Sunday, January 11, 2026

 


Hòa bình chung sống

Lộ trình cho Việt Nam Hậu Ý thức hệ

 

 

Năm 2025 khép lại với nhiều biến động và thử thách cho Việt Nam và cộng đồng người Việt hải ngoại. Trong bối cảnh quốc tế nhiều xung đột, cạnh tranh chiến lược và chuyển đổi kinh tế xã hội, việc nhận diện rõ các vấn đề nội tại và ngoại vi của đất nước trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.

Bài viết dựa theo ý tường của Bản tuyên ngôn năm 1956 của Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc qua tiến trình hòa bình hòa giải dân tộc, người viết ghi nhận những nỗ lực xây dựng lộ trình hòa giải dân tộc, phân tích các yếu tố xã hội – chính trị – văn hóa, đồng thời phản ánh vai trò của trí thức và cộng đồng hải ngoại trong việc duy trì nhiều suy nghĩ đa chiều tổng hợp lại, nhằm thúc đẩy giáo dục và hòa hợp xã hội. Đây là một dấu mốc quan trọng, một nhu cầu kiến tạo nền tảng cho các nghiên cứu tiếp theo và định hướng chiến lược dài hạn cho một Việt Nam mới.

1-    Nhận diện thẳng vấn đề: Vì sao Việt Nam chưa thể hòa giải?

Việt Nam chưa thể bước vào tiến trình hòa giải dân tộc không phải vì thiếu thiện chí đạo đức trong xã hội, mà vì nhà nước hiện tại vẫn xem hòa giải như một rủi ro chính trị, chứ không phải một nhu cầu phát triển quốc gia. Trong cấu trúc quyền lực hiện nay, tính chính danh được xây dựng trên ký ức chiến thắng, nên mọi thừa nhận về đau khổ, mất mát và sai lầm của các phía khác đều bị xem là đe dọa nền tảng chính trị.

Ví dụ minh họa trong giáo dục và xã hội: Sách giáo khoa lịch sử phổ thông vẫn tập trung mô tả chiến tranh Việt Nam từ góc nhìn chủ quan của miền Bắc, với rất ít thông tin về mất mát, đau khổ và trải nghiệm của miền Nam hay cộng đồng người Việt trong Nam và ngoài nước.

Các lễ tưởng niệm trong nước thường tập trung vào một phía duy nhất, trong khi cộng đồng Việt tại Mỹ hay Pháp tổ chức lễ tưởng niệm theo cách khác hẳn, phản ảnh ký ức đa chiều.

Việc thiếu các không gian đối thoại chính thức về trải nghiệm của người từng sống ở miền Nam hoặc tham gia hoạt động chính trị trong nước tạo ra khoảng cách ký ức sâu sắc. Chính ở điểm này, lời kêu gọi của Đức Phạm Công Tắc không hề lỗi thời, mà trái lại, đụng trúng căn bệnh sâu kín nhất của Việt Nam hiện đại là “nỗi sợ sự thật đa chiều” của miền Bắc.

2- Giai đoạn một: Phá thế độc quyền ký ức từ xã hội, không chờ nhà nước

NỖI ĐAU GIỮA HÒA BÌNH - HÒA MINZY x NGUYỄN VĂN CHUNG | OFFICIAL MUSIC VIDEOHòa giải khả thi chỉ có thể khởi sự khi thế độc quyền diễn giải lịch sử của miền Bắc bị phá vỡ một cách ôn hòa. Tôn giáo và các cộng đồng đạo đức độc lập phải tái khẳng định vai trò của mình như chủ thể đạo lý, không phải là cánh tay nối dài của quyền lực. Từ đó, cộng thêm trí thức trong và ngoài nước phải từ bỏ tâm lý tự kiểm duyệt và chủ động kiến tạo một không gian đối thoại lịch sử một cách nghiêm chỉnh. Tất cả tạo nên một không gian mở, và quyền lực độc tôn và một chiều sẽ lần lần được thay thế bằng một xã hội mở!

Cộng đồng người Việt hải ngoại từ đó sẽ đóng vai trò đặc biệt. Họ trở thành một kho ký ức ngoài kiểm soát của nhà nước, tạo ra các diễn đàn văn hóa, giáo dục độc lập, xuất bản sách, tổ chức hội thảo, giúp lưu giữ ký ức đa chiều và thúc đẩy nhận thức về hòa giải.

Ví dụ minh họa: Các dự án nghiên cứu lịch sử độc lập như Việt Nam Nhìn Từ Hải Ngoại và các hội thảo lịch sử tại đại học ở Mỹ, Pháp tạo ra môi trường cho đối thoại đa chiều, nơi trải nghiệm miền Nam, miền Bắc và hải ngoại được chia sẻ mà không bị kiểm duyệt. Một số nhóm tôn giáo như Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo tại Mỹ tổ chức các buổi hội thảo về lịch sử dân tộc, cho phép cựu binh miền Bắc, miền Nam và con cháu Việt kiều đối thoại, minh họa cho tiến trình hòa giải từ dưới lên.

Các tổ chức hải ngoại còn đóng vai trò cầu nối văn hóa nhằm hỗ trợ trao đổi học thuật, bảo tồn di sản văn hóa, và tổ chức các chương trình giáo dục về ký ức chiến tranh và dân tộc, giúp giảm hố ngăn cách giữa trong nước và ngoài nước.

Hành động cụ thể trong giai đoạn này là thành lập các mạng lưới đối thoại xuyên biên giới giữa các nhà nghiên cứu, cựu binh, và cộng đồng tôn giáo. Xuất bản và phổ biến các tài liệu lịch sử đa chiều cho cả trong nước và hải ngoại. Tổ chức hội thảo, tọa đàm trực tuyến, diễn đàn mở, nơi các ký ức khác nhau có thể đối thoại mà không bị kiểm duyệt.

3-    Giai đoạn hai: Đặt giới hạn đạo đức cho quyền lực

Miền Bắc cần phải hiểu, nếu không có hòa giải, nếu quyền lực không tự chấp nhận bị ràng buộc, nếu không chấm dứt việc hình sự hóa ký ức, quan điểm, và diễn ngôn phi bạo lực… thì sẽ không tạo dựng được một xã hội mở.

Miền Bắc cần phải công nhận thành thật rằng lòng yêu nước không có một hình thức duy nhất, và một chiều.

Miền Bắc cần thừa nhận sai lầm lịch sử không làm suy yếu quốc gia, mà ngược lại, là điều kiện để quốc gia trưởng thành.

Ví dụ minh họa: Ở các nước Đông Âu sau 1989, việc minh bạch hóa tài liệu mật và mở ra không gian đối thoại đã giúp xã hội chấp nhận sự đa chiều của lịch sử mà không gây sụp đổ chính quyền. Việt Nam có thể học hỏi cách tiếp cận này bằng việc công khai dần dần các tư liệu lịch sử, mở các diễn đàn đối thoại tại các trường đại học và các tổ chức xã hội dân sự, trong đó cộng đồng hải ngoại đóng vai trò giám sát và hỗ trợ, bảo đảm các quá trình minh bạch, khách quan.

Hành động cụ thể trong giai đoạn này là hỗ trợ nghiên cứu, xuất bản tư liệu lịch sử đa chiều, kể cả những tài liệu nhạy cảm, từ người Việt hải ngoại. Tổ chức đối thoại bán chính thức giữa các nhà làm chính sách, trí thức và cộng đồng hải ngoại để trao đổi kinh nghiệm hòa giải. Khởi xướng các chương trình giáo dục và truyền thông nhằm giới thiệu tư tưởng hòa giải cho thế hệ trẻ, mọt thế hệ hoàn toàn không tham dự vào cuộc chiến “tương tàn”.

4- Giai đoạn ba: Hòa giải như nền tảng tái cấu trúc quốc gia

Hòa giải dân tộc không phải là phần thưởng hậu chiến, mà là điều kiện tiên quyết cho việc thành lập  một quốc gia hiện đại. Khi đó, lịch sử được giảng dạy như một tiến trình phức tạp, không phải bản anh hùng ca của kẻ thắng trận. Khác biệt chính trị được xem là tài nguyên xã hội, không phải mối đe dọa an ninh. Tôn giáo và xã hội dân sự trở lại đúng vai trò cân bằng quyền lực căn cứ vào đạo đức.

Ví dụ minh họa: Nam Phi sau chế độ apartheid khai triển Truth and Reconciliation Commission - Ủy ban Sự thật và Hòa giải, cho thấy rằng, ngay cả khi không thể hoàn toàn khắc phục tổn thương quá khứ, việc đối diện trung thực với ký ức và tạo diễn đàn trao đổi đã góp phần giảm căng thẳng xã hội lâu dài. Tương tự như ở Việt Nam, người Việt hải ngoại có thể phối hợp với các tổ chức trí thức, nhà báo, nhà khoa học, và các nhà văn hóa trong nước để thử nghiệm các mô hình đối thoại, xuất bản tài liệu đa chiều, góp phần xây dựng nền tảng cho hòa giải lâu dài.

Hành động cụ thể trong giai đoạn nầy là tạo ra các diễn đàn quốc gia và quốc tế về hòa giải và ký ức lịch sử. Thúc đẩy các dự án văn hóa, phim tài liệu, sách, triển lãm về lịch sử đa chiều, thu hút công chúng trong và ngoài nước. Hỗ trợ các tổ chức phi chính phủ trong nước triển khai các chương trình giáo dục hòa giải ở cấp trường học và cộng đồng.

5- Thay lời kết

Nghị luận về ý nghĩa của cuộc sống hòa bìnhNăm 2025 đã chứng kiến nhiều nỗ lực cho hòa giải và nhận thức về lịch sử đa chiều, nhưng cũng đặt ra những thách thức rõ ràng: độc quyền ký ức, sự hạn chế trong đối thoại và lo ngại về tính chính danh của quyền lực. Lời kêu gọi của Đức Phạm Công Tắc, qua lăng kính hiện đại, vẫn giữ nguyên giá trị đạo đức và chiến lược. Đó là việc hòa giải dân tộc, không phải là khoan dung của kẻ chiến thắng, mà là can đảm đạo đức của một quốc gia dám đối diện với chính mình.

Người Việt hải ngoại, trí thức trong và ngoài nước, cộng đồng tôn giáo và xã hội dân sự sẽ tiếp tục là những nhân tố quan trọng, không chỉ lưu giữ ký ức đa chiều mà còn tham gia tích cực vào các hoạt động giáo dục, văn hóa và truyền thông. Khi mọi nỗ lực này được phối hợp một cách có chiến lược và thực tiễn, Việt Nam có cơ hội xây dựng một nền hòa giải thật sự, làm nền tảng cho phát triển bền vững và ổn định lâu dài.

Việt Nam hiện nay không còn chiến tranh, nhưng ký ức chiến tranh vẫn bị chính trị hóa, lịch sử dân tộc vẫn là công cụ của cường quyền, không thích hợp cho một không gian đối thoại, hòa hợp dân tộc tồn tại như là một khẩu hiệu chứ không như là một chính sách đạo đức.

Điều cốt lõi là, nhà nước Việt Nam đã đạt được hòa bình theo nghĩa kiểm soát toàn thể đất nước, nhưng chưa đạt được hòa giải theo nghĩa nhân đạo. Vấn đề không nằm ở “bên thắng – bên thua”, mà ở nền tảng của quyền lực.

Sau 1975, mô hình hòa bình của Việt Nam là thống nhất lãnh thổ, thống nhất quyền lực, không thống nhất ký ức, không thống nhất đạo lý. Vì vậy, mô hình hiện tại này, người thắng (cộng sản Bắc Việt) không cần hòa giải, vì đã có chính danh do tiếm danh, và người thua (dân miền Nam) không có không gian để được lắng nghe.

Đây chính là điều mà Đức Phạm Công Tắc đã cảnh báo từ năm 1956.

Nếu Việt Nam tiếp tục trì hoãn hòa giải nhân danh ổn định, cái giá phải trả sẽ không phải là xung đột vũ trang, mà là sự mục ruỗng âm thầm của niềm tin xã hội và năng lực tự đổi mới quốc gia.

Trong viễn cảnh đó, tư tưởng hòa bình của Đức Phạm Công Tắc không phải là di sản của quá khứ, mà là lời cảnh báo bị phớt lờ. Hòa giải không đến từ sự khoan dung của kẻ chiến thắng, mà từ sự can đảm đạo đức của một quốc gia dám đối diện với chính mình, cùng với sự tham gia tích cực của người Việt hải ngoại như  một lực lượng hỗ trợ, giám sát, cầu nối văn hóa và thực thi các hoạt động giáo dục – văn hóa – truyền thông.

Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc không đưa ra một “Giài pháp nhanh”, mà đưa ra một “Con đường hòa hợp ứng hợp với nét văn hoa dân tộc Việt.

Tóm lại, Hòa Bình Chung Sống trong tầm mắt của Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc không phải là một công thức, mà là một la bàn đạo đức trong hiện trạng Việt Nam hôm nay, cho dù nó không giúp thay đổi quyền lực, nhưng có thể thay đổi cách chúng ta sống chung với lịch sử.

Và đó chính là điều kiện tối thiểu để:

 Quốc gia bớt mong manh,

 Xã hội bớt cay đắng,

Và tương lai bớt phải trả giá cho quá khứ.

 

Mai Thanh Truyết-

Tâm bút đầu năm

New Jersey 2026

 

CHÁNH SÁCH HÒA BÌNH CHUNG SỐNG.

DO DÂN - PHỤC VỤ DÂN - LẬP QUYỀN DÂN.

 

CƯƠNG- LĨNH

. Thống nhất lãnh thổ và khối dân tộc Việt Nam với phương pháp ôn hòa.

. Tránh mọi xâm phạm nội quyền Việt Nam.

.  Xây dựng Hòa bình, Hạnh phúc và Tự do Dân chủ cho Toàn dân.

I/- THỐNG NHẤT LÃNH THỔ VÀ KHỐI DÂN TỘC VIỆT NAM VỚI PHƯƠNG PHÁP ÔN HÒA.

A.   Giai đoạn thứ nhứt:

1/ Để hai chính phủ địa phương tạm giữ nguyên vẹn nền tự trị nội bộ mỗi Miền theo ranh giới vĩ tuyến 17.

2/ Thành lập một “Ủy ban hòa giải dân tộc” gồm có các nhân sĩ trung lập và một số đại diện bằng nhau của chính phủ 2 miền để tìm những điểm dung hợp giữa 2 miền.

3/ Tổ chức nước Việt Nam thống nhất thành chế độ Liên Bang Trung Lập gồm có 2 phần liên kết ( Nam và Bắc ) theo hình thức Thụy Sĩ với một chính phủ Liên Bang lâm thời, để điều hòa nền kinh tế trong nước và để thay mặt cho nước Việt Nam thống nhất đối với Quốc Tế và Liên Hiệp Quốc.

4/ Bãi bỏ bức rào vĩ tuyến 17. Dân chúng được bảo đảm sự lưu thông tự do trên toàn lãnh thổ Việt Nam để so sánh và chọn lựa chế độ sở thích mà định cư .

B.   Giai đoạn thứ nhì:

 1/ Đánh thức tinh thần dân tộc đến mức trưởng thành, đủ sức đảm nhiệm công việc nước theo nhịp tiến triển của thế giới trong khuôn khổ tự do và dân chủ.

2/ Khi dân tộc đã trưởng thành và khối tinh thần đã thống nhất thì toàn dân Việt Nam sẽ tự giải quyết thể chế thiệt thọ theo nguyên tắc tự quyết bằng cách mở các cuộc Tổng Tuyển Cử thể theo hiệp định Genève tháng 7/ 1954, để thành lập Quốc hội duy nhất cho nước Việt Nam. Cuộc Tổng Tuyển Cử này sẽ tổ chức dưới sự kiểm soát và trách nhiệm trọn quyền của Liên Hiệp Quốc để ngăn ngừa điều áp bức dân chúng.

3/ Quốc hội này sẽ định thể chế thiệt thọ và thành lập một chánh phủ trung ương nắm trọn quyền trong nước Việt Nam.

II/.TRÁNH MỌI XÂM PHẠM NỘI QUYỀN VIỆT NAM.

1/ Hữu dụng nền độc lập của mỗi Miền đã thu hồi do hai khối đã nhìn nhận (chính phủ Hồ Chí Minh ở miền Bắc và chính phủ Ngô Đình Diệm ở miền Nam).

2/ Nương vào các nước Trung lập như: Ấn Độ, Anh, Miến Điện, A Phú Hãn .. , để mở một đường lối thứ ba, gọi là “đường lối dân tộc” căn cứ trên khối dân tộc để làm trung gian dung hòa hai chế độ.

3/- Tránh mọi hướng dẫn ảnh hưởng hoặc can thiệp của một khối nào trong hai khối đối lập Nga Mỹ, vì đó là nguyên căn một cuộc tương tàn có thể gây nên trận thế giới chiến tranh thứ 3. Gia nhập vào một trong hai khối Nga hoặc Mỹ tức là chịu làm chư hầu cho khối ấy và tự nhiên là thù địch của khối kia. Như thế chánh sách “Hòa Bình Chung Sống” không thể thực hiện đặng; bằng chứng là tình trạng của Đức, Áo, Trung Hoa, Triều Tiên và Việt Nam hiện tại.

III/. XÂY DỰNG HÒA BÌNH HẠNH PHÚC VÀ TỰ DO CHO TOÀN DÂN.

1/ Kích thích và thúc đẩy cuộc “Thi đua Nhơn Nghĩa”, giữa 2 miền Bắc và Nam để thực hiện hạnh phúc cho nhân dân trong cảnh hòa bình xây dựng trên nguyên tắc bác ái, công bình và nhơn đạo.

2/ Áp dụng và thực hiện Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền của Liên Hiệp Quốc, thực hiện tự do dân chủ trên toàn lãnh thổ Việt Nam.

3/ Thâu thập tất cả mọi ý kiến, phát huy do tinh thần hiền triết cổ truyền của chủng tộc đưa lên và giao lại cho Liên Hiệp Quốc hòa giải để thi hành cho dân chúng nhờ.

4/ Dùng tất cả các biện pháp để thống nhất tinh thần dân tộc trong việc xây dựng hạnh phúc với điều hay lẽ đẹp trên căn bản hy sinh và phụng sự.

5/ Hai miền phải thành thật bãi bỏ mọi tuyên truyền ngụy biện và xuyên tạc lẫn nhau. Phải để cho nhân dân đứng trước sự thật tế mà nhận xét sự hành động của đôi bên rồi lần lần sẽ đi đền chỗ thống nhất ý kiến.

6/ Sự thực hiện “Chánh Sách Hòa Bình Chung Sống” trên đây sẽ đặng thi hành dưới sự ủng hộ và kiểm soát thường trực của Liên Hiệp Quốc và các phần tử Trung Lập trong nước và ngoài nước, hầu ngăn ngừa mọi áp bức nhân dân do nơi quyền độc tài của địa phương hay do áp lực của ngoại quyền xúi giục.

Nam Vang, ngày 26- 3- 1956

HỘ PHÁP - PHẠM CÔNG TẮC (Ấn Ký).

 

 











No comments:

Post a Comment