Con đường GS Nguyễn Ngọc Huy, Anh Ba đi
Phần II – Phản
bác trực diện trước Cộng sản Bắc Việt
Trong tranh luận, điều đáng chú ý là GS Nguyễn Ngọc Huy ít sử dụng ngôn ngữ tuyên truyền một chiều hay hằn học, hay tỏ ỳ mất bình tĩnh, hay nóng giận. Ông luôn viện dẫn luật quốc tế, luật đối chiếu, phân tích hiến pháp, sử dụng khoa học chánh trị trong lý luận, so sánh kinh nghiệm các nước Tây phương và đang phát triển thành công trong tranh đấu dành lại độc lập, tự chủ. Đặc điểm của Ông là tránh công kích cá nhân.
Điều
này khiến nhiều học giả phương Tây đánh giá ông như một nhà nghiên cứu hơn là
một nhà tuyên truyền và vận động chánh trị.
1- Về tính chính
danh của Việt Nam Cộng Hòa
Trước
hết, cần phân tích lập luận của CSBV, Hà Nội luôn luôn và lúc nào cũng tuyên
bố:”Chỉ có một nước Việt Nam”, và Việt Nam Cộng
Hòa là một "chính quyền tay sai" do Hoa Kỳ dựng lên nên không có tư
cách pháp nhân độc lập.
Vì
vậy, GS Nguyễn Ngọc Huy phản biện lại rằng, Ông phân biệt tách bạnh giữa khái niệm quốc gia - nation và nhà nước -state. Theo Ông:
- Dân tộc Việt Nam chỉ có một và
một mà thôi.
- Nhưng sau Hiệp định Genève năm
1954 đã tồn tại hai chính quyền với hai hệ thống pháp luật, hành chánh,
quân đội và mối quan hệ ngoại giao khác nhau được quốc tế công nhận.
- Vì vậy, trên thực tế quốc tế đã
tồn tại hai thực thể nhà nước: VNCH có liên lạc ngoại giao cấp Đại sứ với
gần 40 quốc gia trên thế giới, còn CSBV, tức Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa chỉ
có các nước trong khồi cộng sản và trong thế giới Tây phương, chỉ có Thụy
Điển là quốc gia duy nhứt công nhận họ mà thôi.
Ông cương quyết đối đầu và phản bác
CSBV rằng, việc phủ nhận hoàn toàn sự hiện hữu và tồn tại của Việt Nam Cộng Hòa
là không phù hợp với thực tế và luật pháp quốc tế thời bấy giờ.
2- Về Hiệp định
Genève 1954
CSBV
Hà Nội đưa ra lập luận, Hiệp định Genève chỉ tạm chia đôi đất nước qua vĩ tuyến
17, vì vậy mọi hoạt động nhằm thống nhất đều hợp pháp.
GS Huy
phản bác lại, Hiệp định Genève không phải là hiệp định thống nhất đất nước,
đường ranh giới tuyến quân sự tại vĩ tuyến 17 chỉ mang tính tạm thời, và, rốt
ráo hơn nữa, Hiệp định không cho phép một bên nào đó sử dụng vũ lực để thống
nhất dất nước. Ông căn cứ vào Điều 3 của Chương 2 là:” Điều 3 - Các bên cam kết giữ vững ngừng
bắn, bảo đảm hoà bình lâu dài và vững chắc.
Bắt đầu từ khi ngừng bắn:
a) Các lực lượng của Hoa kỳ và của các nước ngoài khác đồng minh của Hoa kỳ và của Việt Nam cộng hoà sẽ ở nguyên vị trí của mình trong lúc chờ đợi thực hiện kế hoạch rút quân. Ban liên hợp quân sự bốn bên nói trong điều 16 sẽ quy định những thể thức.
b) Các lực lượng vũ trang
của hai bên miền Nam Việt Nam sẽ ở nguyên vị trí của mình. Ban Liên
hợp quân sự hai bên nói trong điều 17 sẽ quy định vùng do mỗi bên kiểm soát và
những thể thức trú quân.
c) Các lực lượng chính quy
thuộc mọi quân chủng và binh chủng và các lực lượng không chính quy của các bên
ở miền Nam Việt Nam phải ngừng mọi hoạt động tấn công nhau và triệt
để tuân theo những điều quy định sau đây:
- Ngăn cấm mọi hoạt động vũ
lực trên bộ, trên không và trên biển;
- Ngăn cấm mọi hành động
đối địch, khủng bố và trả thù của cả hai bên.” Đẻ phản biện lại mọi tấn
công quân sự và xâm nhập vũ khí vào Nam của CSBV sau ngày 27/1/1973. Lịch sử
được giải mã cho thấy, chính Lê Duẫn đã có mặt ở căn cứ Vàm Nao nhiều năn trước
1975!
Và theo ông,
việc thống nhất nếu có, phải dựa trên việc tổ chức bầu cử tự do dưới sự giám
sát của Liên Hiệp Quốc, có sự đồng thuận của người dân hai miền, không sử dụng
chiến tranh quân sự để dành thắng lợi.
Đây
chính là điểm ông thường nhấn mạnh trong các bài nghiên cứu.
3- Về Mặt trận
Dân tộc Giải phóng miền Nam
CSBV
Hà Nội khẳng quyết, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam là phong trào
nổi dậy tự phát của nhân dân miền Nam.
GS
Nguyễn Ngọc Huy phản bác lại:
- Mặt trận không hoàn toàn độc
lập. mà do sự dàn dựng của CSBV;
- Các vị trí lãnh đạo như Nguyễn
Hữu Thọ, Trịnh Đình Thào, Dương Quỳnh Hoa v.v…chỉ là những trí thức bù
nhìn được Hà Nội dựng lên. Lãnh đạo quân sự và hậu cần đều hoàn toàn chịu
ảnh hưởng từ Hà Nội;
- Đường mòn Hồ Chí Minh là bằng
chứng rõ rệt cho thấy có sự trực tiếp điều khiển và tiếp vận quy mô từ
miền Bắc.
Theo Ông,
vì vậy không thể xem đây chỉ là một cuộc nội chiến Bắc – Nam thuần túy, mà là
một cuộc chiến ý thức hệ giữa khối cộng sản và tự do.
4- Về Quyền
dân tộc tự quyết và Chiến tranh cách mạng
Đây
có lẽ là luận điểm quan trọng nhất của GS Nguyễn Ngọc Huy. Ông luôn lập luận,
nếu Hà Nội khẳng quyết mọi người dân ở Việt Nam có quyền tự quyết thì, thì dân chúng ở miền Nam cũng có quyền quyết định tương lai chính trị của
mình vậy. Theo Ông, không thể vừa viện dẫn nguyên tắc tự quyết dân
tộc vừa phủ nhận quyền lựa chọn của 17 triệu người đang sống tại miền Nam được.
Về chiến tranh cách mạng, CSBV Hà Nội coi chiến tranh vũ trang là chiến tranh giải phóng dân tộc, cứu nước, và chống xâm lược Mỹ.
GS
Nguyễn Ngọc Huy cho rằng, chiến tranh sau năm 1965 không còn đơn thuần là cuộc
nổi dậy trong nước mà đã trở thành cuộc chiến quy mô lớn với sự tham gia trực
tiếp của quân đội miền Bắc, Hoa Kỳ, và các đồng minh của cả hai phía. Khối cộng
sản quốc tế gồm Liên Sô và 15 quốc gia trong khối như Hung, Tiệp, Đông Đức,
v.v…, với Cu Ba, Bắc Hàn v.v… và nhứt là Trung Cộng với sự hiện diện của trên
340 ngàn lính Tàu (sau khi được giải mã gần đây). Theo Ông, điều này làm thay
đổi bản chất pháp lý và chính trị của cuộc chiến.
5- Về mô hình
chính trị
Một
phản biện ít được ai nhắc đến của GS Nguyễn Ngọc Huy nhưng khá sâu sắc. Đó là
Ông không chỉ phản bác bằng các vấn đề quân sự, như sự hiện diện của những
người lính trong khối cộng sản trên đất Bắc Kỳ, cũng như các nguồn viện trợ vũ
khí và lương thực cùng quân nhu vô giới hạn. Từ đó, Ông đặt câu hỏi:”Sau khi thống nhất bằng bạo lực thì Việt Nam sẽ xây
dựng một xã hội như thế nào?
Ông
cho rằng, chế độ độc đảng sẽ dẫn tới việc kiểm soát quyền lực theo cung cách
trung ương tập quyền và từ đó, đưa đến một thể chế độc tài dảng trị. Thêm nữa,
kinh tế kế hoạch hóa và tập trung sẽ khó tạo động lực phát triển qua chính sách
hợp tác xã. Và sau cùng, việc thiếu vằng giáo dục nhân
bản và tự do sẽ làm trì trệ tiến trình phát triển Việt Nam thời hậu chiến.
Những
lập luận này sau năm 1975 đã được chứng minh, và vẫn được ông tiếp tục phát
triển trong các công trình nghiên cứu về dân chủ và hiến pháp cho đến cuối đời.
6- Suy nghĩ từ
người viết
Từ
góc nhìn ngày nay, chúng ta có thể thấy các phản biện của GS Nguyễn Ngọc Huy có
nhiều điểm mạnh và điểm hạn chế.
Điểm mạnh là
ông đưa ra những lập luận nhất quán về pháp lý quốc tế, quyền tự quyết và thể
chế dân chủ. Nhiều phân tích của ông về nguy cơ tập trung quyền lực và sự cần
thiết của nhà nước pháp quyền vẫn còn giá trị tham khảo.
Điểm hạn chế là
các lập luận của ông xuất phát từ lập trường của Việt Nam Cộng Hòa, nên ít chú
trọng đến các yếu tố mà phía Hà Nội và nhiều nhà sử học khác nhấn mạnh, như mục
tiêu thống nhất đất nước, di sản của chủ nghĩa thực dân và mức độ ủng hộ của
một số người dân miền Nam không đồng ý với chính sách của Đệ I và Đệ II Cộng
Hòa qua cá nhân TT Ngô Đình Diệm và TT Nguyễn Văn Thiệu. Vì vậy, các công trình
của ông cần được đọc song song với các nguồn từ nhiều phía để có cái nhìn toàn
diện hơn.
Nếu
nghiên cứu lịch sử tư tưởng chính trị Việt Nam, GS Nguyễn Ngọc Huy được xem là
một trong những học giả tiêu biểu của dòng tư tưởng quốc gia dân chủ, với nỗ lực xây dựng một nền tảng lý luận cho nhà
nước pháp quyền, đa nguyên và quyền tự quyết trong bối cảnh cuộc đối đầu ý thức
hệ của thời Chiến tranh Lạnh. Thiết nghĩ, một mai khi Đất và Nước không còn
bóng dáng CSBV, nền dân chủ pháp trị sẽ biến cải tương lai Việt Nam thành một
quốc gia tự do và cường thịnh.
Xem tiếp Phần
III – Thời Đệ II Cộng Hòa - Lãnh đạo Đảng Tân Đại Việt
Mai
Thanh Truyết
Tháng
Tưởng niệm GS NNH
Houston
– 1-7-2026