Hòa bình
chung sống
Lộ
trình cho Việt Nam Hậu Ý thức hệ
Năm
2025 khép lại với nhiều biến động và thử thách cho Việt Nam và cộng đồng người
Việt hải ngoại. Trong bối cảnh quốc tế nhiều xung đột, cạnh tranh chiến lược và
chuyển đổi kinh tế xã hội, việc nhận diện rõ các vấn đề nội tại và ngoại vi của
đất nước trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.
Bài
viết dựa theo ý tường của Bản tuyên ngôn năm 1956 của Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc
qua tiến trình hòa bình hòa giải dân tộc, người viết ghi nhận những nỗ lực xây
dựng lộ trình hòa giải dân tộc, phân tích các yếu tố xã hội – chính trị – văn
hóa, đồng thời phản ánh vai trò của trí thức và cộng đồng hải ngoại trong việc
duy trì nhiều suy nghĩ đa chiều tổng hợp lại, nhằm thúc đẩy giáo dục và hòa hợp
xã hội. Đây là một dấu mốc quan trọng, một nhu cầu kiến tạo nền tảng cho các
nghiên cứu tiếp theo và định hướng chiến lược dài hạn cho một Việt Nam mới.
1-
Nhận
diện thẳng vấn đề: Vì sao Việt Nam chưa thể hòa giải?
Việt
Nam chưa thể bước vào tiến trình hòa giải dân tộc không phải vì thiếu thiện chí
đạo đức trong xã hội, mà vì nhà nước hiện tại vẫn xem hòa giải như một rủi
ro chính trị, chứ không phải một nhu cầu phát triển quốc gia. Trong cấu
trúc quyền lực hiện nay, tính chính danh được xây dựng trên ký ức chiến thắng,
nên mọi thừa nhận về đau khổ, mất mát và sai lầm của các phía khác đều bị xem
là đe dọa nền tảng chính trị.
Ví dụ minh họa trong giáo dục và xã hội:
Sách giáo khoa lịch sử
phổ thông vẫn tập trung mô tả chiến tranh Việt Nam từ góc nhìn chủ quan của miền
Bắc, với rất ít thông tin về mất mát, đau khổ và trải nghiệm của miền Nam hay cộng
đồng người Việt trong Nam và ngoài nước.
Các
lễ tưởng niệm trong nước thường tập trung vào một phía duy nhất, trong khi cộng
đồng Việt tại Mỹ hay Pháp tổ chức lễ tưởng niệm theo cách khác hẳn, phản ảnh ký
ức đa chiều.
Việc
thiếu các không gian đối thoại chính thức về trải nghiệm của người từng sống ở
miền Nam hoặc tham gia hoạt động chính trị trong nước tạo ra khoảng cách ký ức
sâu sắc. Chính ở điểm này, lời kêu gọi của Đức Phạm Công Tắc không hề lỗi thời,
mà trái lại, đụng trúng căn bệnh sâu kín nhất của Việt Nam hiện đại là “nỗi sợ sự thật
đa chiều” của miền Bắc.
2- Giai đoạn một: Phá thế độc quyền ký ức từ xã hội, không
chờ nhà nước
Hòa
giải khả thi chỉ có thể khởi sự khi thế độc quyền diễn giải lịch sử của miền Bắc
bị phá vỡ một cách ôn hòa. Tôn giáo và các cộng đồng đạo đức độc lập phải tái
khẳng định vai trò của mình như chủ thể đạo lý, không phải là cánh tay nối
dài của quyền lực. Từ đó, cộng thêm trí thức trong và ngoài nước phải từ bỏ tâm
lý tự kiểm duyệt và chủ động kiến tạo một không gian đối thoại lịch sử một cách
nghiêm chỉnh. Tất cả tạo nên một không gian mở, và quyền lực độc tôn và một chiều
sẽ lần lần được thay thế bằng một xã hội mở!
Cộng
đồng người Việt hải ngoại từ đó sẽ đóng vai trò đặc biệt. Họ trở thành một kho ký ức ngoài kiểm
soát của nhà nước, tạo ra các diễn đàn văn hóa, giáo dục độc lập, xuất bản
sách, tổ chức hội thảo, giúp lưu giữ ký ức đa chiều và thúc đẩy nhận thức về
hòa giải.
Ví
dụ minh họa: Các dự án
nghiên cứu lịch sử độc lập như Việt Nam Nhìn Từ Hải Ngoại và các hội thảo
lịch sử tại đại học ở Mỹ, Pháp tạo ra môi trường cho đối thoại đa chiều, nơi trải
nghiệm miền Nam, miền Bắc và hải ngoại được chia sẻ mà không bị kiểm duyệt. Một
số nhóm tôn giáo như Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo tại Mỹ tổ chức các buổi hội thảo
về lịch sử dân tộc, cho phép cựu binh miền Bắc, miền Nam và con cháu Việt kiều
đối thoại, minh họa cho tiến trình hòa giải từ dưới lên.
Các tổ chức hải ngoại còn đóng vai trò cầu
nối văn hóa nhằm hỗ trợ trao đổi học thuật, bảo tồn di sản văn hóa, và tổ
chức các chương trình giáo dục về ký ức chiến tranh và dân tộc, giúp giảm hố
ngăn cách giữa trong nước và ngoài nước.
Hành
động cụ thể trong giai đoạn này là thành
lập các mạng lưới đối thoại xuyên biên giới giữa các nhà nghiên cứu, cựu binh,
và cộng đồng tôn giáo. Xuất bản và phổ biến các tài liệu lịch sử đa chiều cho cả
trong nước và hải ngoại. Tổ chức hội thảo, tọa đàm trực tuyến, diễn đàn mở, nơi
các ký ức khác nhau có thể đối thoại mà không bị kiểm duyệt.
3-
Giai
đoạn hai: Đặt giới hạn đạo đức cho quyền lực
Miền
Bắc cần phải hiểu, nếu không có hòa giải, nếu quyền lực không tự chấp nhận bị
ràng buộc, nếu không chấm dứt việc hình sự hóa ký ức, quan điểm, và diễn ngôn
phi bạo lực… thì sẽ không tạo dựng được một xã hội mở.
Miền
Bắc cần phải công nhận thành thật rằng lòng yêu nước không có một hình thức duy
nhất, và một chiều.
Miền
Bắc cần thừa nhận sai lầm lịch sử không làm suy yếu quốc gia, mà ngược lại, là
điều kiện để quốc gia trưởng thành.
Ví
dụ minh họa: Ở các nước
Đông Âu sau 1989, việc minh bạch hóa tài liệu mật và mở ra không gian đối thoại
đã giúp xã hội chấp nhận sự đa chiều của lịch sử mà không gây sụp đổ chính quyền.
Việt Nam có thể học hỏi cách tiếp cận này bằng việc công khai dần dần các tư liệu
lịch sử, mở các diễn đàn đối thoại tại các trường đại học và các tổ chức xã hội
dân sự, trong đó cộng đồng hải ngoại đóng vai trò giám sát và hỗ trợ, bảo
đảm các quá trình minh bạch, khách quan.
Hành
động cụ thể trong giai đoạn này là
hỗ trợ nghiên cứu, xuất bản tư liệu lịch sử đa chiều, kể cả những tài liệu nhạy
cảm, từ người Việt hải ngoại. Tổ chức đối thoại bán chính thức giữa các nhà làm
chính sách, trí thức và cộng đồng hải ngoại để trao đổi kinh nghiệm hòa giải. Khởi
xướng các chương trình giáo dục và truyền thông nhằm giới thiệu tư tưởng hòa giải
cho thế hệ trẻ, mọt thế hệ hoàn toàn không tham dự vào cuộc chiến “tương tàn”.
4- Giai đoạn ba: Hòa giải như nền tảng tái cấu trúc quốc
gia
Hòa
giải dân tộc không phải là phần thưởng hậu chiến, mà là điều kiện tiên quyết
cho việc thành lập một quốc gia hiện đại. Khi
đó, lịch sử được giảng dạy như một tiến trình phức tạp, không phải bản anh hùng
ca của kẻ thắng trận. Khác biệt chính trị được xem là tài nguyên xã hội, không
phải mối đe dọa an ninh. Tôn giáo và xã hội dân sự trở lại đúng vai trò cân bằng
quyền lực căn cứ vào đạo đức.
Ví
dụ minh họa: Nam Phi
sau chế độ apartheid khai triển Truth and Reconciliation Commission - Ủy ban Sự
thật và Hòa giải, cho thấy rằng, ngay cả khi không thể hoàn toàn khắc phục tổn
thương quá khứ, việc đối diện trung thực với ký ức và tạo diễn đàn trao đổi đã
góp phần giảm căng thẳng xã hội lâu dài. Tương tự như ở Việt Nam, người Việt
hải ngoại có thể phối hợp với các tổ chức trí thức, nhà báo, nhà khoa học, và
các nhà văn hóa trong nước để thử nghiệm các mô hình đối thoại, xuất bản
tài liệu đa chiều, góp phần xây dựng nền tảng cho hòa giải lâu dài.
Hành động cụ thể trong giai đoạn nầy là tạo ra các diễn đàn quốc gia và quốc tế
về hòa giải và ký ức lịch sử. Thúc đẩy các dự án văn hóa, phim tài liệu, sách,
triển lãm về lịch sử đa chiều, thu hút công chúng trong và ngoài nước. Hỗ trợ
các tổ chức phi chính phủ trong nước triển khai các chương trình giáo dục hòa
giải ở cấp trường học và cộng đồng.
5- Thay lời kết
Năm 2025 đã chứng kiến nhiều nỗ lực cho
hòa giải và nhận thức về lịch sử đa chiều, nhưng cũng đặt ra những thách thức
rõ ràng: độc quyền ký ức, sự hạn chế trong đối thoại và lo ngại về tính chính
danh của quyền lực. Lời kêu gọi của Đức Phạm Công Tắc, qua lăng kính hiện đại,
vẫn giữ nguyên giá trị đạo đức và chiến lược. Đó là việc hòa giải dân tộc, không phải là khoan dung của
kẻ chiến thắng, mà là can đảm đạo đức của một quốc gia dám đối diện với
chính mình.
Người
Việt hải ngoại, trí thức trong và ngoài nước, cộng đồng tôn giáo và xã hội dân
sự sẽ tiếp tục là những nhân tố quan trọng, không chỉ lưu giữ ký ức đa chiều mà
còn tham gia tích cực vào các hoạt động giáo dục, văn hóa và truyền thông. Khi
mọi nỗ lực này được phối hợp một cách có chiến lược và thực tiễn, Việt Nam có
cơ hội xây dựng một nền hòa giải thật sự, làm nền tảng cho phát triển bền vững
và ổn định lâu dài.
Việt
Nam hiện nay không còn chiến tranh, nhưng ký ức chiến tranh vẫn bị chính
trị hóa, lịch sử dân tộc vẫn là công cụ của cường quyền, không thích hợp cho một
không gian đối thoại, hòa hợp dân tộc tồn tại như là một khẩu hiệu chứ
không như là một chính sách đạo đức.
Điều
cốt lõi là, nhà nước Việt Nam đã đạt được hòa bình theo nghĩa kiểm soát
toàn thể đất nước, nhưng chưa đạt được hòa giải theo nghĩa nhân đạo. Vấn
đề không nằm ở “bên thắng – bên thua”, mà ở nền tảng của quyền lực.
Sau 1975, mô hình hòa bình của Việt Nam
là thống nhất lãnh thổ, thống nhất quyền lực, không thống nhất ký ức, không thống
nhất đạo lý. Vì vậy, mô hình hiện tại này, người thắng (cộng sản Bắc Việt) không
cần hòa giải, vì đã có chính danh do tiếm danh, và người thua (dân miền
Nam) không có không gian để được lắng nghe.
Đây chính là điều mà Đức Phạm Công Tắc đã cảnh báo từ
năm 1956.
Nếu Việt
Nam tiếp tục trì hoãn hòa giải nhân danh ổn định, cái giá phải trả sẽ không phải
là xung đột vũ trang, mà là sự mục ruỗng âm thầm của niềm tin xã hội và năng lực
tự đổi mới quốc gia.
Trong
viễn cảnh đó, tư tưởng hòa bình của Đức Phạm Công Tắc không phải là di sản của
quá khứ, mà là lời cảnh báo bị phớt lờ. Hòa giải không đến từ sự khoan
dung của kẻ chiến thắng, mà từ sự can đảm đạo đức của một quốc gia dám đối diện với chính mình, cùng với
sự tham gia tích cực của người Việt hải ngoại như một lực lượng hỗ trợ, giám sát, cầu nối văn
hóa và thực thi các hoạt động giáo dục – văn hóa – truyền thông.
Đức
Hộ Pháp Phạm Công Tắc không đưa ra một “Giài pháp nhanh”, mà đưa ra một “Con đường hòa hợp ứng
hợp với nét văn hoa dân tộc Việt.”
Tóm lại, Hòa Bình Chung Sống trong tầm mắt
của Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc không phải là một công thức, mà là một la
bàn đạo đức trong hiện trạng Việt Nam hôm nay, cho dù nó không giúp thay đổi
quyền lực, nhưng có thể thay đổi cách chúng ta sống chung với lịch sử.
Và đó chính là điều kiện tối thiểu để:
Quốc gia bớt mong
manh,
Xã hội bớt cay đắng,
Và tương lai bớt phải trả giá cho quá khứ.
Mai
Thanh Truyết-
Tâm
bút đầu năm
New
Jersey 2026
CHÁNH SÁCH HÒA BÌNH CHUNG SỐNG.
DO DÂN - PHỤC VỤ DÂN - LẬP QUYỀN DÂN.
CƯƠNG-
LĨNH
.
Thống nhất lãnh thổ và khối dân tộc Việt Nam với phương pháp ôn hòa.
.
Tránh mọi xâm phạm nội quyền Việt Nam.
.
Xây dựng Hòa bình, Hạnh phúc và Tự do Dân chủ cho Toàn dân.
I/-
THỐNG NHẤT LÃNH THỔ VÀ KHỐI DÂN TỘC VIỆT NAM VỚI PHƯƠNG PHÁP ÔN HÒA.
A.
Giai đoạn thứ nhứt:
1/
Để hai chính phủ địa phương tạm giữ nguyên vẹn nền tự trị nội bộ mỗi Miền theo
ranh giới vĩ tuyến 17.
2/
Thành lập một “Ủy ban hòa giải dân tộc” gồm có các nhân sĩ trung lập và một số
đại diện bằng nhau của chính phủ 2 miền để tìm những điểm dung hợp giữa 2 miền.
3/
Tổ chức nước Việt Nam thống nhất thành chế độ Liên Bang Trung Lập gồm có 2 phần
liên kết ( Nam và Bắc ) theo hình thức Thụy Sĩ với một chính phủ Liên Bang lâm
thời, để điều hòa nền kinh tế trong nước và để thay mặt cho nước Việt Nam thống
nhất đối với Quốc Tế và Liên Hiệp Quốc.
4/
Bãi bỏ bức rào vĩ tuyến 17. Dân chúng được bảo đảm sự lưu thông tự do trên toàn
lãnh thổ Việt Nam để so sánh và chọn lựa chế độ sở thích mà định cư .
B.
Giai đoạn thứ nhì:
1/
Đánh thức tinh thần dân tộc đến mức trưởng thành, đủ sức đảm nhiệm công việc nước
theo nhịp tiến triển của thế giới trong khuôn khổ tự do và dân chủ.
2/
Khi dân tộc đã trưởng thành và khối tinh thần đã thống nhất thì toàn dân Việt
Nam sẽ tự giải quyết thể chế thiệt thọ theo nguyên tắc tự quyết bằng cách mở
các cuộc Tổng Tuyển Cử thể theo hiệp định Genève tháng 7/ 1954, để thành lập Quốc
hội duy nhất cho nước Việt Nam. Cuộc Tổng Tuyển Cử này sẽ tổ chức dưới sự kiểm
soát và trách nhiệm trọn quyền của Liên Hiệp Quốc để ngăn ngừa điều áp bức dân
chúng.
3/
Quốc hội này sẽ định thể chế thiệt thọ và thành lập một chánh phủ trung ương nắm
trọn quyền trong nước Việt Nam.
II/.TRÁNH MỌI XÂM PHẠM NỘI QUYỀN VIỆT NAM.
1/
Hữu dụng nền độc lập của mỗi Miền đã thu hồi do hai khối đã nhìn nhận (chính phủ
Hồ Chí Minh ở miền Bắc và chính phủ Ngô Đình Diệm ở miền Nam).
2/
Nương vào các nước Trung lập như: Ấn Độ, Anh, Miến Điện, A Phú Hãn .. , để mở một
đường lối thứ ba, gọi là “đường lối dân tộc” căn cứ trên khối dân tộc để làm
trung gian dung hòa hai chế độ.
3/-
Tránh mọi hướng dẫn ảnh hưởng hoặc can thiệp của một khối nào trong hai khối đối
lập Nga Mỹ, vì đó là nguyên căn một cuộc tương tàn có thể gây nên trận thế giới
chiến tranh thứ 3. Gia nhập vào một trong hai khối Nga hoặc Mỹ tức là chịu làm
chư hầu cho khối ấy và tự nhiên là thù địch của khối kia. Như thế chánh sách
“Hòa Bình Chung Sống” không thể thực hiện đặng; bằng chứng là tình trạng của Đức,
Áo, Trung Hoa, Triều Tiên và Việt Nam hiện tại.
III/. XÂY DỰNG HÒA BÌNH HẠNH PHÚC VÀ TỰ DO CHO TOÀN DÂN.
1/
Kích thích và thúc đẩy cuộc “Thi đua Nhơn Nghĩa”, giữa 2 miền Bắc và Nam để thực
hiện hạnh phúc cho nhân dân trong cảnh hòa bình xây dựng trên nguyên tắc bác
ái, công bình và nhơn đạo.
2/
Áp dụng và thực hiện Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền của Liên Hiệp Quốc, thực hiện tự
do dân chủ trên toàn lãnh thổ Việt Nam.
3/
Thâu thập tất cả mọi ý kiến, phát huy do tinh thần hiền triết cổ truyền của chủng
tộc đưa lên và giao lại cho Liên Hiệp Quốc hòa giải để thi hành cho dân chúng
nhờ.
4/
Dùng tất cả các biện pháp để thống nhất tinh thần dân tộc trong việc xây dựng hạnh
phúc với điều hay lẽ đẹp trên căn bản hy sinh và phụng sự.
5/
Hai miền phải thành thật bãi bỏ mọi tuyên truyền ngụy biện và xuyên tạc lẫn
nhau. Phải để cho nhân dân đứng trước sự thật tế mà nhận xét sự hành động của
đôi bên rồi lần lần sẽ đi đền chỗ thống nhất ý kiến.
6/
Sự thực hiện “Chánh Sách Hòa Bình Chung Sống” trên đây sẽ đặng thi hành dưới sự
ủng hộ và kiểm soát thường trực của Liên Hiệp Quốc và các phần tử Trung Lập
trong nước và ngoài nước, hầu ngăn ngừa mọi áp bức nhân dân do nơi quyền độc
tài của địa phương hay do áp lực của ngoại quyền xúi giục.
Nam Vang, ngày 26- 3- 1956
HỘ PHÁP - PHẠM CÔNG TẮC (Ấn Ký).
No comments:
Post a Comment