Monday, January 12, 2026

 


Đọc thi phẩm Lao Trung Lãnh Vận

Nói về Cụ Trần Văn Hương, một nhân sĩ miền Nam, có lẽ Cụ là người duy nhứt đã dự phần trong suốt cuộc ba đào ở miền Nam trong một giai đoạn đầy biến động của đất nước. Từ một Ông Thầy giáo, qua một Ông Đô trường, rồi lại thành Ông “phạm nhơn”, bước lên làm Ông Thủ tướng, rồi Ông Phó Tổng Thống, sau cùng làm Ông Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa…

Một giai đoạn xuyên suốt chiều dài của một đời người quyện củng những nét nhạc trầm bổng của quê hương, nhưng buồn nhiều hơn vui! Đó chính là Cụ Trần Văn Hương.

Cụ Trần Văn Hương sinh ngày 1 tháng 12 năm 1902 tại làng Long Châu, quận Châu Thành (nay là thành phố Vĩnh Long), tỉnh Vĩnh Long trong một gia đình nghèo. Nhờ học giỏi và được sự hy sinh của gia đình, cậu học sinh Trần Văn Hương được ra Hà Nội học trường Cao đẳng Sư phạm. Sau khi tốt nghiệp, ông giáo Trần Văn Hương được bổ về dạy tại trường Collège Le Myre De Villers tại Mỹ Tho, cũng là ngôi trường cũ mà ông đã theo học mấy năm trước. Thời gian 1943-1945, Cụ Hương là giáo sư dạy môn văn chương và luận lý tại trường này. Cụ là một thầy giáo đã từng đào tạo nhiều học trò nổi tiếng (tướng Dương Văn Minh, tổng thống cuối cùng của Việt Nam Cộng hòa, cũng tự nhận là một học trò của ông) và từng giữ chức vụ Đốc học Tây Ninh.

Cụ Trần Văn Hương mất ngày 27 tháng 1 năm 1982 tại Sài Gòn, nhằm ngày mùng 3 Tết. Cụ mất đi để lại cho chúng ta nhiều tiếc nuối. Vô tình được hợp duyên, người viết nhận được bản thảo thi tập Lao Trung Lãnh Vận của Cụ viết từ năm 1964 tại SaiGon và xin ghi lại vài cảm nghĩ nhỏ nhặt dưới đây.

Khi “Cách mạng tháng Tám 1945“ nổ ra, Cụ tham gia chánh quyền Việt Minh với tư cách nhơn sĩ tự do. Khi Pháp tái chiếm Đông Dương, Cụ được cử giữ chức Chủ tịch Ủy ban Hành chánh Kháng chiến tỉnh Tây Ninh. Tuy nhiên, năm 1946, do Cụ biết lực lượng Việt Minh là Cộng sản quy chụp cho nhiều trí thức là Việt gian rồi đem thủ tiêu nên Cụ bỏ về quê sống ẩn dật và tuyên bố bất hợp tác với cả chánh quyền Việt Minh lẫn Pháp và Cộng hòa tự trị Nam Kỳ, sau này là Quốc gia Việt Nam.

Xét về sự nghiệp chánh trị, Cụ Trần văn Hương đã hai lần được mời và bổ nhiệm đảm trách chức vụ Ðô Trưởng Sài Gòn, chức vụ đứng đầu quán xuyến điều hành bộ máy hành chánh thủ đô Việt Nam Cộng Hòa, bảo tồn bộ mặt của thể chế Cộng hòa ở miền Nam đang trong giai đoạn củng cố xây dựng và phát triển với những khó khăn chồng chất về mọi mặt:

• Lần đầu vào năm 1955 sau khi Hiệp định Genève chia hai đất nước Việt Nam được ký kết, do cố Thủ Tướng Ngô Ðình Diệm;

• Lần thứ hai, sau khi chánh quyền Ngô Ðình Diệm bị lật đổ vào năm 1963, Cụ Trần Văn Hương lại được bổ nhiệm làm Ðô Trưởng Sài Gòn.

Và hai lần được mời làm Thủ tướng và một lần Phó Tổng Thống:

• Lần đầu vào Tháng 11 năm 1964, cụ được Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu bổ nhiệm làm Thủ Tướng Chánh Phủ (1964-1065) và lập nội các, giữa lúc tình hình chánh trị vô cùng căng thẳng.

• Lần thứ hai vào năm 1968, trước tình hình chánh trị, quân sự, kinh tế suy sụp trầm trọng cụ nhận lời Tổng thống Thiệu ra làm Thủ tướng lần thứ hai (1968 -1969).

Lần chấp chánh thứ ba của Cụ là Phó Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa (1971 -1975).

Trong bối cảnh chánh trị miền Nam, Cụ đã lần lượt dấn thân vào sinh hoạt chánh trị đại chúng với danh nghĩa là một nhơn sĩ miền Nam do nhu cầu của đất nước; và lần nào Cụ cũng giúp cho tình thế vượt qua những khó khăn. Ðến phút cuối, khi bị áp lực phải chuyển giao quyền hành cho những kẻ mà cụ biết là „chẳng làm được gì“, Cụ cũng thực hiện nó trong tinh thần Hiến định, tức chuyển giao theo „ý dân“, qua các Dân Biểu và Nghị sĩ, trong phiên họp lưỡng viện Quốc Hội.

Với tôi, Cụ là mẫu người có phong cách của một nhơn sĩ miền Nam xem thường mọi thiếu thốn và ràng buộc vật chất trong khi dấn thân phục vụ đất nước. Lúc nào Cụ cũng giữ vững tinh thần, ngay cả trong lao tù, Cụ coi mọi chuyện đều „vô thường“, qua câu thơ bất hủ để đời ghi trong tập thơ Lao trung lãnh vận“ khiến ai đọc lên cũng cảm phục „ông già“ trong cảnh tù đày.

Ðó là: “Ngồi buồn gải háng, dái lăn tăn“. Nhưng sự thật trong tập thơ Lưu Trung Lãnh Vận, Cụ Hương đã ghi rõ là…”Ngồi rù…”

 

Những người yêu thơ lãng mạn có thể không thích câu thơ nặng tính nhân sinh này, nhưng những người từng trải qua cảnh tù đày đều thấy ở đó cái khí khái xem thường nghịch cảnh lao tù của tác giả.

Tính can trường về nhân cách của con người miền Nam của Cụ Trần Văn Hương còn được biểu lộ qua sự kiên quyết dấn thân, không bỏ cuộc, mà trái lại, vẫn chấp nhận trách vụ được giao phó do nhu cầu của tình hình đất nước và thường hoàn thành trách vụ.

Trong tư cách là một nhà giáo, vào năm 1974, cụ có ước nguyền là cố gắng xây dựng Ðại học Long Hồ tại Vĩnh Long. Nhiều giáo sư gốc gác địa phương được mời phụ trách chức vị Viện trưởng như GS Nguyễn Văn Trường, GS Trần Kim Nở nhưng việc không thành vì những biến động thời cuộc dồn dập trong giai đoạn trên.

Một biến cố sau cùng của con đường “hoạn lộ“ của Cụ theo lời kể của một cựu quân nhân, Chánh võ phòng của Cụ nhiều năm, nhận xét về Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa kể từ ngày 21-4-1975:

“Là một quân nhân, vào những ngày cuối cùng của miền Nam, tôi được cái may mắn gần gũi với cụ Hương, nhất là những lúc dầu sôi lửa bỏng khi thủ đô Saigon đang bị cộng quân vây hãm. Tình hình thật là cấp bách sau khi Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức vào ngày 21-4-75, bàn giao chức vụ Tổng Thống cho cụ Trần Văn Hương theo hiến pháp.”

Cụ đã nhận lấy chức vụ đứng đầu một đất nước trong hoàn cảnh thật là khó khăn. Một mặt, dưới sức ép thật nặng nề từ người bạn đồng minh Hoa Kỳ muốn sớm rút chân ra khỏi Việt Nam, mặt khác, về phía địch, cộng sản Bắc Việt biết rõ sự suy yếu hoàn toàn của chánh quyền miền Nam dưới sự bỏ rơi của Mỹ nên càng gia tăng áp lực, đưa quân uy hiếp thủ đô Saigon. Thêm vào đó, thành phần thân cộng có mặt trong guồng máy miền Nam, cũng luôn tạo áp lực để đòi hỏi lật đổ chánh quyền miền Nam bằng sự thay thế một chánh quyền do cộng sản kiểm soát.

Niềm tự trọng và nét tự hào của một KẺ SĨ miền Nam

Qua bốn câu thơ bên cạnh, chúng ta thấy rõ sĩ khí của Cụ. Xin đan cử ra Ba Nhân cách LỚN của Cụ Trần Văn Hương để từ đó chiêm nghiệm thêm khí khái và tiết tháo của Cụ qua những lời tự trào trong chốn lao tù và trong cuộc sống ngoài vòng cương tỏa.

1 Ngày 29 tháng 4 năm 1975, Đại sứ Hoa Kỳ, ông Martin đến tư dinh đường Công Lý với một tham vụ sứ quán nói tiếng Pháp. Đại khái Đại sứ Martin nói:

“Thưa Tổng Thống, tình trạng hiện nay rất nguy hiểm. Nhơn danh chính phủ Hoa Kỳ, chúng tôi đến mời Tổng Thống rời khỏi nước, đi đến bất cứ xứ nào, ngày giờ nào với phương tiện nào mà Tổng Thống muốn. Chính phủ chúng tôi cam kết bảo đảm cho Ngài một đời sống xứng đáng với cương vị Tổng Thống cho đến ngày TT „trăm tuổi già“.

Ông TRẦN VĂN HƯƠNG Không Di Tản Ngày 30/4 Có Liên Quan Gì Tới Người Con  Theo QGP? Cái Kết Sau 1975Tổng Thống Trần Văn Hương mỉm cười trả lời:

– “Thưa Ngài Đại sứ, tôi biết tình trạng hiện nay rất là nguy hiểm. Đã đến đỗi như vậy, Hoa Kỳ cũng có phần trách nhiệm trong đó. Nay ông đại sứ đến mời tôi ly hương, tôi rất cám ơn Ông Đại sứ. Nhưng tôi đã suy nghĩ và quyết định dứt khoát ở lại nước tôi. Tôi cũng dư biết Cộng Sản vào được Saigon, bao nhiêu đau khổ nhục nhã sẽ trút xuống đầu dân chúng miền Nam. Tôi là người lãnh đạo đứng hàng đầu của họ, tôi tình nguyện ở lại để chia xẻ với họ một phần nào niềm đau đớn tủi nhục, nỗi thống khổ của người dân mất nước. Cám ơn ông Đại sứ đã đến viếng tôi”.

Khi nghe câu Les États-Unis ont aussi leur part de responsabilités (Hoa Kỳ cũng có phần trách nhiệm trong đó), đại sứ Martin giựt mình nhìn trân trân Cụ Trần Văn Hương. Năm 1980, Cụ Hương thuật lại với tôi: Dứt câu chuyện, “on se sépare sans même se serrer la main“ (GS Nguyễn Ngọc An. Cụ Trần Văn Hương, đăng trên Thời Luận không rõ ngày)

2 – Vào năm 1978, khi Việt cộng trả lại „quyền công dân“ cho Ông Dương Văn Minh, các anh em đang bị tù „học tập cải tạo“ đều bị đi xem hình ảnh và phim chiếu lại cảnh cựu Tổng Thống“ Dương Văn Minh đang “hồ hỡi phấn khởi“ đi bầu quốc hội “đảng cử dân bầu“ của cộng sản.

Cụ Trần Văn Hương cũng được cộng sản trả lại “quyền công dân“ nhưng Cụ đã từ chối. Cựu Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Trần Văn Hương đã gửi bức thư sau đây đến các cấp lãnh đạo chính quyền cộng sản: “…hiện nay vẫn còn có mấy trăm ngàn nhơn viên chế độ cũ, cả văn lẫn võ, từ Phó Thủ Tướng, Tổng Bộ Trưởng, các Tướng Lãnh, Quân Nhân Công Chức các cấp các Chính Trị Gia, các vị Lãnh Đạo Tôn Giáo, Đảng Phái đang bị tập trung cải tạo, rĩ tai thì ngắn hạn mà cho đến nay vẫn chưa thấy được được về. Tôi là người đứng đầu hàng lãnh đạo Chánh Phủ Việt Nam Cộng Hòa, xin lãnh hết trách nhiệm một mình. Tôi xin chính phủ mới thả họ về hết vì họ là những người chỉ biết thừa hành mạng lệnh cấp trên, họ không có tội gì cả. Tôi xin chính phủ mới tha họ về sum họp với vợ con, còn lo làm ăn xây dựng đất nước. Chừng nào những người tập trung cải tạo được về hết, chừng nào họ nhận được đầy đủ quyền công dân, chừng đó tôi sẽ là người cuối cùng, sau họ, nhận quyền công dân cho cá nhân tôi.“

Và bài thơ tự trào dưới đây có lẽ (?) là Cụ đã làm khi gần đất xa trời ở nhà trong hẻm 210 Phan Thanh Giản, Sài Gòn nhưng vẫn chất chứa đầy tâm huyết của một người con Việt đích thực ở miền Nam:

Thân quèn xin gởi cùng sông núi

Xương mục chờ tiêu với cỏ cây

Xét thời còn lắm nỗi gian nguy

Ngẫm lại thêm buồn cho hậu thế;

Phù vận nước được vài phân ổn định,

May ra bớt thẹn với tiền nhơn

 

https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/8/82/Signature_of_Tr%E1%BA%A7n_V%C4%83n_H%C6%B0%C6%A1ng.svg/128px-Signature_of_Tr%E1%BA%A7n_V%C4%83n_H%C6%B0%C6%A1ng.svg.pngước nguyền của Cụ trước khi chết được chôn ở Nghĩa trang Quân Ðội với lễ nghi quân cách của một binh nhì; nhưng việc nầy cũng không thành. Tuy nhiên một an ủi cho Cụ là được hỏa táng tại Lò thiêu Thủ Ðức, xéo bên cạnh bức tượng Tiếc Thương, trước sự hiện diện đông đủ của học trò cùng hầu hết thân hào nhân sĩ miền Nam không quản ngại mạng lưới công an chằng chịt chung quanh lò thiêu.

                                                                                                Bút tích chữ ký của Cụ Trần Văn Hương

Cuối cùng, người viết xin được trích lại những lời cuối trong tuyển tập thơ Lao Trung Lãnh Vận của Cụ Trần Văn Hương dưới đây:

 

“Qua ngày 27-2-1961, trên văn phòng cho lịnh đem lại hai người mới giam chung với tôi.Tôi tánh luôn luôn rất dè dặt, lại thêm chẳng hiểu vì sao tôi có ý nghi rằng 2 người nầy đã được sắp đặt để dòm ngó coi chừng tôi, chẳng mấy khi nói chuyện với họ. Dầu sao chăng nữa, nguồn thi trong lòng tôi từ đó đã tắt hẵn đi cho đến ngày tôi được thả về (7-4-1961).”

 

Sở dĩ người viết ghi lại lời cuối cùng của Cụ trong thi tập nhằm mục đích nhắc nhở người đọc có dịp nhớ lại giai đoạn Cụ bị bắt nhốt vào lao tù vì khác chính kiến với nền Đệ Nhứt Công Hòa do Cụ Ngô Đình Diệm lãnh đạo. Và thi phẩm trên được viết lại vào những ngày tháng xáo trộn, dằn co giữa các nhóm tướng lãnh và dân sự, nghĩa là Cụ viết lại Lao Trung Lãnh Vận trong một tâm trạng đau buồn trước sự tranh dành quyền lực lúc bấy giờ, một trong những nguyên nhân đầu tiên làm mất miền Nam vào tay Cộng sản Bắc việt năm 1975.

 

Phổ Lập – Mai Thanh Truyết

Houston - Tháng 3-2025

 



 


 













No comments:

Post a Comment