Thursday, March 17, 2022

 

Thưa Quý vị,

Sáng nay dẫn Wabi đi bộ ở một công viên lớn ở Texas, đi giáp một vòng …khoảng 3 miles. Tình cờ thấy hoa Pissenlit trên bãi cỏ. Nhớ lại hai thời điểm:

·       Vào những năm 1950, ở bìa sau cuốn Petit Larousse màu đỏ có bông pissenlit “già” tròn tròn và những cánh bông như bông gòn trắng …bay bay. Có ghi “Je sème à tout vent” (Xem hình phía dưới).

·       Thêm một kỷ niệm thời còn ở Besancon. Vào mùa hè, bông pissenlit nở rộ trên những đồng cỏ. Hái về trộn với dâu dấm và oeuf dur cắt tròn….làm salade ăn rất ngon.

Về Hoa: - Tiếng Pháp có tên là Pissenlit (âm ra là piss en lit), - Tiếng Anh là Dandelion (lion’s tooths – răng sư tử - dent de lion), - Tiếng Việt là Bồ công anh, - Tiếng Tàu là Pu Gong Ying.

***

Bây giờ xin nói về loại hoa nầy:

Tại sao người Pháp gọi bồ công anh là pissenlit?

Tiếng Pháp gọi cây bồ công anh là “pissenlit”. Không phải ngẫu nhiên mà có tên đó, nguyên gốc là “piss en lit” (có nghĩa là “làm ướt giường”). Tên gọi này là do lá bồ công anh có đặc tính lợi tiểu (diuretic), và ăn một lá bồ công anh có thể giúp bạn có cơ hội làm ướt giường sau này (wet the bed).

What is dandelion called in Chinese?

Tại sao bồ công anh được gọi là răng sư tử?

"Dandelion" là tên tiếng Anh của loại cây này trong tiếng Pháp: "dent de lion" có nghĩa là "răng của sư tử", vì lá cây nầy có hai viềng ngoài giống như răng sư tử vậy. Nó cũng được gọi là răng sư tử trong các ngôn ngữ gốc Latinh khác ở châu Âu.

Bồ công anh được gọi là gì trong tiếng Tàu?

Bồ công anh được gọi là Pu Gong Ying trong bính âm - pinyin (hệ thống tiêu chuẩn của chính tả la tinh để chuyển ngữ tiếng Tàu), và được sử dụng thường xuyên trong Y học Tàu.

Bồ công anh được sử dụng để làm gì trong y học Tàu?

Trong y học cổ truyền Trung Hoa, bồ công anh đã được sử dụng để điều trị các vấn đề về dạ dày, viêm ruột thừa và các vấn đề về vú, chẳng hạn như viêm hoặc thiếu dòng sữa. Ở châu Âu, bồ công anh được sử dụng trong các bài thuốc chữa sốt, mụn nhọt (boils), các vấn đề về mắt, tiểu đường và tiêu chảy.

 












Wednesday, March 16, 2022

 

Sapere Vedere - Học cách nhìn xa hơn những đám mây

Learning to see beyond the clouds.

Chỉ những người có thể nhìn thấy những thứ vô hình mới có thể hoàn thành những điều không thể - Only those who can see the invisible can accomplish the impossible 

Sapere Vedere (phát âm là sah-PARE-ay veh-DARE-ay). Cụm từ này kết hợp với tiếng Latin, sapere, có nghĩa là biết cách, và vedere, có nghĩa là nhìn thấy. Sapere Vedere là biết làm thế nào để nhìn. Từ đó, có thể chuyển qua ý nghĩa "nhìn là tin" thành "tin là thấy" – “seeing is believing" to" believing is seeing". 

Khi bạn lớn lên, bạn thường nghe thấy cụm từ này: “Tôi có thể đi qua cây cầu đó khi đi đến tới đó”. Nhưng, những người có “tư tưởng” hay “ý thức” về sapere vedere sẽ nói:”Tôi sẽ thấy cây cầu đó trước khi tôi vượt qua nó – I will see that bridge before I cross it”. 

Những người có ý thức về sapere vedere thường hướng về nội tâm, có khả năng tin tưởng và nhìn thấy những gì người khác không thấy được. Da Vinci nhận địng rằng chúng ta thực sự nhìn thấy bằng bộ não của mình trước tiên, thứ đến là trái tim, và sau cùng mới đến đôi mắt của chúng ta.

 1-    Tầm nhìn khoa học của Leonardo da Vinci – Biết cách nhìn (Knowing how to see) 

Trong một bài báo có tiêu đề Kiến thức thị giác và truyền thông khoa học - Visual literacy and science communication, xuất bản trên tạp chí Khoa học Truyền thông – Science communication năm 1999, Jean Trumbo dùng các tác phẩm của Leonardo da Vinci để giới thiệu khái niệm về kiến thức thị giác. Da Vinci đã gọi tiến trình nhận thức về “nhìn thấy” là sapere vedere, sau đó, được diễn dịch ra là “biết cách nhìn”. 

Da Vinci là một bậc thầy về vẽ và phác họa bên cạnh những kỹ năng vẽ tranh nổi tiếng hơn của ông, điển hình như Mona Lisa, Bữa ăn tối cuối cùng – The Last Supper). Da Vinci đã xử dụng từ ngữ ‘dimostrazione – demonstrations’ để mô tả các bức vẽ của mình. Ông nghĩ rằng thị giác hóa (visualization) gồm có hai thành phần:

1)    Biết một cái gì đó đủ tốt để hình dung hoặc rút ra một cái gì đó từ trí nhớ;

2)    Phát triển sự hiểu biết đủ sâu sắc về một cái gì đó để rút ra nét tinh túy của nó thông qua các mẫu vẽ có thể được xử dụng để tạo ra những ý tưởng mới. 

Từ đó, Ông kết luận:” Có thể công việc của bạn phù hợp với mục đích của bạn”. Đó là mục đích và tầm nhìn. Tầm nhìn của tôi cho tôi mục đích. Mục đích của tôi trở thành tầm nhìn của tôi - My vision gives me purpose.  My purpose becomes my vision.  

Hai ngày quan trọng nhất trong cuộc đời chúng ta là ngày chúng ta được sinh ra và ngày chúng ta khám phá ra những gì chúng ta sinh ra để làm (what we were born to do!) 

Bạn sinh ra để làm gì?

Mục đích của bạn là gì?

Tầm nhìn của bạn thế nào? 

Tự trả lời ba câu hỏi trên, cho dù cung cách và nội dung các câu trả lời của bạn như thế nào đi nữa, bạn đã đáp ứng và khơi dậy được một phần nào những chất chứa tiềm ẩn trong tận thâm sâu của bản rồi. Từ đó bạn đã có thể bắt đầu … học cách nhìn xa hơn những đám mây - May we all learn to see beyond the clouds. 

2-    Hướng về quá khứ - Hướng về tương lai. 

Thông thường, một người bình thường nhìn vào những gì đã xảy ra trong đời sống hàng ngày như một bài viết mô tả những thường tình đã trải qua, thay vì xem đó như những nhắc nhở nhằm hướng dẫn những kinh nghiệm đã qua để rồi hành xử tốt đẹp hơn cho những việc làm trong tương lai. Chỉ vì họ nghĩ và chắc chắn rằng con đường của họ đi sẽ luôn lặp lại giống như vậy. Chỉ vì họ suy nghĩ một cách hời hợt với cung cách nhận thức đơn giản và muộn màng. 

Đừng làm vậy bạn ơi! 

Hãy làm một người có suy nghĩ về sapere vedere, và bạn sẽ nhìn thấy không chỉ quá khứ và hiện tại mà cả tương lai, bằng cách tập trung vào những gì trong lòng và tâm trí, và hướng về phía trước, tầm nhìn sẽ kéo chúng ta hướng về phía trước. 

Đó chính là tinh thần Sapere Vedere 

3-    Thay lời kết 

Trong cuộc sống hiện tại, chúng ta phải tranh đấu cực lực, đôi khi phải sống mái với xã hội, với môi trường chung quanh, đối với gia đình, và nhứt là đối với chính bản thân. Phần lớn trong cuộc đời, chính cái NGÃ của bản thân làm thui chột đi các suy nghĩ hướng thượng, đến tầm nhìn phía trước, khiến chúng ta có thể bị mệt mõi, thu mình trong những hệ lụy tiêu cực. Từ đó đưa đẩy cuộc sống chúng ta vào ngõ cụt. Và cuối cùng, chính chúng ta tự trói buộc mình trong một vòng kín của Vô minh! 

Vận dụng được tinh thần Sapere Vedere trong suy nghĩ sẽ giúp chúng ta vượt qua được những thử thách và hành xử tiêu cực trên. Từ đó, việc tiến đến một trạng thái an nhiên tự tại sẽ nằm trong lòng bàn tay của chính chúng ta. 

Hy vọng bài viết ngắn nầy nhằm mục đích khơi dậy sự tỉnh thức         trong mỗi chúng ta để “đột phá suy nghĩ” - breakthrough thinking tiến tới một trạng thái bình yên trong tâm khảm. 

Năm 2022 cũng vừa qua chưa đầy ba tháng, nhưng những biến động trong cuộc xâm lăng Ukraine của một người “loạn não Putin”, khiến cho thế giới đang lơ lững trước thảm họa đại chiến thế giới thứ ba, thiết nghĩ cần phải vực dậy tinh thần Sapere Vedere. Và chính thần nầy sẽ là tiếng chuông cảnh tỉnh cho những con tim đầy cuồng vọng như Putin trở về với chính bản lai diện mục của mình. 

Có thể nói trong hiện tại, lãnh đạo và người dân Ukraine đã và đang thể hiện tối đa cung cách “học cách nhìn xa hơn những đám mây” trong công cuộc chống ngoại xâm nầy. 

Biết bao giờ Tuổi Trẻ Việt Nam mới biết đứng lên chống giặc thù như tuổi trẻ Ukraine anh dũng đánh đuổi giặc thù Nga Sô? 

Mai Thanh Truyết

Hiệu đính 3-15-2022 - Houston










Tuesday, March 8, 2022

 

Holodomer

 

Holodomor là danh từ nói về nạn đói do con người gây ra đã khiến cộng hòa Ukraine thuộc Liên Sô từ năm 1932 đến năm 1933, lên đến cực điểm vào cuối mùa xuân năm 1933. Đây là một phần của nạn đói ở Liên Xô rộng lớn hơn (1931–34) cũng gây ra nạn đói hàng loạt ở các vùng trồng ngũ cốc của Nga Xô Viết và Kazakhstan. Tuy nhiên, nạn đói ở Ukraine đã trở nên tồi tệ hơn bởi một loạt các sắc lệnh và quyết định chính trị của Liên Sô hầu như chỉ nhằm vào Ukraine. Để thừa nhận quy mô của nó, nạn đói năm 1932–33 thường được gọi là Holodomor, một thuật ngữ bắt nguồn từ các từ tiếng Ukraina cho nạn đói (holod) và tiêu diệt (mor).

Nguyên nhân của nạn đói

Nguồn gốc của nạn đói là do nhà lãnh đạo Liên Sô Joseph Stalin quyết định tập thể hóa nông nghiệp vào năm 1929. Các nhóm kích động của Đảng Cộng sản buộc nông dân phải nhường đất đai, tài sản cá nhân và đôi khi là nhà ở cho các trang trại tập thể, và họ trục xuất cái gọi là kulaks (nông dân giàu có hơn), cũng như bất kỳ nông dân nào chống lại tập thể hóa hoàn toàn. Tập thể hóa dẫn đến giảm sản xuất, vô tổ chức của kinh tế nông thôn và thiếu lương thực. Nó cũng châm ngòi cho một loạt cuộc nổi dậy của nông dân, bao gồm cả các cuộc nổi dậy có vũ trang, ở một số vùng của Ukraine.

Hiện tại, Trung Cộng đang thì hành chính sách đối với Việt Nam như:

·       Xóa tan nguồn cá qua việc xả thải liên tục từ ngày 6/4/2016 cho đến bây giờ do nhà máy sắt thép Hưng Nghiệp Formosa ở Vũng Áng, Hà Tĩnh, nuồn protein của dân Việt;

·       Kiểm soát và chận đứng dòng chảy của sông Mekong qua đập Jinhong (Cẩm Hồng) ở phía Băc tỉnh Vân Nam giáp biên với Lào, liên tục triệt tiêu mùa lúa Đông xuân từ tháng 3 năm 2019 cho đến 3/2022 hàng năm trên 200.000 hectare.

Qua hai âm mưu thâm độc trên của Trung Cộng, chúng ta, những người con Việt có thể kiện TC lên Toàn án Quốc tế La Haye về tội diệt chủng do việc gây ra nạn đói cho Việt Nam không?

Tên HOLODOMOR có thể áp dụng cho trường hợp nầy.
















Friday, March 4, 2022

 

Nói với chính tôi

Kể từ khi có mặt trên cõi ta bà gần 80 năm, tôi bằng lòng với những gì tôi “được” và những gì tôi “mất”.

Hiện tại, sau gần 10 năm “giã từ vũ khí”, ngồi chiêm nghiệm lại những gì đã làm trong quá khứ, tôi có làm nhiều điều đúng và cũng có nhiều điều sai.

Điều đúng làm tôi vui và mỗi điều sai là thêm một bài học mới cho tôi.

Trong suy nghĩ ấy, tôi xin cám ơn Trời Đất đã ban cho tôi tánh biết nghe và biết phục thiện.

Cuộc sống vốn đã bất toàn”, lời của Cố GS Nguyễn Văn Trường thường nhắc nhở tôi trong thời gian từ khi tôi quen biết anh cho đến hôm nay. Và đó vẫn là một “công án” tôi luôn luôn áp dụng mỗi khi giáp mặt với những khó khăn hay phiền muộn trong đời. Nhờ vậy mà tâm hồn tôi có được an nhiên tự tại sau mỗi lần bị trắc trở. Cám ơn người anh lúc nào cũng là cái thắng của con ngựa bất kham nầy.

Thiết nghĩ từ khi mới sanh ra đời, con người vốn bị bao quanh bởi Vô Minh và do Vô Minh; vì vậy, khi lớn lên cũng phải sống trong Vô Minh. Nhưng những hình thức vô minh bên ngoài khiến cho ta dễ nhận định và cải sửa; còn chính cái vô minh trong tâm mới thực sự làm tăng trưởng …tam độc trong chính ta.

Nhận thức được Vô Minh “nội tại” để hạn chế bớt Sân hận, hạn chế bớt cái NGÃ trong Tâm. Từ đó, mới có thể tiến tới giai đoạn VÔ CHẤP – VÔ TRỤ.

Một khi đã vô chấp, ba quỹ dữ trong tâm là Tham, Sân, Si sẽ không còn cơ hội để phát triển nữa. Từ đó ta có thể trở về gần với tánh Không.

Nhưng trong kinh Bảo Đàn của Lục Tổ Huệ Năng có viết:” Chớ nghe ta nói KHÔNG mà liền chấp KHÔNG. Nếu để TÂM trống KHÔNG mà ngồi yên lặng, tức là chấp cái VÔ KÝ KHÔNG, tức là tánh không tưởng nhớ gì cả. Đó là cái tánh nửa chừng, nó không nhớ và không phân biệt gì cả”.

Tôi chiêm nghiệm rằng, an nhiên tự tại là trực diện với Vô minh, cộng thêm những bất toàn mà mình phải chịu để từ đó được tôi luyện và thạch hóa tánh Không.

Tôi đang đi vào con đường Đoạn Ái để tiến tới tánh Không, chẳng chấp mà chẳng bỏ, cũng không nhiễm vương, không dính níu, lòng như trống không để tiến bước vào MA HA trong Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh. 

Tôi hiện tại có còn là Tôi không cách đây gần 80 năm?

Phổ Lập

Nhân mùa Lễ Tro 2022








Wednesday, March 2, 2022

  

Đại nghĩa thắng Hung tàn

 

Luật sư Nghiêm xuân Hồng (1920-2000 ) là một tên tuổi nổi tiếng trong văn chương và chính trị miền Nam. Cùng các bạn Vũ Khắc Khoan, Mặc Đỗ .vv ông thành lập nhóm (văn-chương) Quan Điểm, cho ra nhiều tác phẩm có giá trị . Năm 1965, ông tham gia chính quyền với chức vụ Bộ Trưởng Phủ Thủ Tướng . Sau 75, ở Hoa Kỳ, ông đi hẳn vào đạo Phật, viết và giảng dạy Phật pháp. Nhiều người chỉ biết cư sĩ Tịnh Liên mà quên đi ông bộ-trưởng-nhà-văn Nghiêm xuân Hồng! 

Năm 1989, liên bang Xô Viết tan rã, kéo theo tàn lụi các chế độ CS Đông Âu. 1990, trên tạp chí Văn Học ( Hoa Kỳ ) , số 49, ông Tịnh Liên viết bài : » Gorbachev : bàn tay siêu bỉ ngạn « , trong đó, ông nhớ lại thời sống chung với «Việt Minh» ( 43-44) đã khiến ông tự hỏi : « là một phong trào giải phóng nhân ái hay là sự trỗi dậy của một loài quỷ khát máu và quyền lực ( sic ) «. Về quyết định giải thể « liên bang Xô Viết » của Gorbachev, ông viết «  Bàn tay thần linh hình như đã phổ vào, cụ thể hóa trong bàn tay siêu bỉ ngạn Gorbachev «  ( trang 16 ) . Và ông không ngần ngại cho rằng : » trong lịch sử các triều vua chúa , Gorbachev là khuôn mặt duy nhất biết BUÔNG và biết THẢ «  . « Đó là bàn tay đã giải phóng (thực sự) hàng trăm triệu người Đông Âu « ( trang 17). Tôi hoàn toàn đồng ý câu này với ông Tịnh Liên . Dù có thể , để tự cứu Nga, ông Gorbachev đã bắt buộc phải BUÔNG  chủ nghĩa CS và THẢ các « chư hầu « Đông Âu nhưng, nếu là một người khác, chưa chắc họ đã làm vậy. Như Tổng bí thư tiền nhiệm Chernenko . Như, trước Chernenko, là Andropov . Như Brezhnev . Như Khrushchev vv Hay như Putin, từ bao nhiêu năm nay, vẫn mang « hoài bão « khôi phục lại » Liên Bang Xô Viết «. Bằng cách này hay cách khác. 

Thủ tướng dưới thời Tổng thống Yeltsin (1999), sau khi ông này từ chức, Putin đắc cử Tổng thống năm 2000. Từ đó đến nay (2022), sau nhiều lần thay đổi hiến pháp, dù nắm chức vụ Tổng Thống hay Thủ Tướng, quyền hành đều nằm trong tay Putin.

 Với đa số dân Nga, Putin là «anh hùng» vì đã «rửa mặt» cho nước Nga: kinh tế phát triển, quân lực hùng mạnh, cho dù Putin độc tài , đàn áp đối lập ( điển hình là chuyện đầu độc ông Navalny). Song song với việc khôi phục vị trí cường quốc, Putin bành trướng thế lực, áp đặt ảnh hưởng ở các nước lân bang: Biélorussie , Ukraine , Georgia . 2014, Putin đã không ngần ngại thôn tính bán đảo Crimée của Ukraine. Trước chuyện công khai cướp nước người của Putin,  Mỹ và đồng minh « Liên Âu » chỉ phản kháng, lên án . Rồi thôi ! Một « mở đường » cho Putin. Y như lúc Hà Nội dò đường chiếm Phước Long cuối năm 1974, thấy Mỹ không “động đậy”, 3 tháng sau, Hà Nội tung quân đánh Ban Mê Thuộc! 

Sau nhiều hội thảo với các nguyên thủ Pháp, Đức, sáng 24/2, 5H30 ( giờ địa phương), Putin xuất hiện trên truyền hình, mời dân Nga điểm tâm bằng « pháo lệnh » : mở đầu chiến dịch quân sự đặc biệt xua quân, vượt biên giới, tấn công Ukraine thể theo cái gọi là « yêu cầu » của hai « nước » Cộng Hòa tự trị vùng Donbass, Donetsk và Lugansk, đang bị chính quyền Ukraine thi hành chính sách « diệt chủng « tiêu diệt vùng nói tiếng Nga ( miền đông Ukraine ) : một màn giễu dở, vì cả thế giới đều biết Putin quyết định lật đổ chính phủ hợp hiến Kiev, dựng lên một chính quyền « thân » Putin, ngăn chận chuyện Kiev xin vào khối « Liên Âu «. 

Từ lâu, ngoài mơ ước xáp nhập lại Ukraine vào Nga, Putin còn muốn biến Ukraine , Biélorussie thành vùng « trái độn » giữa Nga và Liên Âu, như Thái Lan, trong thỏa thuận ngầm giữa Anh & Pháp thời đế quốc « : bên nay Thái là các nước « Đông Dương » của Pháp , bên kia Thái là thuộc địa Miến, Ấn của Anh. Chưa nói đến chuyện Ukraine có nhiều tài nguyên và một tiềm năng kinh tế đáng kể. 

Với một cán cân quân sự nghiêng hẳn về Nga, chuyện giữ vững Kiev chỉ là vấn đề thời gian. Bởi vì cái quốc gia nhỏ bé đó đang đơn thân độc mã chống lại quân xâm lược. Đống minh nhớn Hoa Kỳ và hàng xóm Liên Âu không dám can thiệp quân sự vào. Lý do đưa ra là Ukraine không thuộc phần đất Liên Âu nhưng sự thật thì không ai muốn (thật sự) gây chiến với Putin. Điều đó có thể là ngòi nổ cho « thế chiến thứ 3 »! 

Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã. Tổng thống độc tài Putin luôn tìm cách gây vây cánh bằng cách luôn ủng hộ những nhà lãnh đạo độc-tài-sắt-máu. Như ở Syria, Venezuela, Biélorussie. 

Theo ông Tịnh Liên, « với cái đầu hói và bộ dạng xuề xòa », ông Gorbachev giống như « một anh salesman đi chào mẫu hàng «. Kế vị ông Gorbachev là ông Yeltsin. Một phóng sự cho thấy, khi đi ngang sau lưng một nữ phụ tá đang làm việc, ông thò tay cù lét làm bà giật bắn mình. Tôi không biết ông có « đóng phim « không nhưng đó không phải là lần đầu tôi thấy ông hành xử rất «người» ( như .. tôi ! ) . Hầu như lúc nào tôi cũng thấy ông cười. Chẳng biết vì bản tánh hay vì chàng giống cụ Tản Đà nhà mình » say sưa nghĩ cũng hư đời / hư thời hư vậy, say thời cứ say «. 

Khác với hai vị tiền nhiệm, chưa bao giờ tôi thấy Putin cười «tự nhiên». Lúc nào mặt ông cũng khó đăm đăm. Và lạnh ! Đó là một khuôn mặt dễ làm người khác sợ . Như tên cái cơ quan ông phục vụ trong 16 năm, từ lúc mới ra trường ( Luật / 1975 ) cho đến 1991: KGB! 

Với tôi, Putin là một nhà lãnh đạo có " tài " ! Quyền lực thế giới là một cái ghế 4 chân : Mỹ, Tàu, Liên Âu và Nga . Mỹ có các đồng minh anglophone (Anh, Canada, Úc) , Tàu có Bộ Chính Trị , Liên Âu có nhiều cường quốc nhưng Nga : chỉ có mình Putin. Tương lai môt dân tộc, một quốc gia, nằm trong tay một Đảng, đã là một tối nguy hiểm, nếu nằm trong tay một cá nhân thì cái tối nguy hiểm ấy, nó tăng lên gấp bội phần. Như đã, với Hitler. Như đã, với Stalin, với Mao Trạch Đông vv…! 

Putin và Tập Cận Bình hầu như ngang tuổi . Người sanh 1952, người 1953. Đó cũng là thế hệ của những : Merkel (1954) , Hollande (1954) , Sarkozy (1955), Blair (1953 ), May (1956 ) …: chào đời thập niên 1950s , sau khi thế giới chia hai khối " Tư Bản / Cộng Sản " . Điểm giống nhau giữa bà Merkel, Tập Cận Bình và Putin: cả 3 đều một thời là thiếu nhi khăn quàng đỏ, cháu ngoan các « bác « : Honecker, Mao , Khrouchtchev . Nhưng, nếu bà Merkel, con một mục sư, đã từ chối làm việc với mật vụ Stasi , thì Tập , con trai một đảng viên CS bị « thanh lọc «, và Putin : xuất thân từ giai cấp công nhân, đã ngoan ngoãn cộng tác với chế độ. Cho hay không phải sống với CS là phải trở thành CS. Điều đó tùy thuộc vào cá tánh, tư duy mỗi cá nhân và sự giáo dục của gia đình. Nếu không, đã không có các « tù nhân lương tâm « ở Việt Nam hiện nay! 

Trừ một vài nước bị cai trị bởi đám độc tài, đảng trị, cả thế giới đều lên án Putin về chuyện xâm lăng Ukraine! Chưa bao giờ mà Putin bị cô lập như lúc này. Chưa bao giờ mà Nga bị thế giới khai trừ , tẩy chay như lúc này. Không can thiệp được bằng « người », khối «Tự Do” đang trả đũa Putin bằng kinh tế và viện trợ quân sự. Nhiều hội tuyển túc cầu đã từ chối giao đấu với hội tuyển Nga trong các trận cầu quốc tế. 

Mục đích của Putin là lật đổ chính quyền Kiev trong một thời gian kỷ lục, nhằm lập ra chính quyền «  giải phóng « mới, nhất định không xin vào khối Liên Âu. Nhưng Tổng thống Zelensky và người dân Ukraine đã không cho Putin thực hiện được điều đó . Đã 5 ngày qua, Kiev vẫn đứng vững. Có thể nó sẽ lọt vào tay Putin chiều nay, tối mai nhưng hiện giờ , 28/02/2022 , Kiev vẫn còn là thủ đô của người dân Ukraine . Con châu chấu Ukraine vẫn tiếp tục đá xe Nga . Máu người Ukraine và lính Nga đang đổ xuống rất nhiều ở Ukraine trong 5 ngày qua. Tất cả vì tham vọng của Putin! 

Mỹ và khối Liên Âu không thể nhường Putin mãi. Được đằng chân lấn đằng đầu. Putin mà thắng keo này, keo tới sẽ là Phần Lan, Thụy Điển. Riêng Tàu Cộng : “ bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi “. Tuy không thu lợi nhưng ngư ông Tập cận Bình đang khoan khoái xoa tay, chờ thu kinh nghiệm " Ukraine" . Nếu Putin chiếm được Ukraine thì tại sao Tàu không chiếm được ... Đài Loan? Với khối " Tự Do " đây là một thử thách lớn: cọp đang lột .. giấy, trở thành cọp thật?! 

“Lấy chí nhân thay cường bạo / Mang đại nghĩa thắng hung tàn” (Nguyễn Trãi). Tôi cầu mong đại nghĩa rồi sẽ thắng hung tàn trong chiến tranh Ukraine-Nga. 

Điều đã không xảy ra ở miền-Nam-nước- tôi , 47 năm trước!

Lê Bình Phương

Paris - 28/02/2022











 

Nói với những người Cộng sản Bắc Việt đang cầm quyền ở Việt Nam

 

Xin nói ngay là những dòng chữ sau đây không phải là lời nhắn gửi hay trao đổi với họ mà chính là một vài suy nghĩ về họ trong cung cách quản lý toàn thể đất nước hơn 46 năm qua.

Nhớ lại, trong những buổi hoàng hôn trước ngày 30/4/1975, tâm trạng một thanh niên trẻ,  mang bầu nhiệt huyết hầu mong đóng góp một chút gì cho quê hương, đang bị dằn co bởi ý tưởng ĐI hay Ở. Sau cùng quyết định ở lại đã chiến thắng, xóa đi nỗi khắc khoải của nội tâm vì một suy nghĩ rất “lãng mạn” rằng:

”Cho dù CS Bắc Việt có chiếm miền Nam đi nữa, mình cũng có thể đối thoại được với họ, vì cùng chung chủng tộc và cùng một ngôn ngữ”.

Nhưng tôi đã lầm, cũng như nhiều người đã lầm, vì họ và tôi không nói cùng một tiếng nói mặc dù cùng phát âm tiếng Việt. Trước bế tắc của cuộc sống và tương lai con cái, phải đành liều chết vượt biên mà thôi. Không còn một giải pháp nào khác.

Trong suốt hơn 30 năm thực sự dấn thân vào con đường tranh đấu dù dưới danh nghĩa cá nhân hay thành viên của Hội Khoa học & Kỹ thuật Việt Nam (VAST) hay dưới danh nghĩa Đại Việt, hay Nhóm Chống Tàu Diệt Việt Cộng, hay Hội Bảo Vệ Môi Trường Việt Nam, qua trên 20 cuốn sách viết riêng hay viết chung với các bạn như GS Trần Minh Xuân, TS Phan Văn Song, tôi đã trang trải trong đó, nỗi lòng của người con Việt, nói lên những vấn nạn môi trường do sự phát triển không ứng hợp với chiều hướng toàn cầu hóa và bảo vệ môi trường cùng những chính sách y tế, giáo dục hoàn toàn đi ngược lại trào lưu tiến bộ của văn minh thế giới.

Từ đó, đưa đến tệ trạng là Đất và Nước ngày hôm nay đang đứng bên bờ vực thẳm về phát triển, chưa nói đến vấn nạn làm “nô lệ” cho Trung cộng qua các thỏa hiệp ngầm giữa hai đảng cộng sản Việt và Trung. Hiện nay, trên thực tế và dưới sự quản lý của đảng cộng sản Bắc Việt, Việt Nam vô hình chung đã là một tỉnh phía Nam của Trung Cộng từ lâu rồi!

Ngày hôm nay, nhân danh cá nhân của một người con Việt, nếu còn lại một chút nhứt điểm lương tâm, những người CS Bắc Việt hãy trở về với dân tộc đúng nghĩa thật sự.

Tài sản và quyền lực chỉ là phù du!

Hãy can đảm vứt bỏ VÔ MINH trong tâm khảm để trở về với dân tộc đúng nghĩa.

Một khi nhắm mắt và ngừng hơi thở, quyền lực sẽ là hư không và tài sản sẽ trở về cát bụi mà thôi!










Sunday, February 27, 2022

 


Tạp chí Khoa học JOURNAL of OCCUPATIONAL and ENVIROMENTAL MEDICINE đăng phản biện của Hội Khoa học & Kỹ thuật Việt Nam tại Hoa Kỳ v/v chất Da Cam tại Biên Hòa năm 2003

November 12, 2003 

The Editor Journal of Occupational and Environmental Medicine 

P.O. Box 10619 Towson, 

MD. 21285-0619 

Dear The Editor: 

Attached please find a hard copy, with an accompanying diskette, containing our comments on the article entitled “Food as a Source of Dioxin Exposure in the Residents of Bien Hoa City, Vietnam” by Arnold Schecter et al. published in the Journal of Occupational and Environmental Medicine, Volume 45, Number 8, August 2003. We submit our comments for publication in the Letters to the Editor department of the Journal. We thank you for your assistance. If you have any questions, please do not to hesitate to let us know at wastewater@vastvn.org. Sincerely yours, Truyet T. Mai, Ph. D. President Attachment PS. Please send correspondent to our new mailing address at 562 Condor Avenue Brea, California 92823-1009 FOR PUBLICATION FOOD AS A SOURCE OF DIOXIN EXPOSURE IN THE RESIDENTS OF BIEN HOA CITY, VIETNAM – ARNOLD SCHECTER, ET AL. To the Editor: The article by Schecter, et al. (J Occup Environ Med. 2003; 45: 781-88) uses laboratory results of sixteen (16) food samples collected from various areas in Bien Hoa City, Vietnam “to determine if food is the route of current intake of TCDD into persons living in Vietnamese ‘hot spots’” and concludes that “Clearly, food, including duck, chicken, some fish, and a toad, appears responsible for elevated TCDD in residents of Bien Hoa City, even though the original Agent Orange contamination occurred 30-40 years before sampling.” The methodology used and the data and information provided in the article do not appear to support the conclusion. The authors referred to Bien Hoa City as a dioxin “hot spot” because of “a substantial leak of over 5000 gallons of Agent Orange occurred underground at the Bien Hoa air base approximately 30 years before our sampling.” This reference is speculating and misleading. Although the article states “In the vicinity of Bien Hoa City, soil and sediment samples from the Bien Hung Lake showed areas with elevated TCDD...” it does not provide any supporting data to link Agent Orange from the leak at the Bien Hoa airbase 30 years ago with the Bien Hung Lake, whose location could not be specified by the authors. The article states “It is probable that consumption of food is responsible for elevation of TCDD levels in persons living near the Bien Hoa City dioxin ‘hot spot’,” but it does not provide supporting data (1) to link elevated TCDD levels in food samples with the dioxin “hot spot” and (2) to link elevated TCDD levels in food samples with elevated blood TCDD levels in residents of Bien Hoa City. The analytical results show only one in three fish samples collected within the dioxin hot spot having elevated TCDD concentration. But the highest TCDD concentrations were found in food samples collected from the Bien Hoa and Bien Hung markets. These samples were likely from food produced in other areas and shipped to the markets for sale; therefore, they may be contaminated by sources other than the Bien Hoa City dioxin “hot spot.” There are strong indicators suggesting the presence of potential sources other than Agent Orange for the current dioxin contamination in Vietnam, especially in Bien Hoa City. The first indicator is elevated concentrations of polychlorinated biphenyls (PCBs), polychlorinated dioxins (PCDDs), and polychlorinated dibenzofurans (PCDFs) in all samples (soil, sediment, food, and human blood) collected for the study. Because dioxin was the only contaminant contained in the herbicides used during the Vietnam War, these polychlorinated compounds must be from a source or sources other than the Bien Hoa City dioxin “hot spot.” According to the article, “possible sources of PCBs include electrical transformers or capacitors and hydraulic fluid used during the Vietnam or Second Indochina war.” This interpretation appears to be bias. According to Dr. Sinh N. Nguyen of the Vietnam National Environmental Agency (NEA), Vietnam has imported between 27,000 and 30,000 tons of PCBs-contaminated oil from Soviet Union, China, and Rumania for industrial uses. A portion of this imported oil was discharged directly to the environment and caused environmental pollution (United Nations Environmental Programme. Proceedings of the Regional Workshop on the Management of Persistent Organic Pollutants (POPs). Hanoi, Vietnam, 16-19 March 1999). The PCB products could be contaminated with PCDDs and PCDFs from the time they were shipped from the factory. When PCBs were made, PCDDs and PCDFs were created as byproducts in the mixtures. The other indicator is untreated industrial waste from industrial zones located within Bien Hoa City. These industrial zones include various industries such as paper, plastic, electrics, electronics, and chemicals. All of these industries are considered as potential sources of dioxin contamination. The untreated industrial waste including wastewater has been discharged directly into the environment and has caused serious environmental pollution, especially the Dong Nai River, the receiving water for wastewater from the Bien Hoa industrial zones. According to the NEA’s State of Environment in Vietnam 2001, “most of the monitored rivers are found to be polluted with substances like N and P, from 4 to nearly 200 times compared with water resource of category A [for potable water] and from 2 to 20 times in comparison with water source of category B [for non-potable water]. Organic pollution in Sai Gon River, Vam Co Dong River and canals is very serious while it is rather severe in Dong Nai River.” In addition to organic substances and nutrients, toxic chemicals have also been found in wastewater. For example, studies for the Bai Bang Paper Mill in the Vinh Phu province revealed dioxins accumulated in sludge from the receiving waters and the sedimentation basin, and PCBs were found in municipal sewage from Ho Chi Minh City. In summary, the authors should use a more appropriate method to determine if food is the route of current intake of TCDD into persons living in Vietnamese “hot spots” such as the leak of Agent Orange at the Bien Hoa Airbase in 1970. Regardless the method used, adequate and appropriate supporting data should be provided (1) to link the Bien Hoa dioxin “hot spot” with the TCDD contaminated areas where food are produced, (2) to link elevated TCDD levels in soil and sediment samples with elevated TCDD levels in food grown within the contaminated areas, and (3) to link elevated TCDD levels in food consumed by persons living in the contaminated areas with elevated TCDD levels in their blood. If other persistent organic pollutants (POPs) are detected, additional potential sources should be evaluated to determine the “true” route of the dioxin contamination in the studied area. Truyet T. Mai, Ph.D. Vietnamese American Science and Technology Society Orange County, California LetterToJOEM.doc November 12, 2003 JOEM - Bộ 46, Số 5, Tháng 5/2004 THƯ CHỦ BÚT Thực phẩm là một Nguồn Tiếp nhiễm Dioxin của Cư dân ở Biên Hòa, Việt Nam - Schecter và một số tác giả. Kính thưa Chủ bút: Bài viết của Schecter và một số tác giả dùng kết quả thử nghiệm của 16 mẩu thực phẩm thu thập từ nhiều nơi khác nhau trong thành phố Biên Hòa, Việt Nam, “để xác định xem thực phẩm có phải là con đường xâm nhập hiện nay của dioxin vào cơ thể người dân đang sinh sống gần các ‘điểm nóng’ ở Việt Nam” và kết luận rằng “Rõ ràng, thực phẩm, bao gồm vịt, gà, vài loại cá, và một con ếch, dường như có trách nhiệm đối với mức độ TCDD [dioxin] rất cao trong máu của người dân Biên Hòa, mặc dù việc ô nhiễm chất Da cam đầu tiên đã xảy ra 30-40 năm trước khi thử nghiệm.” Phương pháp được dùng để nghiên cứu cũng như các dữ kiện và tin tức được trình bày trong bài viết dường như không biện minh được cho kết luận của các tác giả. Các tác giả khẳng định rằng thành phố Biên Hòa là một “điểm nóng” dioxin bởi vì có “một vụ rò rỉ đáng kể của hơn 5.000 gallons chất Da cam đã xảy ra ở dưới đất trong căn cứ không quân Biên Hòa khoảng 30 năm trước cuộc thử nghiệm của chúng tôi.” Việc khẳng định nầy chỉ là một sự phỏng đoán và đánh lạc hướng. Mặc dù bài viết ghi rằng “Trong vùng phụ cận thành phố Biên Hòa, các mẩu đất và trầm tích lấy từ hồ Biên Hùng cho thấy nhiều nơi có mức độ TCDD rất cao...,” nhưng nó không cung cấp bất cứ một dữ kiện nào cho thấy việc rò rỉ chất Da cam trong căn cứ không quân Biên Hòa 30 năm về trước có liên quan đến hồ Biên Hùng, một cái hồ mà chính các tác giả cũng không một ai có thể xác định được vị trí của nó! Bài viết ghi thêm rằng “Việc tiêu thụ thực phẩm có thể là nguyên nhân làm gia tăng mức độ TCDD trong cơ thể người dân đang sinh sống gần ‘điểm nóng’ dioxin ở Biên Hòa,” nhưng nó cũng không cung cấp bất cứ một dữ kiện nào để 1) liên kết mức độ TCDD rất cao trong các mẩu thực phẩm với “điểm nóng” dioxin và 2) liên kết mức độ TCDD rất cao trong các mẩu thực phẩm với mức độ TCDD rất cao ở trong máu của người dân Biên Hòa. Kết quả phân tích cho thấy chỉ có 1 trong 3 mẩu cá lấy gần “điểm nóng” dioxin có nồng độ TCDD rất cao. Thế nhưng, các nồng độ TCDD cao nhất thì được tìm thấy trong các mẩu thực phẩm lấy từ chợ Biên Hòa và Biên Hùng. Các mẩu nầy rất có thể được lấy từ thực phẩm sản xuất ở các nơi khác rồi chuyên chở ra các chợ để bán; cho nên, chúng có thể bị ô nhiễm bởi các nguồn ô nhiễm khác hơn là “điểm nóng” dioxin ở Biên Hòa. Có nhiều chỉ dấu vững chắc cho thấy sự hiện diện của nhiều nguồn ô nhiễm không phải là chất Da cam cho việc ô nhiễm dioxin hiện nay ở Việt Nam, đặc biệt là ở thành phố Biên Hòa. Chỉ dấu đầu tiên là sự hiện diện ở nồng độ rất cao của các chất PCBs, PCDDs, và PCDFs trong tất cả các mẩu (đất, trầm tích, thực phẩm, và máu con người) được thu thập cho việc nghiên cứu. Vì dioxin là chất ô nhiễm duy nhất chứa trong thuốc khai quang được sử dụng trong cuộc chiến Việt Nam, các hợp chất clor nầy chắc chắn phải do một hoặc nhiều nguồn ô nhiễm khác hơn là “điểm nóng” dioxin ở Biên Hòa. Vẫn theo bài viết, “nguồn ô nhiễm PCBs có thể bao gồm các máy biến điện hoặc tụ điện và dầu thủy lực được dùng trong suốt cuộc chiến Việt Nam và Đông Dương.” Phần diễn dịch nầy dường như rất thiên vị. Theo Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Sinh của Cục Bảo vệ Môi trường, Việt Nam đã nhập cảng từ 27.000 đến 30.000 tấn dầu bị ô nhiễm PCBs từ Liên Sô,Trung Hoa, và Lỗ Ma Ni để dùng vào việc sản xuất kỹ nghệ. Một phần của số dầu nầy đã được xả trực tiếp và đã gây ô nhiễm môi trường (United Nations Environmental Programme, Proceedings of the Regional Workshop on Management of Persistent Organic Pollutants, Hanoi, Vietnam, 16 to 19 March 1999). Các sản phẩm PCBs có thể bị ô nhiễm với PCDDs và PCDFs từ nơi sản xuất, vì khi PCBs được chế tạo, PCDDs và PCDFs được kết hợp như là những phó phẩm của chúng. Một chỉ dấu khác là chất thải kỹ nghệ không được gạn lọc (xử lý) từ các khu kỹ nghệ trong thành phố Biên Hòa. Các khu kỹ nghệ nầy bao gồm nhiều kỹ nghệ khác nhau như giấy, nhựa, điện, điện tử, và hóa học. Tất cả các kỹ nghệ nầy được xem như là những nguồn có khả gây ô nhiễm dioxin. Chất thải kỹ nghệ không được gạn lọc, bao gồm nước thải, được xả trực tiếp vào môi trường và gây nên tình trạng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, nhất là sông Đồng Nai, nơi nhận nước thải từ các khu kỹ nghệ ở Biên Hòa. Theo Báo cáo Hiện trạng Môi trường Việt Nam 2001 của Cục Bảo vệ Môi trường, “Hầu như toàn bộ các sông được quan trắc và phân tích đều bị ô nhiễm bởi các chất dinh dưỡng (N,P): từ 4 đến 200 lần so với nguồn nước loại A [nước uống được] và từ 2 đến 20 lần so với nguồn nước loại B [nước không uống được]. Ô nhiễm hữu cơ ở sông Sài Gòn, Vàm Cỏ Đông và kênh rạch là ở mức rất nặng; ở sông Đồng Nai thì nghiêm trọng.” Ngoài các chất hữu cơ và dinh dưỡng, hóa chất độc hại cũng được tìm thấy trong nước thải. Thí dụ như các nghiên cứu ở Nhà máy Giấy Bãi Bằng trong tỉnh Vĩnh Phú cho thấy dioxin tích tụ trong bùn của hồ lắng và trong trầm tích của nguồn nước lân cận, và PCBs được tìm thấy trong nước thải của thành phố Hồ Chí Minh. Nói tóm lại, các tác giả cần có một phương pháp thích hợp hơn để xác định xem thực phẩm có phải là con đường xâm nhập hiện nay của dioxin vào cơ thể người dân đang sinh sống gần các “điểm nóng” ở Việt Nam, chẳng hạn như vụ rò rỉ chất Da cam ở căn cứ không quân Biên Hòa năm 1970. Dù sử dụng bất cứ phương pháp nào, dữ kiện phải được cung cấp một cách thích hợp và đầy đủ để 1) liên kết “điểm nóng” dioxin ở Biên Hòa với những vùng sản xuất thực phẩm bị ô nhiễm dioxin, 2) liên kết mức độ TCDD rất cao trong đất và trầm tích với mức độ TCDD rất cao trong thực phẩm sản xuất ở vùng bị ô nhiễm, và 3) liên kết mức độ TCDD rất cao trong thực phẩm với mức độ TCDD rất cao trong máu của người tiêu thụ. Nếu các chất hữu cơ dai dẳng khác được tìm thấy, các nguồn ô nhiễm có khả năng khác cần phải được lượng định để xác định con đường xâm nhập “thật sự” của tình trạng ô nhiễm dioxin trong vùng nghiên cứu. Tiến sĩ Mai T. Truyết Hội Khoa Học và Kỹ Thuật Việt Nam Orange County, California Đối Đáp Chúng tôi cảm ơn sự quan tâm của Tiến sĩ Mai T. Truyết đối với bài viết vừa được phổ biến về dioxin từ chất Da cam như là một nguồn liên tục cho việc ô nhiễm thực phẩm hiện nay tại một địa phương ở Việt Nam. Chúng tôi ghi nhận sự quan tâm của Ông đối với các ảnh hưởng lên sức khỏe và môi trường của tình trạng ô nhiễm dioxin ở Việt Nam. Mặc dù Tiến sĩ Mai không lên tiếng chỉ trích về các phương pháp phân tích, chúng tôi cảm thấy cần phải nhấn mạnh một lần nữa phương pháp mà chúng tôi đã dùng để xét nghiệm 2,3,7,8-TCDD (TCDD) trong các mẩu máu người, đất, trầm tích, thú hoang, và thực phẩm lấy từ nơi chứa hoặc bị phun chất Da cam. Sau khi được rửa sạch, tất cả các mẩu được phòng Thí nghiệm Nghiên cứu ERGO phân tích bằng phương pháp GC-MS theo các tiêu chuẩn hóa học thích hợp. Phòng thí nghiệm nầy được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) chuẩn nhận trong việc xác định các chất dioxin, dibenzofurans, và PCBs trong tế bào con người và thực phẩm. Hiện nay, phương pháp nầy là “tiêu chuẩn vàng” để xác định việc tiếp xúc với dioxin bất kể nguồn nguyên thủy của nó. 2,3,7,8-TCDD, chắc chắn từ chất Da cam mà ra, đã được tìm thấy ở con người và nguồn thực phẩm của họ từ năm 1970, khi một người của chúng tôi (J.D.C.) [John D. Constable] đã lấy các mẩu sữa mẹ và cá từ những vùng bị phun chất Da cam nặng nhất ở Việt Nam để phân tích dioxin. Kết quả của các phân tích dioxin tiên phong nầy cho thấy có đến 1.850 phần ức (ppt) 2,3,7,8-TCDD trong mỡ chứa trong sữa của một số bà mẹ đang nuôi con. Đây là con số cao nhất chưa từng thấy so sánh với con số căn bản hiện nay là 2 ppt ở Hoa Kỳ và Nam Việt Nam. Trong các mẩu cá, có đến 1.020 ppt (tính theo trọng lượng ướt (wet weight)) được tìm thấy, so với mức căn bản thông thường thấp hơn 0,01 ppt. Tiếp theo đó, các mẩu máu và mỡ được dùng để ước tính việc tiếp xúc với chất Da cam. Kết quả cho thấy một số cựu chiến binh Hoa Kỳ tham chiến ở Việt Nam có nồng độ dioxin rất cao vì bị ô nhiễm chất Da cam. Một phần của thành phố Biên Hòa là “điểm nóng” dioxin không chỉ vì bị phun thuốc khai quang và vụ tràn chất Da cam quan trọng được Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ lưu hồ sơ mà còn vì mức độ 2,3,7,8-TCDD rất cao (và chỉ có TCDD trong rất nhiều chất cùng họ với dioxin được phân tích) trong một số cư dân được chọn lọc vì họ có thể tiếp xúc với thuốc khai quang nhiều hơn. Việc ô nhiễm con người và các mẩu môi trường do các sản phẩm của việc thiêu đốt, pentachloro- phenol, dầu lúa (rice oil), hay ở đây, chất Da cam, cho thấy đặc tính của 7 chất dioxin, 10 chất dibenzofuran, và 12 chất PCBs, cho phép tìm ra “dấu vết” của nguồn ô nhiễm. Sự kiện chỉ có mức độ dioxin tăng cao, và không có dibenzofuran và PCBs, là một bằng chứng có tính thuyết phục rằng dioxin bắt nguồn từ chất Da cam do phun xịt, tràn, hoặc rò rỉ do tồn trữ không đúng cách. Chi tiết hơn, khi chất thải gia dụng được thiêu đốt, nhiều chất dioxin và dibenzofuran được phóng thích, nhất là octachlorodibenzodioxin. Nếu chất chlorine được dùng để tẩy trắng, nước thải từ các nhà máy giấy hoặc bột giấy thường có chứa 2,3,7,8-TCDF và 2,3,7,8-TCDD. Pentachlorophenol thường bị ô nhiễm bởi các chất dioxin có nhiều phân tử clor hơn và dibenzofuran bị ô nhiễm bởi 8, 7, hoặc 6 phân tử clor chứ không phải tetrachlorinated dioxins hoặc dibenzofurans. Ngày nay, sự kiện thực phẩm từ động vật là đường xâm nhập của hơn 95 phần trăm lượng thu nhận dioxin của con người được minh chứng (document) đầy đủ. Mục đích của bài viết của chúng tôi là minh chứng, ở địa phương nầy và tại thời điểm nầy, sự liên kết giữa dân số bị ô nhiễm dioxin với sự ô nhiễm của thực phẩm mà họ tiêu thụ. Các mẩu thực phẩm mà chúng tôi thu thập, thực sự, đại diện cho thực phẩm tiêu thụ bởi đối tượng nghiên cứu của chúng tôi. Tất cả các nồng độ TCDD cao được tìm thấy trong thực phẩm từ cái hồ bị ô nhiễm hoặc vùng phụ cận trong nghiên cứu nầy phù hợp với kết quả của các nghiên cứu trước đây. “Điểm nóng” Biên Hòa tương tự như điểm nóng ở Cao nguyên miền Trung đã được một nhóm môi trường Canada nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu nầy cũng cho thấy sự gia tăng tương tự của 2,3,7,8-TCDD trong tế bào con người, đất, trầm tích, và thực phẩm. Khi thảo luận về PCBs, Tiến sĩ Mai dường đã lầm lẫn khi mô tả chúng như là bị ô nhiễm bởi các chất thuộc họ dioxin và dibenzofurans. Thực ra, các chất ô nhiễm đặc trưng của chúng là dibenzofurans. Khi được nung nóng tới một nhiệt độ nhất định với sự hiện diện của dưỡng khí, dibenzofurans sẽ được phóng thích nhiều hơn. Mặc dù có sự tương đồng đáng kể giữa các chất thuộc họ dioxin và dibenzofurans, chúng là những hợp chất khác nhau. Chất dibenzofurans trong dầu lúa do việc nung chất PCBs là nguyên nhân chính của việc ngộ độc dầu lúa ở Yusho, Nhật Bản năm 1969 và ở Yucheng, Đài Loan năm 1979. Trên quan điểm y tế công cộng, chúng tôi đồng ý là cần phải xác định quá trình nhập cảng PCB ở Việt Nam và mức độ ô nhiễm hiện nay trong con người và môi trường vì PCB và các chất ô nhiễm của nó là những hợp chất rất dai dẳng. Chúng tôi hoàn toàn đồng ý với Tiến sĩ Mai rằng chất Da cam không phải là một hóa chất độc hại duy nhất được tìm thấy ở Việt Nam. Từ năm 1980, chúng tôi và một số người khác đã tường trình sự hiện diện của các hóa chất ô nhiễm không phải là TCDD ở Việt Nam. Tuy nhiên, phúc trình được giới hạn trong việc nghiên cứu chất Da cam. Chúng tôi có thể dùng các nghiên cứu nhiều năm trước đây của chúng tôi về đất và trầm tích, trong đó, mức độ TCDD rất cao được tìm thấy ở những vùng bị phun thuốc khai quang trong khi ở Hà Nội thì không có (không bị phun thuốc khai quang); đồng thời, chúng tôi cũng tìm thấy các chất thuộc họ dioxin khác hơn 2,3,7,8-TCDD ở cả hai nơi, có lẽ do việc thiêu đốt rác hoặc từ các nguồn ô nhiễm kỹ nghệ. Từ đó, bài viết cùng với nhiều bài viết khác cho thấy sự hiện diện của nhiều chất thuộc họ dioxin và các chất hữu cơ có chứa clor không phát xuất từ chất Da cam trong dân số và môi trường Việt Nam. Các hóa chất nầy cũng có thể có ảnh hưởng tai hại đối với sức khỏe của người dân. Chúng tôi tập chú công việc của chúng tôi lên 2,3,7,8-TCDD ở Việt Nam bởi vì ô nhiễm TCDD do chất Da cam, theo sự hiểu biết của chúng tôi, là một sự tiếp xúc dioxin lớn lao nhất và nghiêm trọng nhất từ trước cho đến nay, và sự tiếp xúc nầy có khả năng gây ảnh hưởng nghiêm trọng lên sức khỏe của người dân Việt Nam đã tiếp xúc với chất Da cam và của các cựu chiến binh Hoa Kỳ và đồng minh tham chiến tại Việt Nam. Bằng chứng rất rõ ràng rằng; mặc dù việc ô nhiễm chất Da cam trực tiếp và cuối cùng ở Việt Nam đã chấm dứt từ 30 năm nay, người dân vẫn tiếp tục bị ô nhiễm; và rằng mức độ rất cao nầy do thực phẩm mà ra bởi vì rất nhiều người với nồng độ TCDD rất cao được sinh ra rất lâu sau khi chất Da cam được ngưng sử dụng. Nồng độ tìm thấy lên đến 413 ppt, là nồng độ dioxin cao nhất trong máu người Việt Nam từ trước cho đến nay. Nồng độ TCDD cao hơn mức căn bản hiện nay (khoảng 2 ppt) được tìm thấy trong 95 phần trăm số người được thử nghiệm. Biên Hòa vẫn còn là một điểm nóng dioxin, với mức độ TCDD rất cao trong các mẩu máu con người, đất, thực phẩm, và trầm tích. Vì hầu hết dioxin xâm nhập con người qua dây chuyền thực phẩm và vì chúng tôi tìm thấy rất nhiều mẩu thực phẩm có mức độ 2,3,7,8-TCDD rất cao, và chỉ có dioxin mà thôi, trong số hơn 20 chất thuộc họ dioxin, dibenzofurans và PCBs mà chúng tôi nghiên cứu, chúng tôi cảm thấy rất tự tin rằng thực phẩm của họ chính là con đường xâm nhập liên tục của người dân Biên Hòa, bất kể nguồn gốc chính xác của từng thực phẩm được thử nghiệm. Mặc dù công việc nghiên cứu của chúng tôi tập chú chính yếu vào việc tiếp xúc TCDD ở Việt Nam, lý do khiến chúng tôi quan tâm chính là sự độc hại đã biết của dioxin và các chất cùng họ với dioxin đối với người dân Việt Nam cũng như các dân tộc khác có tiếp xúc với các hợp chất nầy. Bức thư nầy được viết với sự trợ giúp của K.C. Tung và Ana Nguyễn. Arnold Schecter Hoang Trong Quynh Marian Pavuk Olaf Papke Rainer Malisch Jonh D. Constable balt5/zom-jom/zom-jom/zom00504/zom2288-04a hurts S4 3/19/04 12:32 Art: 2288 Input-jm JOEM • Volume 46, Number 5, May 2004 Letters to the Editor Readers are invited to submit letters for publication in this department. Submit them to: The Editor, Journal of Occupational and Environmental Medicine, 605 Worcester Road, Towson, MD 212867834. Letters should be sent as hard copy with an accompanying diskette and should be designated “For Publication.” Food as a Source of Dioxin Exposure in rhe Residents of Bien Hoa City, Vietnam—Schecter et al. To the Editor: The article by Schecter et al.1 uses laboratory results of 16 food samples collected from various areas in Bien Hoa City, Vietnam, “to determine if food is the route of current intake of TCDD into persons living in Vietnamese ‘hot spots’” and concludes that “Clearly, food, including duck, chicken, some fish, and a toad, appears responsible for elevated TCDD in residents of Bien Hoa City, even though the original Agent Orange contamination occurred 30 – 40 years before sampling.” The methodology used and the data and information provided in the article do not appear to support the conclusion. The authors referred to Bien Hoa City as a dioxin “hot spot” because of “a substantial leak of over 5000 gallons of Agent Orange occurred underground at the Bien Hoa air base approximately 30 years before our sampling.” This reference is speculating and misleading. Although the article states “In the vicinity of Bien Hoa City, soil and sediment samples from the Bien Hung Lake showed areas with elevated TCDD. . . ,” it does not provide any supporting data to link Agent Orange from the leak at the Bien Hoa airbase 30 years ago with the Bien Hung Lake, whose location could not be specified by the authors. The article states “It is probable that consumption of food is responsible for elevation of TCDD levels in persons living near the Bien Hoa City dioxin ‘hot spot’,” but it does not provide supporting data 1) to link elevated TCDD levels in food samples with the dioxin “hot spot” and 2) to link elevated TCDD levels in food samples with elevated blood TCDD levels in residents of Bien Hoa City. The analytical results show only one in three fish samples collected within the dioxin hot spot having elevated TCDD concentration. But the highest TCDD concentrations were found in food samples collected from the Bien Hoa and Bien Hung markets. These samples were likely from food produced in other areas and shipped to the markets for sale; therefore, they may be contaminated by sources other than the Bien Hoa City dioxin “hot spot.” There are strong indicators suggesting the presence of potential sources other than Agent Orange for the current dioxin contamination in Vietnam, especially in Bien Hoa City. The first indicator is elevated concentrations of polychlorinated biphenyls (PCBs), polychlorinated dioxins (PCDDs), and polychlorinated dibenzofurans (PCDFs) in all samples (soil, sediment, food, and human blood) collected for the study. Because dioxin was the only contaminant contained in the herbicides used during the Vietnam War, these polychlorinated compounds must be from a source or sources other than the Bien Hoa City dioxin “hot spot.” According to the article, “possible sources of PCBs include electrical transformers or capacitors and hydraulic fluid used during the Vietnam or Second Indochina war.” This interpretation appears to be bias. According to Dr Sinh N. Nguyen of the Vietnam National Environmental Agency, Vietnam has imported between 27,000 and 30,000 tons of PCBs-contaminated oil from Soviet Union, China, and Ru- mania for industrial uses. A portion of this imported oil was discharged directly to the environment and caused environmental pollution (United Nations Environmental Programme, Proceedings of the Regional Workshop on the Management of Persistent Organic Pollutants, Hanoi, Vietnam, 16 to 19 March 1999). The PCB products could be contaminated with PCDDs and PCDFs from the time they were shipped from the factory. When PCBs were made, PCDDs and PCDFs were created as byproducts in the mixtures. The other indicator is untreated industrial waste from industrial zones located within Bien Hoa City. These industrial zones include various industries such as paper, plastic, electric, electronics, and chemicals. All of these industries are considered as potential sources of dioxin contamination. The untreated industrial waste, including wastewater, has been discharged directly into the environment and has caused serious environmental pollution, especially the Dong Nai River, the receiving water for wastewater from the Bien Hoa industrial zones. According to the National Environmental Agency ’s State of Environment in Vietnam 2001, “most of the monitored rivers are found to be polluted with substances like N and P, from 4 to nearly 200 times compared with water resource of category A [for potable water] and from 2 to 20 times in comparison with water source of category B [for non-potable water]. Organic pollution in Sai Gon River, Vam Co Dong River and canals is very serious while it is rather severe in Dong Nai River.” In addition to organic substances and nutrients, toxic chemicals have also been found in wastewater. For example, studies for the Bai Bang Paper Mill in the Vinh Phu province revealed dioxins accumulated in sludge from the receiving waters and the sedimentation balt5/zom-jom/zom-jom/zom00504/ zom2288-04a hurts S4 3/19/04 12:32 Art: 2288 Input-jm basin, and PCBs were found in municipal sewage from Ho Chi Minh City. In summary, the authors should use a more appropriate method to determine whether food is the route of current intake of TCDD into persons living in Vietnamese “hot spots” such as the leak of Agent Orange at the Bien Hoa Airbase in 1970. Regardless the method used, adequate and appropriate supporting data should be provided 1) to link the Bien Hoa dioxin “hot spot” with the TCDD contaminated areas where food are produced, 2) to link elevated TCDD levels in soil and sediment samples with elevated TCDD levels in food grown within the contaminated areas, and 3) to link elevated TCDD levels in food consumed by persons living in the contaminated areas with elevated TCDD levels in their blood. If other persistent organic pollutants are detected, additional potential sources should be evaluated to determine the “true” route of the dioxin contamination in the studied area. Truyet T. Mai, PhD Vietnamese American Science and Technology Society Orange County, California References 1. Schecter A, Quynh HT, Pavuk M, Papke O, Malisch R, Constable JD. Food as a source of dioxin exposure in the residents of Bien Hoa City, Vietnam. J Occup Environ Med. 2003;45:781–788. Response We thank Dr Truyet T. Mai for his interest in our recently published article on dioxin from Agent Orange as a continuing source of current contamination of food in one location in Vietnam.1 We appreciate his interest in the environmental and health effects of dioxin exposure in Vietnam.2 Although Dr Mai voices no criticisms of our analytical methods, we feel that it is appropriate to reemphasize what method we used to examine human blood, soil, sediment, wildlife, and food for 2,3,7,8TCDD (TCDD) where Agent Orange had been sprayed or stored. After cleanup, all samples were analyzed by high-resolution gas chromatography-high resolution mass spectroscopy (GC-MS) with the use of appropriate chemical standards conducted by ERGO Research Laboratory, which is certified by the World Health Organization for the determination of congener specific dioxins, dibenzofurans, and PCBs in human tissue and food. This method is the current “gold standard” for determination of dioxin exposure regardless of the original source of the dioxin.3–8 2,3,7,8-TCDD, unquestionably from Agent Orange, has been identified in humans and their food sources since 1970 when one of us (J.D.C.) collected human milk and fish from heavily Agent Orange-sprayed areas of Vietnam for dioxin analyses. These pioneer dioxin analyses showed as much as 1850 parts per trillion of 2,3,7,8-TCDD on a lipid basis in some nursing mothers’ milk, which is the highest human milk level ever recorded and which can be compared to the US and south of Vietnam current background level of approximately 2 ppt; whereas in fish up to 1020 ppt wet weight (ww) was detected compared with a usual background of less than 0.01 ppt ww.9–12 Subsequently, blood and fat samples were used to estimate Agent Orange exposure. As a result, some US Vietnam veterans were shown to be carrying elevated levels of the specific dioxin (2,3,7,8- TCDD), which contaminates Agent Or 7 ,13–15 Orange. Part of Bien Hoa City is a dioxin “hot spot” not only because of the history of herbicide spraying and of a major Agent Orange spill as documented by the US Department of Defense but also by the determination of elevated 2,3,7,8-TCDD (and only this of many dioxin congeners measured) in selected inhabitants chosen for greater likelihood of herLetters to the Editor bicide exposure. Contamination of human or environmental samples with products of incineration,16,17 pentachlorophenol,8,18 contaminated rice oil19–21 or, as here, Agent Orange, results in characteristic patterns of the 7 chlorinated dioxin, 10 chlorinated dibenzofuran, and 12 PCB congeners, which characterizes or “fingerprints” the source of the exposure. The elevation of only this specific dioxin, and no dibenzofurans or PCBs,3,4,6,22–27 is persuasive evidence that the material originated from Agent Orange either sprayed, spilled, or inadequately stored with resulting leakage. To elaborate, as a result of municipal waste incineration, many other dioxins and dibenzofurans are characteristically formed, especially octachlorodibenzodioxin.16 If chlorine is used for bleaching, paper and pulp effluents typically contain 2,3,7,8TCDF and 2,3,7,8-TCDD. Pentachlorophenol is typically contaminated with higher chlorinated dioxins and dibenzofurans with eight, seven, and six chlorines, not tetrachlorinated dioxins or dibenzofurans.8,18. The fact that food of animal origin is the route of intake of over 95% of the intake of dioxins in humans is now well documented.28–32 The purpose of our article was to document, in this location and at this time, the link between the dioxin-contaminated population and the contamination of their food. The food that we sampled was, in fact, representative of that eaten by our human subjects. All our higher levels of TCDD were found in food from the contaminated lake or nearby in this study, consistent with findings from previous work.24,25,33,34 The Bien Hoa “hot spot” is quite similar to the one in the central highlands studied by a Canadian environmental team which shows similar elevation of 2,3,7,8-TCDD in human tissue, soil, sediment, and food.5,6 In his reference to PCBs, Dr Mai seems to be mistaken in describing them as being characteristically con balt5/zom-jom/zom-jom/zom00504/ zom2288-04a hurts S4 3/19/04 12:32 Art: 2288 Input-jm JOEM • Volume 46, Number 5, May 2004 taminated with dioxins and dibenzofurans. In fact, their characteristic contaminants are dibenzofurans.35 When heated to certain temperatures in the presence of oxygen, even more dibenzofurans are typically formed.36,37 Although there is considerable similarity between dioxins and dibenzofurans, they are different compounds. It was the dibenzofurans in rice oil resulting from heated PCBs that were primarily responsible for the Yusho rice oil poisoning of 1969 in Japan and the Yucheng rice oil poisoning of 1979 in Tai21,22 wan. From a public health perspective, we agree that it would be useful to determine the history of PCB importation in Vietnam and the current levels of contamination in humans and the environment because these and their contamnants are very persistent compounds. We certainly agree with Dr Mai that Agent Orange is not the only toxic chemical that is to be found in Vietnam. Since the 1980s we and others have reported the presence of contaminating chemicals other than TCDD in Vietnam.38–43 However, the report under discussion was mainly confined to the study of Agent Orange. We can refer to our previous studies of sediment or silt performed many years ago, which found elevated TCDD in areas that had been sprayed whereas none was found in Hanoi (unsprayed), but at the same time we found other dioxins than 2,3,7,8-TCDD in both locations, presumably from incineration or other industrial sources. Since then, the article under discussion joins others in showing many dioxins as well as other chlorinated organics not from Agent Orange in the Vietnamese population and environment. These may also contribute to adverse health outcomes. We have focused much of our work on 2,3,7,8-TCDD in Vietnam because the TCDD contamination from Agent Orange is, to the best of our knowledge, the largest and potentially most significant dioxin exposure that has occurred to date and which has the potential to have caused serious health effects on exposed Vietnamese and also American and other Vietnam veterans. The evidence is overwhelming that, although it has been 30 years since the last direct contamination with Agent Orange in Vietnam, there is continued exposure of the population and that these high levels come through food because many of those with high levels of TCDD, up to 413 ppt, which is the highest blood level ever found in a Vietnamese, were born long after the use of Agent Orange had ceased. Levels of TCDD above current background of approximately 2 ppt were found in 95% of the population tested. Bien Hoa remains a dioxin hot spot, currently with high levels of TCDD in human blood, soil, food, and sediment samples. Because most dioxin enters humans through the food chain and because we found many food samples with elevated levels of 2,3,7,8-TCDD, and this particular dioxin only, among the more than 20 dioxins, dibenzofurans and PCBs we studied, we can feel very confident that their food is the continuing route of intake in the people of Bien Hoa, regardless of the precise origin of every food tested. Although our research focuses mainly on TCDD exposure in Vietnam, the reason for our concern is the known human toxicity of dioxins and dioxin-like compounds to Vietnamese or others exposed to these compounds.19,20,23,30,31,44–47 This letter was prepared with the assistance of K.C. Tung and Ana Nguyen. Arnold Schecter Hoang Trong Quynh Marian Pavuk Olaf Pa¨pke Rainer Malisch John D. Constable References 1. Schecter AJ, Quynh HT, Pavuk M, Papke O, Malisch R, Constable JD. Food as a source of dioxin exposure in the residents of Bien Hoa City, Vietnam. J Occup Environ Med. 2003;45:781–788. 2. Mai TT. Environmental Pollution in Vietnam. Vietnamese Professionals Society North America Conference. 2002; 125–131. 3. Schecter AJ, Constable JD, Arghestani S, Tong H, Gross ML. Elevated levels of 2,3,7,8-tetrachlorodibenzodioxin in adipose tissue of certain U.S. veterans of the Vietnam war. Chemosphere. 1987;16: 1997–2002. 4. Michalek JE, Wolfe WH, Miner JC, et al. Indices of TCDD exposure and TCDD body burden in veterans of Operation Ranch Hand. J Expo Anal Environ Epidemiol. 1995;52:209 –223. 5. Hatfield Consultants and 10 – 80 Committee. Preliminary Assessment of Environmental Impacts Related to Spraying of Agent Orange Herbicide During the Vietnam War. West Vancouver: Hatfield Consultants Ltd; 1998. 6. Dwernychuk LW, Cau H, Hatfield C, et al. Dioxin reservoirs in southern Vietnam—a legacy of Agent Orange. Chemosphere. 2002;47:117–137. 7. Kahn PC, Gochfeld M, Nygren M, et al. Dioxin and dibenzofurans in blood and adipose tissue of Agent Orange-exposed Vietnam veterans and matched controls. JAMA. 1988;259:1661–1667. 8. Schecter AJ, Papke O, Pavuk M, et al. Exposure and related chemicals in human tissues. In: Schecter A, Gasiewicz T, eds. Dioxins and Health. 2nd ed. Hoboken, NJ: John Wiley and Sons; 2003:629 – 678. 9. Baughman RW, Messelson M. An analytic method for detecting TCDD (dioxin) levels of TCDD in samples from Vietnam. Environ Health Perspect. 1973; 9:27–35. 10. Baughman RW. Tetrachlorodibenzo-p-Dioxins in the environment: high-resolution mass spectrometry at the picogrum level [dissertation]. Boston: Harvard University: 1974. 11. Schecter AJ, Dai LC, Thuy LTB, et al. Agent Orange and the Vietnamese: the persistence of elevated dioxin levels in human tissues. Am J Public Health. 1995; 85:516–522. 12. Schecter AJ, Pavuk M. Are Vietnamese food exports contaminated with dioxin from Agent Orange? J Tox Environ Health Part A. 2003;66:1391–1404. 13. Kahn PC, Gochfeld M, Nygren M, et al. Dioxin and dibenzofurans in blood and balt5/zom-jom/zom-jom/zom00504/ zom2288-04a hurts S4 3/19/04 12:32 Art: 2288 Input-jm 4 adipose tissue of Agent Orange-exposed Vietnam veterans and matched controls. JAMA. 1988;259:1661–1667. 14. Schecter AJ, Ryan JJ, Constable JD, et al. Partitioning of 2,3,7,8-chlorinated dibenzo-p-dioxins and dibenzofurans between adipose tissue and plasma lipid of 20 Massachusetts Vietnam veterans. Chemosphere. 1990;20:951–958. 15. Schecter AJ, McGee H, Stanley J, et al. Dioxin, diben- zofuran, and PCB levels in the blood of Vietnam veterans in the Michigan Agent Orange Study. Chemosphere. 1992;25:205–208. 16. Olie, K, Vermeulen PL, Hutzinger O. Chlorodibenzo-pdioxins and chlorodibenzofurans are trace components of fly ash and flue gas of some municipal incinerators in the Netherlands. Chemosphere. 1977;6:445– 459. 17. Schecter AJ, Malkin R, Pa¨pke O, Ball M, Brandt-Rauf PW. Dioxin levels in blood of municipal incinerator workers. Med Sci Res. 1991;19:331–332. 18. Schecter AJ, Jiang K, Papke O, Furst P, Furst C. Comparison of dibenzodioxin levels in blood and milk in agricultural workers and others following pentachlorophenol exposure in China. Chemosphere. 1994;29:2371–2380. 19. Masuda, Y. The Yusho rice oil poisoning incident. In: Schecter AJ, Gasiewicz T, eds. Dioxins and Health. 2nd ed. Hoboken, NJ: John Wiley and Sons; 2003: 855– 891. 20. Guo YL, Yu M, Hsu C. The Yucheng rice oil poisoning incident. In: Schecter AJ, Gasiewicz T, eds. Dioxins and Health,. 2nd ed. Hoboken, NJ: John Wiley and Sons; 2003:893–919. 21. Schecter AJ, Startin J, Wright C, Pa¨pke O, Ball M, Lis A. Concentrations of polychlorinated dibenzo-p-dioxins and dibenzofurans in human placental and fetal tissues from the U.S. and in placentas from Yu-Cheng exposed mothers. Chemosphere. 1996;32:551–557. 22. Westing A. Herbicides in war: past and present. In: Westing A, ed. Herbicides in War. London: Stockholm International Peace Research Institute; 1984:3–22. 23. Institute of Medicine. Veterans and Agent Orange: Update 2002. Washington, DC: National Assembly Press; 2002. 24. Schecter AJ, Kooke R, Serne P, et al. Chlorinated dioxin and dibenzofuran levels in food samples collected between 1985–87 in the North and South of Vietnam. Chemosphere. 1989;18:627– 634. 25. Olie K, Schecter AJ, Constable JD, et al. Chlorinated dioxin and dibenzofuran levels in food and wildlife samples in the North and South of Vietnam. Chemosphere. 1989;19:493– 496. 26. Schecter AJ, Tong HY, Monson SJ, Gross ML. Levels of 2,3,7,8-TCDD in silt samples collected between 1985– 1986 from rivers in the north and south of Vietnam. Chemosphere. 1989;19:547– 550. 27. Schecter AJ, Eitzer BD, Hites RA. Chlorinated dioxin and dibenzofuran levels in sediments collected from rivers in Vietnam, 1984–6. Chemosphere;. 1989;18: 831– 834. 28. Startin JR, Rose MD. Dioxins and Dioxinlike PCBs in Food. In: Schecter A, Gasiewicz T, eds. Dioxins and Health. 2nd ed. Hoboken, NJ: John Wiley and Sons; 2003:89 – 136. 29. Travis CC, Hattemer-Frey H. Human exposure to 2,3,7,8- TCDD. Chemosphere. 1987;16:2331–2342. 30. US EPA. National Center for Environmental Assessment. Dioxin and related compounds. 2003. Available at: http:// cfpub.epa.gov/ncea/cfm/recordisplay. cfm?deid55264&CFI D10626599& CFTOK EN. 30813280. Accessed March 10, 2004. 31. World Health Organization. Polychlorinated Dibenzopara-Dioxins. In: IARC Monographs on the Evaluation of Carcinogenic Risks to Humans. 1997;69:33– 136. 32. Gilman A, Newhook R, Birmingham B. An updated assessment of the exposure of Canadians to dioxins and furans. Chemosphere. 1991;23:1661–1667. 33. Schecter AJ, Dai LC, Papke O, et al. Recent dioxin contamination from Agent Orange in residents of a southern Vietnam city. J Occup Environ Med. 2001; 43:435– 443. 34. Schecter AJ, Pavuk M, Constable JD, et al. A follow-up: high level of dioxin contamination in Vietnamese from Agent Orange, three decades after the end of spraying [Letter]. J Occup Environ Med. 2002;44:218–220. 35. Erickson, Mitchell. Analytical Chemistry of PCBs. 2nd ed. Boca Raton, FL: Lewis Publishers; 1997: 17–96. 36. Buser HR. Formation, occurrence and analysis of polychlorinated dibenzofurans, dioxins, and related compounds. Environ Health Perspect. 1985;60:259 – 267. 37. Schecter AJ, Tiernan T. Occupational exposure to polychlorinated dioxins, polychlorinated furans, polychlorinated biphenyls and biphenylenes after an elec-Letters to the Editor trical panel and transformer accident in an office building in Binghamton, NY. Environ Health Perspect. 1985;60:305– 313. 38. Schecter AJ, Furst P, Kruger C, et al. Levels of polychlorinated dibenzofurans, dibenzodioxins, PCBs, DDT, and DDE, hexachlorobenzene, dieldrin, hexachlorocyclohexanes and oxychlordane in human breast milk from the United States, Thailand, Vietnam, and Germany. Chemosphere. 1989;18:445,454. 39. Schecter AJ, Tionolo P, Dai LC, et al. Blood levels of DDT and breast cancer risk among women living in the North of Vietnam. Archiv Environ Contam Toxicol. 1997;334:453– 456. 40. Schecter AJ, Quynh HT, Pavuk M, et al. New findings of dioxins, dibenzofurans, PCBs, DDT/DDE, HCB, and HCH in food from a Vietnam TCDD contaminated area and a comparison area. Organohalogen Compounds. 2003;64:231– 234. 41. Nhan DD, Am NM, Carvalho FP, Villeneuve JP, Cattini C. Organochlorine pesticides and PCBs along the coast of north Vietnam. Sci Total Environ. 1999;237/238:363–371. 42. Thao VD, Kawano M, Matsuda M, et al. Chlorinated hydrocarbon insecticide and polychlorinated biphenyl residues in soils from southern provinces of Vietnam. Int J Environ Anal Chem. 1993;50:147–159. 43. Kannan K, Tanabe S, Quynh HT, et al. Residue pattern and dietary intake of persistent organochlorine compounds in foodstuffs from Vietnam. Arch Environ Contamination Toxicol. 992;22:367– 374. 44. Pavuk M, Schecter A, Akhtar F, Michalek J. Serum TCDD levels and thyroid system effects in the US Air Force veterans. Ann Epidemiol. 2003;13: 335–343. 45. Longnecker MP, Michalek JE. Serum dioxin level in relation to diabetes mellitus among Air Force veterans with background levels of exposure. Epidemiology. 2000;11:44– 48. 46. Henriksen GL, Ketchum NS, Michalek JE, Swaby JA. Serum dioxin and diabetes mellitus in veterans of Operation Ranch Hand. Epidemiology. 1997;8:252–258. 47. US Department of Health and Human Services. National Toxicology Program. Report on Carcinogens. 9th ed. revision. 2001. Durham, NC: US Department of Health and Human Services. DOI: 10.1097/01.jom.0000126019.40396.0c