Đọc thi phẩm
Lao Trung Lãnh Vận

Nói về Cụ Trần
Văn Hương, một nhân sĩ miền Nam, có lẽ Cụ là người duy nhứt đã dự phần trong suốt
cuộc ba đào ở miền Nam trong một giai đoạn đầy biến động của đất nước. Từ một
Ông Thầy giáo, qua một Ông Đô trường, rồi lại thành Ông “phạm nhơn”, bước lên
làm Ông Thủ tướng, rồi Ông Phó Tổng Thống, sau cùng làm Ông Tổng Thống Việt Nam
Cộng Hòa…
Một giai đoạn
xuyên suốt chiều dài của một đời người quyện củng những nét nhạc trầm bổng của
quê hương, nhưng buồn nhiều hơn vui! Đó chính là Cụ Trần Văn Hương.
Cụ Trần
Văn Hương sinh ngày 1 tháng 12 năm 1902 tại làng Long Châu, quận Châu Thành
(nay là thành phố Vĩnh Long), tỉnh Vĩnh Long trong một gia đình nghèo. Nhờ học
giỏi và được sự hy sinh của gia đình, cậu học sinh Trần Văn Hương được ra Hà Nội
học trường Cao đẳng Sư phạm. Sau khi tốt nghiệp, ông giáo Trần Văn Hương được bổ
về dạy tại trường Collège Le Myre De Villers tại Mỹ Tho, cũng là ngôi trường cũ
mà ông đã theo học mấy năm trước. Thời gian 1943-1945, Cụ Hương là giáo sư dạy
môn văn chương và luận lý tại trường này. Cụ là một thầy giáo đã từng đào tạo
nhiều học trò nổi tiếng (tướng Dương Văn Minh, tổng thống cuối cùng của Việt
Nam Cộng hòa, cũng tự nhận là một học trò của ông) và từng giữ chức vụ Đốc học
Tây Ninh.
Cụ Trần Văn Hương mất ngày 27
tháng 1 năm 1982 tại Sài Gòn, nhằm ngày mùng 3 Tết. Cụ mất đi để lại cho chúng
ta nhiều tiếc nuối. Vô tình được hợp duyên, người viết nhận được bản thảo thi tập
Lao Trung Lãnh Vận của Cụ viết từ năm 1964 tại SaiGon và xin ghi lại vài cảm
nghĩ nhỏ nhặt dưới đây.
Khi “Cách mạng tháng Tám 1945“
nổ ra, Cụ tham gia chánh quyền Việt Minh với tư cách nhơn sĩ tự do. Khi Pháp
tái chiếm Đông Dương, Cụ được cử giữ chức Chủ tịch Ủy ban Hành chánh Kháng chiến
tỉnh Tây Ninh. Tuy nhiên, năm 1946, do Cụ biết lực lượng Việt Minh là Cộng sản
quy chụp cho nhiều trí thức là Việt gian rồi đem thủ tiêu nên Cụ bỏ về quê sống
ẩn dật và tuyên bố bất hợp tác với cả chánh quyền Việt Minh lẫn Pháp và Cộng
hòa tự trị Nam Kỳ, sau này là Quốc gia Việt Nam.
Xét về sự nghiệp chánh trị, Cụ
Trần văn Hương đã hai lần được mời và bổ nhiệm đảm trách chức vụ Ðô Trưởng Sài
Gòn, chức vụ đứng đầu quán xuyến điều hành bộ máy hành chánh thủ đô Việt Nam Cộng
Hòa, bảo tồn bộ mặt của thể chế Cộng hòa ở miền Nam đang trong giai đoạn củng cố
xây dựng và phát triển với những khó khăn chồng chất về mọi mặt:
• Lần
đầu vào năm 1955 sau khi Hiệp định Genève chia hai đất nước Việt Nam được ký kết,
do cố Thủ Tướng Ngô Ðình Diệm;
• Lần thứ hai, sau khi chánh
quyền Ngô Ðình Diệm bị lật đổ vào năm 1963, Cụ Trần Văn Hương lại được bổ nhiệm
làm Ðô Trưởng Sài Gòn.
Và hai lần được mời làm Thủ tướng
và một lần Phó Tổng Thống:
• Lần
đầu vào Tháng 11 năm 1964, cụ được Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu bổ nhiệm làm Thủ
Tướng Chánh Phủ (1964-1065) và lập nội các, giữa lúc tình hình chánh trị vô
cùng căng thẳng.
• Lần thứ hai vào năm 1968,
trước tình hình chánh trị, quân sự, kinh tế suy sụp trầm trọng cụ nhận lời Tổng
thống Thiệu ra làm Thủ tướng lần thứ hai (1968 -1969).
Lần chấp chánh thứ ba của Cụ
là Phó Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa (1971 -1975).
Trong
bối cảnh chánh trị miền Nam, Cụ đã lần lượt dấn thân vào sinh hoạt chánh trị đại
chúng với danh nghĩa là một nhơn sĩ miền Nam do nhu cầu của đất nước; và lần
nào Cụ cũng giúp cho tình thế vượt qua những khó khăn. Ðến phút cuối, khi bị áp
lực phải chuyển giao quyền hành cho những kẻ mà cụ biết là „chẳng làm được gì“,
Cụ cũng thực hiện nó trong tinh thần Hiến định, tức chuyển giao theo „ý dân“,
qua các Dân Biểu và Nghị sĩ, trong phiên họp lưỡng viện Quốc Hội.
Với tôi, Cụ là mẫu người có
phong cách của một nhơn sĩ miền Nam xem thường mọi thiếu thốn và ràng buộc vật
chất trong khi dấn thân phục vụ đất nước. Lúc nào Cụ cũng giữ vững tinh thần,
ngay cả trong lao tù, Cụ coi mọi chuyện đều „vô thường“, qua câu thơ bất hủ để
đời ghi trong tập thơ Lao trung lãnh vận“ khiến ai đọc lên cũng cảm phục „ông
già“ trong cảnh tù đày.
Ðó là:
“Ngồi
buồn gải háng, dái lăn tăn“. Nhưng sự thật trong tập thơ Lưu Trung Lãnh
Vận, Cụ Hương đã ghi rõ là…”Ngồi rù…”
Những người yêu thơ lãng mạn
có thể không thích câu thơ nặng tính nhân sinh này, nhưng những người từng trải
qua cảnh tù đày đều thấy ở đó cái khí khái xem thường nghịch cảnh lao tù của
tác giả.
Tính
can trường về nhân cách của con người miền Nam của Cụ Trần Văn Hương còn được
biểu lộ qua sự kiên quyết dấn thân, không bỏ cuộc, mà trái lại, vẫn chấp nhận
trách vụ được giao phó do nhu cầu của tình hình đất nước và thường hoàn thành
trách vụ.
Trong
tư cách là một nhà giáo, vào năm 1974, cụ có ước nguyền là cố gắng xây dựng Ðại
học Long Hồ tại Vĩnh Long. Nhiều giáo sư gốc gác địa phương được mời phụ trách
chức vị Viện trưởng như GS Nguyễn Văn Trường, GS Trần Kim Nở nhưng việc không
thành vì những biến động thời cuộc dồn dập trong giai đoạn trên.
Một biến cố sau cùng của con
đường “hoạn lộ“ của Cụ theo lời kể của một cựu quân nhân, Chánh võ phòng của Cụ
nhiều năm, nhận xét về Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa kể từ ngày 21-4-1975:
“Là một quân nhân, vào những ngày cuối
cùng của miền Nam, tôi được cái may mắn gần gũi với cụ Hương, nhất là những lúc
dầu sôi lửa bỏng khi thủ đô Saigon đang bị cộng quân vây hãm. Tình hình thật là
cấp bách sau khi Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức vào ngày 21-4-75, bàn giao
chức vụ Tổng Thống cho cụ Trần Văn Hương theo hiến pháp.”
Cụ đã nhận lấy chức vụ đứng đầu
một đất nước trong hoàn cảnh thật là khó khăn. Một mặt, dưới sức ép thật nặng nề
từ người bạn đồng minh Hoa Kỳ muốn sớm rút chân ra khỏi Việt Nam, mặt khác, về
phía địch, cộng sản Bắc Việt biết rõ sự suy yếu hoàn toàn của chánh quyền miền
Nam dưới sự bỏ rơi của Mỹ nên càng gia tăng áp lực, đưa quân uy hiếp thủ đô
Saigon. Thêm vào đó, thành phần thân cộng có mặt trong guồng máy miền Nam, cũng
luôn tạo áp lực để đòi hỏi lật đổ chánh quyền miền Nam bằng sự thay thế một
chánh quyền do cộng sản kiểm soát.
Niềm tự trọng và nét tự hào của một KẺ SĨ miền Nam
Qua bốn câu thơ bên cạnh, chúng ta thấy rõ sĩ khí của Cụ. Xin
đan cử ra Ba
Nhân cách LỚN của Cụ Trần Văn Hương để từ đó chiêm nghiệm thêm khí
khái và tiết tháo của Cụ qua những lời tự trào trong chốn lao tù và trong cuộc
sống ngoài vòng cương tỏa.
1 – Ngày
29 tháng 4 năm 1975, Đại sứ Hoa Kỳ, ông Martin đến tư dinh đường Công
Lý với một tham vụ sứ quán nói tiếng Pháp. Đại khái Đại sứ Martin nói:
“Thưa Tổng Thống, tình trạng hiện nay rất
nguy hiểm. Nhơn danh chính phủ Hoa Kỳ, chúng tôi đến mời Tổng Thống rời khỏi nước,
đi đến bất cứ xứ nào, ngày giờ nào với phương tiện nào mà Tổng Thống muốn.
Chính phủ chúng tôi cam kết bảo đảm cho Ngài một đời sống xứng đáng với cương vị
Tổng Thống cho đến ngày TT „trăm tuổi già“.
Tổng Thống Trần Văn Hương mỉm cười trả lời:
– “Thưa Ngài Đại sứ, tôi biết
tình trạng hiện nay rất là nguy hiểm. Đã đến đỗi như vậy, Hoa Kỳ cũng có phần
trách nhiệm trong đó. Nay ông đại sứ đến mời tôi ly hương, tôi rất cám ơn Ông Đại
sứ. Nhưng tôi đã suy nghĩ và quyết định dứt khoát ở lại nước tôi. Tôi cũng dư
biết Cộng Sản vào được Saigon, bao nhiêu đau khổ nhục nhã sẽ trút xuống đầu dân
chúng miền Nam. Tôi là người lãnh đạo đứng hàng đầu của họ, tôi tình nguyện ở lại
để chia xẻ với họ một phần nào niềm đau đớn tủi nhục, nỗi thống khổ của người
dân mất nước. Cám ơn ông Đại sứ đã đến viếng tôi”.
Khi
nghe câu Les États-Unis ont aussi leur part de responsabilités (Hoa Kỳ cũng có
phần trách nhiệm trong đó), đại sứ Martin giựt mình nhìn trân trân Cụ Trần Văn
Hương. Năm 1980, Cụ Hương thuật lại với tôi: Dứt câu chuyện, “on se sépare sans même se serrer la main“
(GS Nguyễn Ngọc An. Cụ Trần Văn Hương, đăng trên Thời Luận không rõ ngày)
2 – Vào
năm 1978, khi Việt cộng trả lại „quyền công dân“ cho Ông Dương Văn
Minh, các anh em đang bị tù „học tập cải tạo“ đều bị đi xem hình ảnh và phim
chiếu lại cảnh cựu Tổng Thống“ Dương Văn Minh đang “hồ hỡi phấn khởi“ đi bầu quốc
hội “đảng cử dân bầu“ của cộng sản.
Cụ Trần Văn Hương cũng được cộng
sản trả lại “quyền công dân“ nhưng Cụ đã từ chối. Cựu Tổng Thống Việt Nam Cộng
Hòa Trần Văn Hương đã gửi bức thư sau đây đến các cấp lãnh đạo chính quyền cộng
sản: “…hiện nay vẫn còn có mấy trăm ngàn nhơn viên chế độ cũ, cả
văn lẫn võ, từ Phó Thủ Tướng, Tổng Bộ Trưởng, các Tướng Lãnh, Quân Nhân Công Chức
các cấp các Chính Trị Gia, các vị Lãnh Đạo Tôn Giáo, Đảng Phái đang bị tập
trung cải tạo, rĩ tai thì ngắn hạn mà cho đến nay vẫn chưa thấy được được về.
Tôi là người đứng đầu hàng lãnh đạo Chánh Phủ Việt Nam Cộng Hòa, xin lãnh hết
trách nhiệm một mình. Tôi xin chính phủ mới thả họ về hết vì họ là những người
chỉ biết thừa hành mạng lệnh cấp trên, họ không có tội gì cả. Tôi xin chính phủ
mới tha họ về sum họp với vợ con, còn lo làm ăn xây dựng đất nước. Chừng nào những
người tập trung cải tạo được về hết, chừng nào họ nhận được đầy đủ quyền công
dân, chừng đó tôi sẽ là người cuối cùng, sau họ, nhận quyền công dân cho cá
nhân tôi.“
Và bài thơ tự
trào dưới đây có lẽ (?) là Cụ đã làm khi gần đất xa trời ở nhà trong hẻm 210
Phan Thanh Giản, Sài Gòn nhưng vẫn chất chứa đầy tâm huyết của một người con Việt
đích thực ở miền Nam:
Thân
quèn xin gởi cùng sông núi
Xương
mục chờ tiêu với cỏ cây
Xét
thời còn lắm nỗi gian nguy
Ngẫm
lại thêm buồn cho hậu thế;
Phù
vận nước được vài phân ổn định,
May ra bớt thẹn với tiền
nhơn
Và ước nguyền của Cụ trước khi chết được chôn ở Nghĩa trang Quân Ðội với lễ nghi quân cách của một
binh nhì; nhưng việc nầy cũng không thành. Tuy nhiên một
an ủi cho Cụ là được hỏa táng tại Lò thiêu Thủ Ðức, xéo bên cạnh bức tượng Tiếc
Thương, trước sự hiện diện đông đủ của học trò cùng hầu hết thân hào nhân sĩ miền
Nam không quản ngại mạng lưới công an chằng chịt chung quanh lò thiêu.
Bút tích chữ ký của Cụ
Trần Văn Hương
Cuối
cùng, người viết xin được trích lại những lời cuối trong tuyển tập thơ Lao
Trung Lãnh Vận của Cụ Trần Văn Hương dưới đây:
“Qua ngày 27-2-1961, trên văn phòng cho lịnh đem lại hai người mới giam
chung với tôi.Tôi tánh luôn luôn rất dè dặt, lại thêm chẳng hiểu vì sao tôi có
ý nghi rằng 2 người nầy đã được sắp đặt để dòm ngó coi chừng tôi, chẳng mấy khi
nói chuyện với họ. Dầu sao chăng nữa, nguồn thi trong lòng tôi từ đó đã tắt hẵn
đi cho đến ngày tôi được thả về (7-4-1961).”
Sở dĩ
người viết ghi lại lời cuối cùng của Cụ trong thi tập nhằm mục đích nhắc nhở
người đọc có dịp nhớ lại giai đoạn Cụ bị bắt nhốt vào lao tù vì khác chính kiến
với nền Đệ Nhứt Công Hòa do Cụ Ngô Đình Diệm lãnh đạo. Và thi phẩm trên được viết
lại vào những ngày tháng xáo trộn, dằn co giữa các nhóm tướng lãnh và dân sự,
nghĩa là Cụ viết lại Lao Trung Lãnh Vận trong một tâm trạng đau buồn trước sự
tranh dành quyền lực lúc bấy giờ, một trong những nguyên nhân đầu tiên làm mất
miền Nam vào tay Cộng sản Bắc việt năm 1975.
Phổ Lập
– Mai Thanh Truyết
Houston
- Tháng 3-2025
No comments:
Post a Comment