốc Việt có đủ năng lực để bước vào chính trị, nhưng họ chưa được khuyến khích đúng mức. Anh đánh giá vai trò của giới trẻ trong tiến trình thay đổi này như thế nào, và vì sao họ cần mạnh dạn ứng cử?

 

MTT6: Thưa Cô LB, tôi đánh giá giới trẻ gốc Việt là mắt xích quyết định nếu cộng đồng muốn chuyển từ một cộng đồng có tiếng nói thành một cộng đồng có ảnh hưởng chính trị lâu dài. Nhưng tôi muốn nhấn mạnh một điểm là không nên xem giới trẻ chỉ là “người kế thừa” của thế hệ trước. Họ phải là những người cùng tạo ra giai đoạn mới.

 

Vì sao giới trẻ có lợi thế đặc biệt? Họ có một lợi thế mà thế hệ thứ nhất khó có được: họ đã là và thuộc về dòng chính ngay từ đầu đời rồi. Họ học trong hệ thống giáo dục Mỹ, sử dụng tiếng Anh tự nhiên, hiểu văn hóa và xã hội Mỹ, có liên quan với bạn bè, đồng nghiệp thuộc nhiều sắc tộc khác nhau, có thể hoạt động trong cả hai không gian Việt Nam và Hoa Kỳ. Do đó, khi một người trẻ gốc Việt bước vào chính trị, họ không nhất thiết phải “hội nhập vào nước Mỹ” nữa vì họ đã ở trong nước Mỹ rồi. Việc còn lại là biến sự hiện diện ấy thành sự tham gia và lãnh đạo.

 

Tại sao họ cần mạnh dạn ứng cử? Vì họ thấy, nếu không ứng cử thì người khác sẽ quyết định thay thế mình. Đây là một nguyên tắc rất đơn giản của dân chủ. Một cộng đồng có hàng chục ngàn người nhưng không có người của mình trong các cơ quan quyết định chính sách thì tiếng nói vẫn chưa là tiếng nói của người vận động bên ngoài. Ngược lại, khi một người trẻ gốc Việt ứng cử vào hội đồng thành phố, học khu, county hay cơ quan lập pháp tiểu bang, họ bắt đầu học cách đem những vấn đề của cộng đồng vào chính sách công. Và quan trọng hơn nữa, họ đang học cách làm chính trị, chứ không chỉ nói về chính trị.

 

Nhưng thế hệ lớn tuổi cần phải làm một việc rất quan trọng là đừng chỉ kêu gọi người trẻ hãy tham gia. Nếu một người trẻ bước ra ứng cử mà cộng đồng chỉ hỏi: “Cháu có theo đúng lập trường của thế hệ chúng tôi không?” thì chúng ta có thể làm mất một thế hệ, vì họ sẽ rời xa chúng ta, thế hệ một ngay. Mà câu hỏi cần hỏi tuổi trẻ là: “Cháu muốn phục vụ cộng đồng như thế nào? Chúng tôi có thể giúp cháu những gì?”

 

Và tôi nghĩ đây là điểm quan trọng nhất đối với câu chuyện Việt Nam, một người trẻ gốc Việt trở thành dân cử Hoa Kỳ không cần phải mang toàn bộ quá khứ của thế hệ cha mẹ vào nghị trường. Họ có thể nói một ngôn ngữ mới với tất cả mọi người sống trên đất Mỹ về dân chủ — nhân quyền — pháp quyền — tự do — quan hệ quốc tế — lợi ích của Hoa Kỳ — và tương lai của Việt Nam.

Khi đó, cuộc vận động cho Việt Nam có thể chuyển sang việc “Những công dân Mỹ gốc Việt tham gia vào “dự thảo” chính sách của Hoa Kỳ đối với Việt Nam.”

Thưa cô LB, thế hệ trước đã giữ ngọn lửa. Thế hệ trẻ phải học cách mang ngọn lửa ấy vào nghị trường. Và mạnh dạn ứng cử không phải vì họ là người Việt nên phải làm chính trị. Vì nếu họ có năng lực, có lý tưởng và muốn phục vụ xã hội, thì không có lý do gì người Việt phải đứng mãi bên ngoài cánh cửa quyền lực của dòng chính Hoa Kỳ thưa Cô?

 

LB7: Thưa anh Truyết, trong khi không phải ai cũng có thể ứng cử, thì lá phiếu lại là điều mọi người đều có thể sử dụng để tạo ảnh hưởng. Anh có thể phân tích vì sao việc đi bầu đông đảo lại giúp cộng đồng người Việt có tiếng nói mạnh hơn đối với các ứng cử viên và chính sách liên quan đến Việt Nam?

 

MTT7: Thưa quý thính giả, theo tôi đây là một trong những điểm căn bản nhất của việc xây dựng sức mạnh chính trị của cộng đồng Việt. Không phải ai cũng có thể ra tranh cử, nhưng hầu hết công dân đủ điều kiện đều có một quyền lực rất cụ thể là lá phiếu.

Lá phiếu biến “đông người” thành “sức mạnh chính trị”: Một cộng đồng có thể có 100.000 người Việt, nhưng nếu chỉ một phần nhỏ đi bầu thì đối với ứng cử viên, con số 100.000 ấy không có cùng ý nghĩa. Ngược lại, nếu một ứng cử viên biết rằng, khu vực này có 15.000 cử tri gốc Việt và phần lớn trong số họ thực sự đi bầu, thì chắc chắn cộng đồng ấy trở thành một khối cử tri cần được quan tâm.

 

Đây là điểm rất quan trọng, vì dân số thì tạo ra tiềm năng, mà số cử tri mới tạo ra sức mạnh. Người đi bầu biến sức mạnh ấy thành ảnh hưởng. Ứng cử viên sẽ lắng nghe ở nơi có cử tri: Một chính trị gia phải tính toán rất thực tế khi đánh giá một cộng đồng. Nếu một cộng đồng có số cử tri ghi danh đông, đi bầu đều đặn, tham dự các buổi tiếp xúc của ứng cử viên, biết đặt câu hỏi, có liên lạc với văn phòng dân cử, có tổ chức cộng đồng hoạt động tốt. Chắc chắn sẽ có bất cứ ứng cử viên nào trong địa hạt sẽ đến tiếp xúc với cộng đồng, không phải một lần mà là nhiều lần.

 

Nhưng lá phiếu không chỉ dùng để “ủng hộ người Việt”: Thưa cô LB, đây là chỗ tôi nghĩ cộng đồng cần trưởng thành hơn. Chúng ta không nên biến nguyên tắc thành chỗ nào có người Việt ứng cử thì người Việt phải bầu cho; mà nên là, nếu có ưng cử viên nào hiểu, tôn trọng và có khả năng phục vụ lợi ích của cộng đồng thì chúng ta xem xét ủng hộ họ, dù họ là người Việt hay bản xứ!

 

Nếu có ứng cử viên gốc Việt tốt, đó là một lợi thế. Nhưng nếu ứng cử viên không phải người Việt mà có chính sách tốt và tôn trọng cộng đồng Việt, họ cũng phải được cộng đồng quan tâm. Như vậy, người Việt có thể xây dựng quan hệ với cả hai đảng và nhiều nhóm chính trị khác nhau. Một khi đã trở thành dân cử liên bang, họ có thể tham gia vào những vấn đề liên quan đến chính sách đối ngoại, nhân quyền, tự do tôn giáo, thương mại, quan hệ Mỹ–Việt, chính sách của Hoa Kỳ đối với Đông Nam Á. Khi ấy, lá phiếu của cộng đồng ngày hôm nay có thể góp phần tạo nên tiếng nói chính trị cho ngày mai. Cho nên, nếu cộng đồng muốn có tiếng nói mạnh hơn về Việt Nam, có lẽ trước hết không cần phải nhìn về Washington.

 

Hãy bắt đầu từ thùng phiếu ngay tại nơi mình đang sống. Đó chính là con đường từ “người Việt sống ở Mỹ” trở thành một “công dân Mỹ gốc Việt có ảnh hưởng chính trị.”

 

LB8: Thưa anh Truyết, tỉ lệ đi bầu của người Việt vẫn chưa tương xứng với số dân và tiềm năng ảnh hưởng chính trị của cộng đồng. Theo Anh, chúng ta cần những biện pháp cụ thể nào để nâng cao ý thức và tỉ lệ tham gia bầu cử của đồng hương?

 

MTT8: Thưa Cô LB, tôi nghĩ muốn nâng tỷ lệ đi bầu của người Việt thì không nên bắt đầu bằng những lời kêu gọi chính trị lớn, mà bằng những việc rất cụ thể, đều đặn và gần với đời sống. Làm sao biến việc đi bầu thành một thói quen của cộng đồng: Đừng chỉ vận động vào vài tuần trước ngày bầu cử. Cần tạo một thông điệp thường xuyên và nên thay đổi định kiến về việc “làm chính trị” là đi bầu là trách nhiệm của người công dân, không phải chỉ là chuyện chính trị. Ngay cả khi không có ứng cử viên Việt Nam, người Việt vẫn đi bầu. Mục tiêu phải là tạo thói quen, chứ không phải chỉ huy động khi cộng đồng cần một lá phiếu cho một vấn đề nào đó.

 

Một trong những nguyên nhân khiến người ta không đi bầu là cảm giác: “Một lá phiếu của tôi thì có thay đổi được gì đâu?” Cộng đồng cần cho các ứng cử viên thấy bằng những ví dụ rất cụ thể: - 100 người đi bầu, sẽ được ứng cử viên chú ý - 1.000 người, sẽ làm ứng cử viên tìm đến - 10.000 người, chắc chắn không ứng cử viên nào muốn bỏ qua. Khi người Việt hiểu rằng tỷ lệ đi bầu chính là một phần của sức mạnh chính trị, thái độ của mỗi chúng ta sẽ thay đổi.

 

Thưa cô LB, tôi đặc biệt muốn nhấn mạnh một lần nữa là không nên biến việc đi bầu thành “phe ta – phe địch”. Nếu cộng đồng nói: “Phải bầu cho Cộng hòa.” hoặc: “Phải bầu cho Dân chủ.” Lúc đó, chính chúng ta tự thu hẹp sức mạnh của mình. Tốt hơn là, hãy đi bầu, hãy tìm hiểu ứng cử viên, hãy xem họ nói gì về những vấn đề quan trọng đối với gia đình, cộng đồng và xã hội. Sau đó tự mình quyết định. Một khi người Việt trở thành một lực lượng cử tri độc lập và có trách nhiệm, cả hai đảng đều phải tìm cách thuyết phục chúng ta.

 

Thí dụ: Cộng đồng người Hoa ở khu vực SW Houston đều vận động và ủng hộ tài chính cho cả Đảng CH và DC. Vì vậy, dù cho ứng cử viên đảng nào đắc cử, họ vẫn có lợi thế ở nghị trường. Do đó, hầu như tất cả các proposal của họ dành cho lợi ích của người Tàu trong vùng đều được chấp thuận. Còn cộng đồng VN thì sao? Xin bà con suy nghĩ thêm…

Tóm lại, muốn người Việt có tiếng nói trong chính trường Hoa Kỳ, trước hết phải biến người Việt từ một cộng đồng đông dân thành một cộng đồng đông cử tri, và từ đông cử tri thành đông người thực sự đi bầu.

 

LB9: Thưa anh Truyết, nếu cộng đồng người Việt thực sự thay đổi cách đấu tranh, từ biểu tình sang tham gia dòng chính và sử dụng lá phiếu, thì sức mạnh chính trị sẽ khác rất nhiều. Anh dự đoán trong 10–20 năm tới, tiếng nói của người Việt trong chính trường Hoa Kỳ sẽ phát triển theo hướng nào?

 

MTT9: Thưa Cô LB, nếu cộng đồng thực sự chuyển từ đấu tranh chính yếu bằng biểu tình sang việc tham gia dòng chính, đi bầu, xây dựng tổ chức và đào tạo thế hệ lãnh đạo, thì tôi khá lạc quan về 10–20 năm tới. Nhưng tôi sẽ gọi đây là một dự báo có điều kiện, chứ không phải điều chắc chắn.

 

Trong 5 năm đầu từ một cộng đồng được địa phương chú ý đến một cộng đồng được tính (count) đến”. Nếu được vậy, điều đầu tiên có thể thay đổi không phải là số dân cử gốc Việt, mà là thái độ của các chính trị gia đối với cộng đồng Việt. Nếu tỷ lệ đi bầu tăng đều, các văn phòng dân cử sẽ bắt đầu chủ động chú ý và tiếp xúc với cử tri Việt, tổ chức họp báo bằng tiếng Việt, quan tâm đến các vấn đề của khu vực có đông người Việt. Họ sẽ tuyển người Việt vào các văn phòng và cơ quan công quyền, và nhứt là tìm kiếm sự ủng hộ của cộng đồng trong các cuộc bầu cử.

 

Đó là lúc cộng đồng bắt đầu được nghe các vị dân cử hay ứng cử viên thốt lên: “Quý vị cần chúng tôi trong một liên minh dân cử hoặc liên minh cử tri.”

Đây là một thay đổi rất lớn. Tôi tin tưởng với tình hình cộng đồng hiện tại, thì khoảng 5–10 năm nữa sẽ xuất hiện một tầng lớp lãnh đạo mới, trong đó sẽ có từ school board, đến city council, qua county, state legislature, và sau cùng một số người trong số đó sẽ tiến lên cấp liên bang.

 

Nếu nhìn về 10-20 năm tới, tôi cũng dự đoán một sự thay đổi rất quan trọng cộng đồng. Tôi thấy cộng đồng sẽ bớt đi “đồng nhất”. Nghe có vẻ nghịch lý, nhưng tôi cho rằng đó là dấu hiệu sự trưởng thành, vì, trong 10–20 năm tới, người Việt có thể có: Người Cộng hòa - Người Dân chủ - Người độc lập - Người thiên về kinh tế - Người thiên về xã hội - Người đặc biệt quan tâm đến Việt Nam – Và người gần như chỉ quan tâm đến đời sống Hoa Kỳ.

 

Như vậy, một cộng đồng đa dạng về chính kiến nhưng có khả năng hợp tác, theo tôi, mạnh hơn một cộng đồng “đồng thuận” nhưng chia rẽ sâu sắc bên trong. Như vậy, mỗi người trong chúng ta, ngay từ bây giờ, cố gắng làm thế nào để cộng đồng thiểu số người Việt trở thành một cộng đồng công dân có năng lực chính trị đến mức bất kỳ chính quyền nào cũng phải coi tiếng nói của mình là một tiếng nói đáng được lắng nghe?

 

LB10: Thưa Tiến sĩ Mai Thanh Truyết, nhiều đồng hương mong muốn một hướng đi mới, nhưng chưa biết bắt đầu từ đâu để tạo thay đổi thật sự. Theo anh, điều cấp bách nhất mà cộng đồng người Việt hải ngoại cần thực hiện ngay hôm nay là gì để trở nên mạnh mẽ và hữu hiệu hơn trong cuộc đấu tranh cho tự do dân chủ Việt Nam?

 

MTT10: Tôi nghĩ có thể bắt đầu bằng ba việc rất cụ thể:

 

1- Lập một chương trình “Công dân Việt-Mỹ”: Đây không phải là thành lập một đảng phái, cũng không vận động chống hay ủng hộ một đảng, mà chỉ tập trung vào việc hướng dẫn đồng hương trong việc ghi tên đi bầu, tìm hiểu chính quyền địa phương hoạt động như thế nào, biết dân biểu, nghị sĩ của mình là ai, biết cách liên lạc với văn phòng dân cử, biết trình bày một vấn đề với một dân biểu bằng ngôn ngữ của chính trị Hoa Kỳ.

Đây chính là bước chuyển từ “người đi biểu tình” suốt 51 năm qua thành “người công dân có ảnh hưởng” đến chính trường Hoa Kỳ.

 

2- Đặt mục tiêu tăng tỷ lệ cử tri, chứ không chỉ tăng số người xuống đường: Ví dụ, một cộng đồng có 12.000 cử tri đủ điều kiện mà chỉ một phần nhỏ đi bầu thì 12.000 người ấy trên thực tế chưa tạo được 12.000 tiếng nói. Nhưng nếu cộng đồng có thể tổ chức để hàng ngàn người đi bầu đều đặn, các ứng cử viên sẽ bắt đầu nhìn cộng đồng Việt Nam bằng một con mắt khác. Đó là một vị thế hoàn toàn khác.

 

3- Quan trọng nhất là bắt đầu trao việc cho thế hệ trẻ: Đây mới là việc khó nhất thưa cô LB. Nếu thế hệ lớn tuổi cứ giữ vai trò lãnh đạo mãi, thế hệ trẻ sẽ đứng ngoài. Nhưng nếu chúng ta giao cho họ những việc thật như tổ chức ghi danh cử tri - voter registration, làm việc với văn phòng dân cử, tham dự hội đồng thành phố, vận động cộng đồng, tranh cử school board, city council, v.v… thì từ đó mới xuất hiện một thế hệ lãnh đạo mới.

Thế hệ đi trước không nhất thiết phải rời khỏi cuộc đấu tranh. Chỉ cần thay đổi vai trò thôi, từ người đứng đầu hàng ngũ thành người mở đường và cố vấn.

 

Câu hỏi của cô LB là “những việc mà cộng đồng người Việt hải ngoại cần thực hiện ngay hôm nay là gì để trở nên mạnh mẽ và hữu hiệu hơn trong cuộc đấu tranh cho tự do dân chủ Việt Nam?   Nếu mục tiêu cuối cùng vẫn là tự do và dân chủ cho Việt Nam, thì thay đổi phương pháp và truyền đạt lãnh đạo cộng đồng cho tuổi trẻ không có nghĩa là từ bỏ lý tưởng trên. Ngược lại, chúng ta đang tìm một phương thức hiệu quả hơn để biến lý tưởng thành ảnh hưởng thực tế. Nếu, 51 năm qua, chúng ta đã liên tục biểu tình để tạo tiếng vang, thì bây giờ cần xây dựng lại tầng lớp cử tri, có tổ chức, có lãnh đạo, có sân chơi là nghị trường, có chính sách, có ảnh hưởng đến dòng chính.

 

Và sau cùng, tiếng nói về Việt Nam cũng sẽ thay đổi, không còn chỉ là tố cáo, phản đối chế độ cộng sản suôn, mà có thể trở thành những công dân Hoa Kỳ gốc Việt đang tham gia vào việc hình thành chính sách của Hoa Kỳ đối với Việt Nam. Theo tôi, đó mới là bước trưởng thành lớn nhất của cộng đồng người Việt hải ngoại.

 

Và nếu Cô LB hỏi tôi phải bắt đầu ngay ngày mai, sau buổi nói chuyện ngày hôm nay bằng một việc làm gì, tôi sẽ nói rất đơn giản mà bất cứ một người Việt sống tại Hoa Kỳ đều có thể làm được là: “Hãy tập hợp một nhóm nhỏ những người có tâm huyết, không phân biệt Cộng Hòa hay Dân Chủ, đặt mục tiêu xây dựng văn hóa đi bầu và đào tạo thế hệ lãnh đạo trẻ. Hãy bắt đầu bằng câu hỏi “chúng ta muốn xây dựng được sức mạnh gì cho 10–20 năm tới?”

 

Một ngày nào đó, bất cứ chính quyền nào ở Hoa Kỳ cũng phải nhìn cộng đồng người Việt như một cộng đồng công dân có tổ chức, có tiếng nói, có lá phiếu và có trách nhiệm, một cộng đồng mà tiếng nói của họ có thể góp phần vào chính sách của Hoa Kỳ đối với Việt Nam. Đến lúc đó, “đấu tranh” không còn chỉ là phản đối một điều gì đó.

 

Đấu tranh mới và mở sẽ trở thành khả năng xây dựng một Việt Nam tương lai.

 

Thế hệ trước đã giữ ngọn lửa - Thế hệ hôm nay phải xây cây cầu - Và thế hệ mai sau, những Gen Z Việt Nam phải bước trên cây cầu ấy để đi vào tương lai.

Cảm ơn Cô LB đã điều hợp buổi phỏng vấn hôm nay.

 

Mai Thanh Truyết

Houston – Tháng 10 - 2026

 



https://drive.google.com/file/d/1HtDOf4VEBAbRFadu6sI7Lz0cw8h_poRF/view?usp=drive_link

https://drive.google.com/file/d/1k2Un82IF4nPefYuzJfAplCw3-Uf9roI8/view?usp=drive_link

Friday, October 2, 2026

 Viên đá cho tương lai Việt Nam

 


Hôm nay, tôi nói lên tiếng nói này không phải để tranh giành quyền lực, không phải để chống lại bất kỳ ai, mà để bảo vệ tương lai của dân tộc Việt Nam.

Tôi không phủ nhận lịch sử, không oán hận thế hệ trước, nhưng tôi không thể im lặng trước những nguy cơ do quyền lực tập trung, thiếu minh bạch và không gian phản biện bị hạn chế. Khi môi trường suy thoái, giáo dục trì trệ, y tế bế tắc…, và chủ quyền bị đe dọa, sự im lặng là đồng lõa. Và đồng lõa là sự lựa chọn mà lương tri cá nhân không thể chấp nhận.

Tôi đứng về phía sự trưởng thành của quốc gia, không phải về phe phái nào. Tôi tin rằng một quốc gia mạnh không sợ phản biện, một chính quyền vững không cần bịt miệng tiếng nói khác biệt, và một dân tộc lớn mạnh là dân tộc biết tự điều chỉnh từ những sai sót của chính mình.

Cải cách và chuyển đổi thể chế không phải là khẩu hiệu chính trị. Mà “phải” là một điều kiện sanh tồn, mang hồn thiêng sông núi trở về với dân tộc. Nếu quyền lực tập trung mà thiếu kiểm soát, nó phải được điều chỉnh và xét lại. Nếu xã hội thiếu minh bạch, minh bạch phải được mở rộng. Nếu không gian phản biện bị hạn chế, phản biện phải được bảo vệ. Người dân cần phải có tiếng nói!

Tôi không kêu gọi bạo lực, tôi kêu gọi lý trí.

Tôi không kêu gọi hận thù, tôi kêu gọi trách nhiệm.

Tôi không kêu gọi lật đổ, tôi kêu gọi tự điều chỉnh.

Tôi không kêu gọi triệt tiêu, nhưng tôi kêu gọi chuyển đổi thể chế.

 

Lịch sử sẽ không đánh giá chúng ta dựa trên sự trung thành mù quáng hay sự nổi loạn cảm tính. Lịch sử sẽ đánh giá chúng ta qua những gì chúng ta đã dám làm để chuẩn bị bảo vệ tương lai của đất nước.

Nếu một ngày Việt Nam có một thể chế minh bạch hơn, bao dung hơn, tôn trọng pháp quyền hơn, và bảo vệ môi trường tốt hơn, thì đó không phải là chiến thắng của một phe phái, mà là chiến thắng của sự trưởng thành của một quốc gia.

Và nếu tiếng nói của tôi chỉ là một viên đá nhỏ trong dòng luân lưu ấy, tôi sẽ giữ tiếng nói đó cho đến khi Việt Nam không còn phải sợ sự thật nữa, mà là chấp nhận sự thật, để từ đó cải sửa và…tiến lên cùng năm châu bốn biển.

 

 

Vì vậy, quan điểm chánh trị của người con Việt, Mai Thanh Truyết đối với hệ thống do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo không thể được hiểu theo lối phân đôi giản lược giữa “ủng hộ” và “chống đối”. Cách tiếp cận nầy không thuộc về sự trung thành tuyệt đối với hiện trạng, nhưng cũng không rơi vào đối kháng cách mạng hay phủ định lịch sử.

Thay vào đó, lập trường trên thể hiện một dạng phê bình cấu trúc thể chế mang tính cải cách, đặt nền tảng trên trách nhiệm công dân, đạo đức trí thức và phân tích dài hạn về sự bền vững quốc gia.

Phần trình bày nầy hệ thống hóa quan điểm chính trị của người viết trong đối chiếu với các lý thuyết chính trị hiện đại về lý thuyết thể chế bao dung và khai thác, chủ nghĩa lập hiến tự do, lý thuyết xã hội dân sự, mô hình quản trị Marx–Lenin, và truyền thống chính trị bất bạo động. Qua đó, có thể định vị tư tưởng và suy nghĩ của một người con Việt như là một dạng phê bình cải cách, chuyển đổi thể chế từ nền tảng công dân, thay vì một lập trường ý thức hệ đối kháng thuần túy.

Phê bình cấu trúc thay vì đối kháng ý thức hệ: Một đặc điểm nổi bật trong quan điểm chính trị trên là không tiếp cận vấn đề từ góc nhìn triệt để phủ định học thuyết cộng sản như một ý thức hệ trừu tượng, mà trong một chừng mực nào đó, chúng ta có thể làm cho người cộng sản Việt “tỉnh ngộ” và “quay đầu về núi”. Chống cộng cực đoan mang tính cảm xúc hay lịch sử chiến tranh đã xảy ra hơn 51 năm qua, và làm Đất và Nước ngày càng trì trệ so với các lân bang xung quanh. Thay vào đó, thiết nghĩ cần tập trung vào cách thức vận hành của cấu trúc quyền lực hiện hành, chứng minh cho họ biết rằng, cung cách quản lý đất nước trong quá khứ và hiện tại đã đưa đất nước vào … tụt hậu!

Vấn đề cốt lõi không nằm ở danh xưng của chế độ, mà ở mức độ tập trung quyền lực, cơ chế kiểm soát, cân bằng và khả năng tự điều chỉnh của hệ thống. Khi quyền lực tập trung quá mức vào một thiểu số mà thiếu cơ chế giám sát độc lập, nguy cơ tha hóa và khai thác sẽ tăng theo thời gian. Sự phê bình và tiếng nói của những người con Việt nhằm mang tính cơ cấu (structure) và nhiệm chức (function), chứ không phải tính biểu tượng hay ý thức hệ.

Cách tiếp cận này giữ được vị trí độc lập và không tự đồng nhứt với phe bảo vệ hiện trạng của nhà cầm quyền, nhưng cũng không đứng vào hàng ngũ kêu gọi lật đổ. Tất cả nhằm mục đích đặt câu hỏi về hiệu quả, tính minh bạch và tình tự dân tộc của những người nắm quyền lực thay vì đặt vấn đề về tính chính danh lịch sử.

Đối chiếu với lý thuyết thể chế bao dung – khai thác: Những phân tích của Daron Acemoglu và James A. Robinson về “thể chế bao dung” và “thể chế khai thác” cung cấp công cụ lý thuyết hữu ích để cảm nhận được phần nào lập trường và con đường đi của người viết. Theo hai tác giả trên, các quốc gia phát triển bền vững thường xây dựng được những thể chế bao dung, nơi quyền lực được phân tán tương đối, pháp luật bảo vệ quyền sở hữu và khuyến khích sáng tạo. Ngược lại, thể chế khai thác việc tập trung quyền lực vào nhóm nhỏ và phân phối lợi ích theo hướng đặc quyền đặc lợi.

Việc phê bình đối với mô hình phát triển tại Việt Nam trong quá khứ cho đến hiện tại, có nhiều điểm tương đồng với lý thuyết này. Rõ ràng là nếu quyền lực không được kiểm soát hiệu quả, sự phát triển kinh tế có thể mang tính ngắn hạn, dựa trên khai thác tài nguyên và ưu đãi đặc quyền, thay vì dựa trên sự sáng tạo và tính minh bạch của cơ chế. Những hậu quả của môi trường ô nhiễm và quản trị tài nguyên một cách tùy tiện không đặc căn bản cân bằng với việc bảo vệ môi trường đương nhiên sẽ trở thành triệu chứng của cấu trúc quyền lực chưa bao dung.

Tuy nhiên, khác với một số lập luận cực đoan, người con Việt tin rằng hệ thống hiện tại không thể nào… bất biến. Cần đặt trọng tâm vào khả năng chuyển đổi và thay thế dần dần từ bên trong, thông qua việc mở rộng không gian phản biện của người dân và tăng cường trách nhiệm cùng nhiệm vụ giải thích kế hoạch và chính sách quốc gia của các quyền lực hiện đang quản lý đất nước.

Quan điểm đối với chủ nghĩa lập hiến tự do: Có nhiều yếu tố trong quan điểm và nhận định của người viết tương thích với truyền thống lập hiến tự do liên quan đến nhà nước pháp quyền, phân quyền, minh bạch và tự do học thuật. Ông nhấn mạnh rằng nếu thiếu cơ chế kiểm soát quyền lực, những quyết định sai lầm trong lĩnh vực môi trường, giáo dục hay y tế có thể gây hậu quả lâu dài cho quốc gia.

Tuy nhiên, người viết không kêu gọi hay cổ súy việc sao chép mô hình dân chủ phương Tây một cách cơ học và máy móc. Mỗi quốc gia có bối cảnh lịch sử, văn hóa và địa chính trị riêng. Vì vậy, việc cải cách từng bước, mở rộng dần không gian xã hội dân sự và tính minh bạch, thay vì thay đổi đột ngột là cần thiết..

Cách tiếp cận này có thể được xem là một dạng “chủ nghĩa cải cách dần dần thể chế” - institutional gradualism, đặt trọng tâm vào việc ổn định xã hội, đồng thời mở ra cơ hội điều chỉnh quốc gia dài hạn.

So sánh với mô hình quản trị Marx–Lenin: Mô hình Marx–Lenin, trong thực hành chính trị, nhấn mạnh vai trò lãnh đạo toàn diện của đảng và sự tập trung quyền lực nhằm duy trì ổn định. Người con Việt Mai Thanh Truyết không phủ nhận bối cảnh lịch sử đã hình thành hệ thống đó. Tuy nhiên, câu hỏi về khả năng duy trì lâu dài của một cấu trúc quyền lực tập trung cao trong bối cảnh kinh tế toàn cầu hóa và xã hội tri thức cần phải được cứu xét lại.

Nếu hệ thống không tự điều chỉnh để thích nghi với yêu cầu minh bạch và cạnh tranh toàn cầu, nguy cơ tụt hậu và phụ thuộc sẽ gia tăng. Điều nầy đã được chứng thực trong suốt hơn 51 năm qua. Không cần thiết nhằm vào biểu tượng cách mạng cổ điển triệt để, nghĩa là cần phải triệt tiêu mô hình độc tài, độc đảng trên, mà là hướng đến khả năng cải sửa và chuyển hóa thể chế nhằm thích ứng với chiều hướng toàn cầu hóa cùng việc hội nhập vào kinh tế thị trường.

Vai trò của xã hội dân sự và không gian công luận: Lý thuyết xã hội dân sự nhấn mạnh rằng một nhà nước lành mạnh cần có không gian công luận để người dân có điều kiện phản biện và những người quản lý tiếp nhận ý kiến và điều chỉnh quốc gia. Trí thức độc lập phải đóng vai trò “lương tri xã hội”, cung cấp phân tích dữ kiện và cảnh báo sớm chứ không nêu lên những điểm tiêu cực của đất nước, để rồi từ đó sẽ từ từ bào mòn sinh khí của toàn dân tộc.

Trong khung cảnh không gian phản biện bị hạn chế, tiếng nói trí thức càng có giá trị như một dạng bộ nhớ chính sách, giúp xã hội không quên những bài học môi trường và quản trị. Ở đây, vai trò của trí thức Việt không phải là tổ chức quần chúng, mà là duy trì tiếng nói trung thực của lương tri Việt!

Môi trường như một lăng kính chính trị: Điểm đặc biệt trong quan điểm của Mai Thanh Truyết là cung cách tiếp cận chính trị thông qua vấn đề môi trường. Ô nhiễm, suy thoái tài nguyên và thiếu minh bạch trong quản lý trở thành bằng chứng cho những khiếm khuyết cấu trúc của cơ chế vô sản. Như vậy, bảo vệ môi trường không chỉ là vấn đề sinh thái, mà còn là vấn đề thể chế.

Một hệ thống không minh bạch sẽ khó kiểm soát lợi ích nhóm, và khi lợi ích nhóm chi phối, môi trường thường sẽ là nạn nhân đầu tiên. Do đó, cải cách môi trường đồng nghĩa với cải cách thể chế.

Địa chính trị vùng: Ngoài ra, sự lo ngại về nguy cơ lệ thuộc chiến lược, đặc biệt trong mối quan hệ với Trung Cộng. Tuy nhiên, vấn đề ở đây là việc không cần khai thác chủ nghĩa dân tộc qua cảm tính, mà phân tích vấn đề dưới góc độ thể chế và năng lực thương thảo của quốc gia. Một hệ thống thiếu minh bạch và kiểm soát nội bộ sẽ yếu thế trong mọi đàm phán quốc tế.

Độc lập quốc gia không chỉ là khẩu hiệu, mà còn là kết quả của cơ cấu thể chế vững mạnh và minh bạch.

Đạo đức bất bạo động và cải cách ôn hòa: Một quan điểm nhất quán của người viết là từ chối bạo lực và hận thù. Cải cách thể chế bền vững phải dựa trên lý luận và thuyết phục, chứ không dựa trên xung đột cực đoan. Lập trường này đưa đến một truyền thống chính trị đạo đức, nơi mục tiêu không phải là giành quyền lực, mà là cải thiện cấu trúc vì lợi ích chung.

Thay lời kết

Câu nói cuối hoàn toàn phù hợp với quá trình chuyển hóa Việt Nam từ độc tài sang dân chủ, là một phần trong chiến lược dài hạn, không phải là biện pháp “cách mạng tức thời”. Hiệu quả nằm ở sự kiên nhẫn, đạo đức, và khả năng tạo ra các viên đá lót đường cho nhận thức và cải cách. Từ đó, tạo nên một nền tảng văn hóa xã hội công dân, một yếu tố không thể thiếu cho một nền dân chủ bền vững.

Tổng hợp lại, quan điểm chính trị đúng đắn có thể được mô tả như một dạng phê bình cải cách thể chế dựa trên trách nhiệm công dân. Không đứng ở cực bảo vệ hiện trạng, cũng không ở cực cách mạng đối kháng toàn diện. Nên chọn con đường phân tích cấu trúc, cảnh báo rủi ro dài hạn và đề nghị cải cách và chuyển hóa ôn hòa, nhưng dứt khoát!

 

Nếu một ngày nào đó Việt Nam có một thể chế minh bạch hơn, bao dung hơn, tôn trọng pháp quyền hơn và bảo vệ môi trường tốt hơn, thì đó sẽ không phải là chiến thắng của một phe phái, mà là chiến thắng của trí tuệ và lương tri dân tộc.


Tiếng nói của người viết, dù chỉ là một viên đá nhỏ trong dòng chảy lịch sử, không đơn thuần là phản biện, mà là viên đá đặt nền cho sự tự do nhận thức, cho mọi công dân dám nói sự thật và cho chính quyền biết và dám lắng nghe.

Tiếng nói đó trong suốt thời gian còn lại, vì tin tưởng rằng chỉ khi nào xã hội học cách nhìn thẳng vào sự thật, khi quyền lực chịu sự kiểm soát của pháp luật và lương tri, Việt Nam mới thực sự bắt đầu bước trên con đường từ độc tài sang dân chủ, không bằng bạo lực, mà bằng lý trí, đạo đức và sự tự điều chỉnh của chính mình.

Người con Việt Mai Thanh Truyết

Đầu năm Bính Ngọ 2026