Chánh
sách Hòa bình Chung sống của Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc
Một tư
tưởng đi trước thời đại
1- Một
tuyên ngôn bị lịch sử bỏ quên
Đạo Cao Đài chủ trương đem Bác
Ái và Công Bình mà lập nền Hòa Bình Chung Sống cho nhân loại, trước là cho dân
tộc Việt Nam, sau là cho toàn thế giới. Chánh sách này nhằm tránh nội chiến
tương tàn giữa người Việt với người Việt, thực hiện thống nhất quốc gia bằng
con đường ôn hòa, đặt nền tảng nhân đạo, dân chủ, tự quyết phù hợp với Tuyên
ngôn Nhân quyền Liên Hiệp Quốc.
Từ đó, Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc đã
đề xướng và gửi “Chánh sách Hoà Bình
Chung Sống” - Peaceful Coexistence, với tư cách là chính
sách dành cho tôn giáo và xã hội trong bối cảnh xung đột Nam Bắc Việt Nam giữa
thập niên 1950. Tài liệu này được công bố cho toàn đạo, các chức sắc
và tín đồ Cao Đài, là một dạng tuyên ngôn chính sách hoà bình toàn diện. Ngày
23-3-1956 được ghi là ngày ban hành bản tuyên ngôn/chánh sách này trước khi
chính sách này được chính thức công bố.
Trong
lịch sử cận đại Việt Nam, rất ít văn kiện chính trị, tư tưởng được xây dựng ngoài
quỹ đạo bạo lực cách mạng và chiến tranh ý thức hệ. Chánh sách Hòa Bình
Chung Sống do Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc công bố năm 1956 là một trong
những ngoại lệ hiếm hoi đó.
Đây
không phải là một cương lĩnh giành chính quyền, cũng không phải là một tuyên bố
ý thức hệ, mà cũng không phải là một văn bản thuần tôn giáo.
Đây
là một bản thiết kế hòa bình quốc gia, được hình thành trong thời điểm Việt
Nam vừa bị chia cắt (20/7/1954), và thế giới bị kẹp chặt giữa hai khối quyền lực
Hoa Kỳ - Liên Sô.
Điều
đáng chú ý là bản tuyên ngôn ra đời trước khi chiến tranh Việt Nam bùng nổ toàn
diện, và trước khi phong trào Không Liên Kết được định hình rõ rệt.
Nội
dung chính của “Tuyên ngôn Hoà Bình/Chánh sách Hoà Bình Chung Sống”
gốm tài liệu nhấn mạnh các điểm cốt lõi sau:
1.
Lý
tưởng hoà bình và bác ái nhằm mục tiêu là thúc đẩy tình thương yêu giữa con người
và các dân tộc, “bác ái và công bình” là nền tảng của xã hội hoà bình, mọi người
đều là “con cái của Đức Chí Tôn”, phải tương trợ nhau và tôn trọng phẩm giá của
nhau;
- Kêu gọi hoà bình chung sống giữa các tôn giáo
và các khối ý thức hệ (như Cộng sản và Tư bản lúc đó), tôn trọng sự
khác biệt nhưng hướng tới hợp tác xây dựng. Đây được coi là một
chính sách vượt lên trên xung đột chính trị thời bấy giờ, nhằm giảm căng
thẳng và tìm giải pháp hoà bình;
3.
Kêu
gọi bác ái, công bình và phục vụ nhân loại: Đức Hộ Pháp nhấn mạnh rằng giải
pháp hoà bình không chỉ đối với thế giới bên ngoài mà còn đối với đạo Cao Đài nội
bộ, tín đồ cần sống theo đức tính thương yêu, công bình và phục vụ.
Bản
tuyên ngôn/chánh sách này phản ảnh triết lý Cao Đài ôn hòa, hướng tới xã hội
hoà bình trong giai đoạn Việt Nam bị chia rẽ sâu sắc. Nó được xem như
nỗ lực dùng tinh thần tôn giáo để hoà giải các phe phái và động viên tín đồ
tìm giải pháp hoà bình, chứ không theo con đường bạo lực/chiến tranh.
2-Bối cảnh lịch sử và vị thế đặc biệt của
Đức Phạm Công Tắc
Đức Phạm Công Tắc không phải là một trí
thức bàn giấy. Ông là người lãnh đạo tinh thần của một tôn giáo bản địa lớn nhất
Việt Nam thế kỷ XX, là nhân vật từng va chạm trực tiếp với thực dân Pháp,
các thế lực chính trị trong nước, và các áp lực quốc tế. Ông cũng là người hiểu
rất rõ rằng bạo lực chính trị ở Việt Nam luôn gắn liền với sự can thiệp
ngoại bang. Chính vì vậy, tư tưởng hòa bình của ông không mang tính lãng mạn,
mà mang tính phòng ngừa thảm họa.
Nơi
Ông, có ba điểm chánh trong tư tưởng của Hòa Bình Chung Sống là:
-
(1) Hòa bình là điều kiện tiên quyết, không phải hệ quả: Khác với cả hai phía Cộng
sản và Quốc gia lúc bấy giờ đều tin rằng “thắng rồi sẽ có hòa bình”, Đức Phạm
Công Tắc đảo ngược logic này rằng nếu không có hòa bình trước, thì mọi thắng lợi
chính trị đều là thất bại nhân đạo.
- (2) Trung lập không phải là trốn
tránh, mà là chiến lược đạo đức một khi Ông hiểu rằng: “Đi theo Mỹ sẽ trở thành
tiền đồn chiến tranh, còn nếu theo Liên Xô/Trung Cộng sẽ trở thành vệ tinh ý thức
hệ. Và nếu, trung lập, trong tư tưởng Cao Đài, không phải là “đứng giữa cho an
thân”, mà là bảo toàn sinh mạng dân tộc.
-
(3) Nhân đạo cao hơn ý thức hệ: Tư tưởng của Đức Phạm Công Tắc rất gần với
tư tưởng nhân quyền phổ quát từ sau khi Thế chiến II, dù xuất phát từ tôn giáo.
3- Lộ trình thống nhất, một mô hình chính trị khả
thi nhưng bị bỏ lỡ
Điều khiến Chánh sách Hòa Bình
Chung Sống trở nên đặc biệt là nó không dừng ở đạo lý, mà đưa
ra lộ trình chính trị rất cụ thể, gồm hai giai đoạn rõ ràng có cơ chế hòa
giải, có vai trò của Liên Hiệp Quốc, có tổng tuyển cử, và có thời gian để dân
trí trưởng thành.
Nếu so với Hiệp định Genève (1954) thì
đây chỉ là ngưng bắn. Còn tổng tuyển cử theo Hiệp định Geneve chỉ là Tổng tuyển
cử “hứa hẹn” nhưng không có cơ chế ràng buộc giữa các bên tham chiến. Do đó, đề
án của Đức Phạm Công Tắc thực tế và nhân bản hơn nhiều.
Lộ trình thống nhứt Việt Nam gồm hai giai đoạn:
Giai đoạn thứ nhứt:
-
Hòa
giải và Ổn định - Tạm thời giữ nguyên hai miền theo ranh giới Vĩ tuyến
17 - Thành lập Ủy Ban Hòa Giải Dân Tộc, gồm Nhân sĩ trung lập, Đại diện
hai miền, Đại diện các tôn giáo lớn.
-
Thành
lập Chính phủ Liên Bang Trung Lập lâm thời để điều hòa kinh tế,
-
Đại
diện Việt Nam trước Liên Hiệp Quốc,
-
Chuẩn
bị điều kiện thống nhất. Bãi bỏ hàng rào chia cắt, bảo đảm tự do đi lại cho
nhân dân hai miền.
Giai đoạn thứ hai: Sau khi dân trí và điều
kiện xã hội chín muồi:
-
Tổ
chức Tổng Tuyển Cử toàn quốc dưới sự giám sát của Liên Hiệp Quốc.
-
Thành
lập Quốc hội duy nhất, Chính phủ trung ương thống nhất. Nhân dân Việt
Nam toàn quyền lựa chọn thể chế chính trị phù hợp với nguyện vọng của
mình.
Chính sách đối ngoại:
Việt Nam theo đường lối trung lập
tích cực, kêu gọi các quốc gia trung lập (Ấn Độ, Miến Điện, Anh…) hỗ trợ tiến
trình hòa giải. Trình bày vấn đề Việt Nam ra Liên Hiệp Quốc với tư
cách một dân tộc yêu chuộng hòa bình, bị chia cắt bởi hoàn cảnh quốc tế.
Thực thi Tuyên ngôn Nhân quyền của
Liên Hiệp Quốc trên toàn lãnh thổ Việt Nam.
Bảo đảm tự do tín ngưỡng, tự do tư tưởng,
tự do chính trị ôn hòa.
Phát động phong trào “Thi đua Nhơn
Nghĩa” giữa hai miền: - Không tuyên truyền thù hận - Không xuyên tạc lẫn nhau - Để nhân dân tự
so sánh và tự quyết.
Vai trò các tôn giáo: Các Tôn giáo Việt
Nam phải là lương tâm của dân tộc cần hợp tác liên tôn để khai mở đạo đức, hóa
giải hận thù, ngăn chặn bạo lực.
Tôn
giáo không làm chính trị đảng phái, nhưng có trách nhiệm đạo lý đối với
vận mệnh dân tộc.
4- Vì sao tư tưởng này thất bại?
Không phải vì nó sai. Mà vì nó
không phục vụ lợi ích của bất kỳ khối quyền lực nào.
Không
có lợi cho Mỹ (vì làm giảm lý do can thiệp);
Không có lợi cho khối Cộng sản (vì trì
hoãn cách mạng bạo lực);
Lịch
sử Việt Nam, quả thật đáng tiếc, đã chọn con đường máu thay vì con đường
khó nhưng nhân bản.
5- Thay lời kết
Nhìn lại từ thế kỷ XXI, Hòa Bình
Chung Sống không còn là “giá như”, hay “phải như”…”, mà là bài học
chiến lược. Mọi phát triển không dựa trên hòa giải đều để lại di chứng lâu dài.
Mọi chiến thắng bằng bạo lực đều cần hàng thế
hệ để chữa lành.
Điều
chúng ta cần học hôm nay: “Ngày nay, Việt Nam không còn chiến tranh, nhưng cũng chưa có hòa giải.
Chúng ta phát triển kinh tế, nhưng chưa chữa lành ký ức, vẫn còn lảng vảng đâu đó sự cách ngăn giữa
Đàng trong và Đàng ngoài.
Thông
điệp của Đức Phạm Công Tắc chưa hề cũ: “Không có hòa giải sẽ không có nền tảng
đạo đức cho phát triển, và Không có nhân đạo sẽ không có tương lai bền vững.”
Hòa
bình không phải là quên quá khứ.
Hòa
bình là đủ can đảm để không lặp lại một quá khứ đổ vỡ, đầy hận thù!
Có
những tư tưởng thất bại trong lịch sử, nhưng không bao giờ thất bại về mặt đạo
lý.
Nếu Việt Nam còn đi theo con
đường bạo lực, thì chỉ là thay ách nô lệ này bằng ách nô lệ khác.
Chỉ
có Hòa Bình Chung Sống, xây trên Bác
Ái – Công Bình – Nhân Đạo, mới cứu được dân tộc Việt Nam.
”Hòa
Bình Chung Sống là một tư tưởng như thế.”
Mai
Thanh Truyết
Khai
bút đầu năm
Virginia
– 2026
Ghi chú:
CHÁNH SÁCH HÒA BÌNH CHUNG SỐNG
DO DÂN – PHỤC VỤ DÂN – LẬP QUYỀN DÂN
(Nam
Vang, ngày 26-3-1956)
HỘ
PHÁP – PHẠM CÔNG TẮC
Cương
lĩnh chính:
1) Thống nhất lãnh thổ và khối dân tộc Việt
Nam với phương pháp ôn hòa:
•
Giai đoạn 1:
–
Giữ nguyên quyền tự trị nội bộ hai miền theo ranh giới Vĩ tuyến 17.
–
Thành lập Ủy ban Hoà giải Dân tộc gồm nhân sĩ trung lập và đại
diện hai chính phủ để tìm điểm dung hòa.
– Hình thành một Chính phủ Liên bang trung lập lâm thời để điều
hòa kinh tế và đại diện Việt Nam trước Liên Hiệp Quốc.
– Bãi bỏ rào chắn Vĩ tuyến 17, bảo đảm tự do đi lại của nhân dân.
•
Giai đoạn 2:
–
Khích lệ tinh thần dân tộc, để dân trưởng thành để tự quyết thể chế.
–
Tổ chức Tổng Tuyển Cử thống nhất toàn quốc dưới sự kiểm soát của Liên Hiệp Quốc
để lập Quốc hội duy nhất và chính phủ trung ương.
2)
Tránh
mọi xâm phạm nội quyền Việt Nam:
-
Công
nhận quyền tự quyết của mỗi miền và tránh can thiệp từ nước ngoài.
-
Khai
thác thế lực trung lập như Ấn Độ, Anh, Miến Điện để mở đường lối thứ ba cho hòa
giải.
- Tránh việc tham gia vào khối Nga hoặc
Mỹ nhằm không làm gia tăng thù địch.
3)
Xây dựng hoà bình, hạnh phúc và tự do dân chủ cho toàn dân:
–
Khích lệ “Thi đua Nhơn Nghĩa” giữa hai miền để đạt hoà bình hạnh
phúc dựa trên Bác ái – Công bình – Nhơn đạo.
– Thực hiện Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền của Liên Hiệp Quốc trên toàn lãnh thổ Việt
Nam.
–
Thu thập và trình bày ý kiến của nhân dân để Liên Hiệp Quốc hòa giải và thực hiện.
–
Thống nhất tinh thần dân tộc dựa trên hy sinh và phục vụ.
–
Hai miền bãi bỏ tuyên truyền xuyên tạc lẫn nhau để nhân dân tự quyết.
–
Thực hiện dưới sự ủng hộ và kiểm soát của Liên Hiệp Quốc và các phần tử
trung lập.
Các thư gửi kèm theo (trích đoạn)
Trong
tài liệu PDF còn có các thư Đức Hộ Pháp gửi:
Thư gửi Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc và Thủ tướng các cường
quốc
Đức
Hộ Pháp trình bày lý do sang nước ngoài để kêu gọi tinh thần nhân đạo của các
cường quốc, nhắm mục tiêu hòa giải và tránh chiến tranh tương tàn, và gửi kèm
chương trình tối thiểu nhằm thống nhất đất nước Việt Nam. (Đoạn trích có trong
bản đầy đủ)
Thư gửi Ông Hồ Chí Minh và Ông Ngô Đình Diệm
Đức
Hộ Pháp nhấn mạnh: Hiệp định Genève chỉ làm phân chia dân tộc và dẫn đến nội
chiến nếu không có một giải pháp trung lập; kêu gọi hai vị bỏ tư kiến để cứu quốc
và tìm giải pháp hòa giải. (Đoạn trích có trong bản đầy đủ)
Thư gửi các tôn giáo
Kêu
gọi tất cả tôn giáo Việt Nam cùng hợp lực để giác ngộ và hướng quốc dân theo
tinh thần hòa bình và trung lập.
No comments:
Post a Comment