Tuesday, August 25, 2026

 

Chính sách của Hoa Kỳ đối với Việt Nam như thế nào sau khi NQ 23 ra đời...

 

Eyes in the Dark: Vietnam-Era Scopes and the Birth of Night Vision |  Swampfox Optics

 

Được ban hành vào ngày 2 tháng 8 năm 2026, Nghị quyết số 23-NQ/TW của Bộ Chính trị Việt Nam đã định nghĩa lại cộng đồng người Việt ở nước ngoài với quy mô 6,5 triệu người là một "nguồn lực chiến lược quốc gia", thay vì chỉ đơn thuần là nguồn cung cấp kiều hối. Từ góc độ của Hoa Kỳ – bao gồm cả cộng đồng người Mỹ gốc Việt đông đảo – sự chuyển dịch từ trạng thái kết nối thụ động sang hợp tác cùng kiến ​​tạo này được xem là một bước tiếp cận thực tiễn và hướng tới công nghệ cao. Các thay đổi chính và phản ứng từ phía Hoa Kỳ: Vượt ra ngoài phạm vi kiều hối, các nhà quan sát nhận thấy Hà Nội không còn chỉ tìm kiếm hỗ trợ tài chính hay sự giúp đỡ gia đình, mà đang hướng tới việc tiếp cận tài sản trí tuệ, các mạng lưới khoa học tiên tiến và chuyên môn về công nghệ cao (như trí tuệ nhân tạo và bán dẫn). Phản ứng của cộng đồng hải ngoại: Cộng đồng người Mỹ gốc Việt tại Bờ Đông Hoa Kỳ và các khu vực khác đã thảo luận sôi nổi về khuôn khổ chính sách này. Nhiều chuyên gia và kỹ sư coi đây là lời mời gọi đầy thiện chí để tham gia đóng góp, mặc dù các phản ứng rất đa dạng, từ sự hào hứng hợp tác về mặt kỹ thuật cho đến thái độ thận trọng khi đánh giá môi trường pháp lý và môi trường làm việc tại Việt Nam. Thách thức về thể chế: Các nhà phân tích tại Hoa Kỳ chỉ ra rằng để chính sách này thành công, Việt Nam cần vượt qua tư duy chỉ đặt câu hỏi về việc cộng đồng hải ngoại có thể làm gì cho đất nước, thay vào đó cần chủ động cải cách văn hóa làm việc trong nước, tăng cường tính minh bạch và hoàn thiện cơ sở hạ tầng nghiên cứu để thu hút và đáp ứng nhu cầu của nhân tài toàn cầu.

Send feedback

Nếu đặt Nghị quyết 23-NQ/TW ngày 2/8/2026 vào toàn thể mối quan hệ Mỹ–Việt hiện nay, thì Hoa Kỳ sẽ không xem NQ23 như một vấn đề có thể làm đảo ngược chính sách đối với Việt Nam. Nhưng Washington có thể đặc biệt chú ý đến cách NQ23 được triển khai đối với cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ. Điểm quan trọng cần thiết là phải tách chính sách của Hoa Kỳ đối với Việt Nam ra khỏi chính sách của Hoa Kỳ đối với người Việt Nam tại Hoa Kỳ. Cần phải tách bạch hai vấn đề nầy.

1- Chính sách lớn của Mỹ đối với Việt Nam: “Hợp tác chiến lược, nhưng có điều kiện”

Mối liên quan Mỹ–Việt đã được nâng lên hàng Đối tác chiến lược - Comprehensive Strategic Partnership từ tháng 9/2023. Và trong năm 2026, dấu hiệu hợp tác vẫn thể hiện rất rõ là Hoa Kỳ tiếp tục coi trọng mối quan hệ với Việt Nam, trong khi hợp tác quốc phòng cũng đang tiến triển; chuyến thăm Đà Nẵng của hàng không mẫu hạm USS George Washington cuối tháng 7 là một dấu hiệu rất đáng chú ý. Nhưng chính quyền Trump hiện nay đặt nặng hơn nhiều vào việc thương mại công bằng và có tính giao hoán (reciprocity), chống hàng hóa chuyển tải qua Việt Nam từ một quốc gia thứ ba để né tránh thuế quan Mỹ, vẫn xem Việt Nam nằm trong chuỗi cung ứng quốc gia, xem trọng vấn đề an ninh kinh tế, quan sát chặt chẽ những mánh khóe của Trung Cộng, và đặt nặng vấn đề quốc phòng và trục Indo-Pacific.

Chẳng hạn, Washington đang gây sức ép với Việt Nam về vấn đề trans-shipment và gian lận xuất xứ. Và Hà Nội cũng đã tuyên bố sẽ đối thoại và giải quyết vấn đề này trong khuôn khổ quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện. Nói cách khác: NQ23 không phải là trung tâm của chính sách Mỹ đối với Việt Nam.

2- Mối quan ngại của Hoa Kỳ về NQ23

Đó là 6,5 triệu người Việt Nam ở nước ngoài, trong đó cộng đồng người Việt ở Mỹ chiếm hơn 50%. NQ23 đã thay đổi đáng kể cách Việt Nam nhìn cộng đồng người Việt hải ngoại, không chỉ là đối tượng cần vận động về quê hương, mà được đặt cộng đồng vào vị trí một nguồn lực chiến lược cho phát triển và vị thế quốc gia. Các tài liệu công bố sau NQ23 cũng nhấn mạnh việc huy động nguồn lực của cộng đồng này.

Washington sẽ không phản ứng với NQ23 chỉ vì NQ23 muốn gần gũi người Việt hải ngoại. Điều đó hoàn toàn bình thường. Nhưng Washington sẽ quan tâm nếu việc “kết nối” ấy chuyển thành tác động, gây áp lực hoặc kiểm soát chính trị đối với những người đang sinh sống tại Hoa Kỳ.

Đây có thể được xem là một đường ranh giới rất quan trọng trong mối bang giao Việt – Mỹ, và Mỹ có thể nhìn NQ23 theo ba hướng khác nhau:

·       “Gắn kết cộng đồng hải ngoại - Diaspora engagement”: Nếu Việt Nam nói người Việt ở nước ngoài là người Việt Nam hãy đầu tư, chuyển giao kỹ thuật, về thăm quê, đóng góp khoa học, giáo dục, kinh tế...thì Hoa Kỳ không có lý do gì để phản đối. Thậm chí Washington có thể coi đây là hoạt động bình thường của một quốc gia đối với cộng đồng kiều dân của mình.

·       “Ảnh hường xuyên quốc gia - Transnational influence”: Nếu các cơ quan Việt Nam tìm cách gây ảnh hưởng tới sinh hoạt chính trị của người Việt tại Mỹ, vận động các tổ chức người Việt theo định hướng có chũ đích của Hà Nội, gây áp lực lên những người có quan điểm bất đồng, và sử dụng các tổ chức, cá nhân trung gian để tác động chính trị v.v… thì vấn đề trở nên khác. Lúc đó Hoa Kỳ không còn nhìn đây đơn thuần là một “chính sách riêng rẻ đối với kiều bào” nữa. Nó có thể trở thành vấn đề “ảnh hưởng từ nước ngoài /sự đàn áp xuyên quốc gia -  foreign influence / transnational repression”. Và đây mới là chỗ NQ23 cần được theo dõi kỹ.

·       “Nếu có hành động cưỡng ép trên lãnh thổ Mỹ”: Đây là mức độ nghiêm trọng nhất trong quan hệ ngoại giao giữa hai quốc gia. Nếu các hành động trên xảy ra trên đất Mỹ những hành động đối với người Việt như sau: đe dọa, theo dõi, cưỡng ép, trả đũa người bất đồng chính kiến đang ở Mỹ, hoặc sử dụng người hoặc tổ chức tại Mỹ để gây áp lực. Lúc đó, Hoa Kỳ sẽ phản ứng theo luật pháp Hoa Kỳ, chứ không căn cứ vào việc Việt Nam gọi đó là “công tác người Việt Nam ở nước ngoài”. Đây cũng chính là một điểm cần nhấn mạnh là NQ23 tự thân không phải là “khủng bố”, nhưng một số phương thức thực thi ngoài lãnh thổ nếu xảy ra có thể trở thành vấn đề an ninh/pháp luật của Hoa Kỳ.


NQ23 có thể vừa có lợi cho Việt Nam, vừa làm Washington chú ý hơn đến Việt Nam. Bởi vì, nếu NQ23 càng thành công trong việc huy động cộng đồng Việt ở Mỹ thì giá trị chiến lược của cộng đồng này càng lớn, càng làm cho  Washington càng quan tâm đến việc Việt Nam tương tác với cộng đồng đó như thế nào. Đây không nhất thiết là một đối đầu, mà có thể chỉ là sự giám sát bình thường của một quốc gia đối với kiều bào của mình mà thôi.

Từ những nhận xét ở phần trên về NQ23, thiết nghĩ, không nên đặt câu hỏi theo hướng “Mỹ sẽ chống NQ23 hay không?” Câu hỏi chính xác hơn cần phải đặt là:“NQ23 sẽ được Hoa Kỳ đánh giá như thế nào khi nó được khai triển trong cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ?” Và câu trả lời hiện nay là:”Washington sẽ tiếp tục hợp tác rất mạnh với Hà Nội về kinh tế, thương mại, chuỗi cung ứng, quốc phòng và chiến lược Indo-Pacific; đồng thời sẽ không bỏ qua vấn đề nhân quyền, pháp quyền và bất kỳ dấu hiệu can thiệp hoặc cưỡng ép xuyên quốc gia nào.” Đó là một chính sách “hợp tác – cạnh tranh – kiểm soát -  “cooperate + compete + monitor”, chứ không phải “đối đầu với Việt Nam”.

Và sau cùng, NQ23 có thể tạo ra một không gian mới cho thế hệ trẻ người Việt ở Mỹ, nếu Hà Nội thực sự muốn (cộng thêm sự thành tâm) thu hút trí thức, khoa học gia, doanh nhân, chuyên gia trẻ và thế hệ người Việt sinh ra ở nước ngoài, thì đây là một hướng tích cực. Còn nếu mục tiêu sâu xa lại là đưa cộng đồng người Việt hải ngoại trở lại dưới sự kiểm soát chính trị của Nhà nước Việt Nam, thì đó sẽ là một câu chuyện hoàn toàn khác. Và chính thế hệ trẻ Việt - Mỹ sẽ nhận thức được đâu là sự thành tâm, và đâu là một âm mưu của Việt Nam đưa họ vào…rọ!

3- Trường hợp Trịnh Xuân Thanh  

Xin nói ngay, NQ23 không làm Hoa Kỳ thay đổi căn bản chính sách đối với Việt Nam, nhưng NQ23 có thể làm Washington quan tâm hơn đến ảnh hưởng của Việt Nam đối với cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ. Và rằng đây chính là chỗ NQ23 “mới” hơn NQ36 năm 2004. NQ23 càng mở rộng và tỏ ý thiện chí hơn với người Việt hải ngoại thì càng ít có lý do để Mỹ lo ngại. Ngược lại, nếu việc thực thi đi theo hướng kiểm soát, gây áp lực hay can thiệp vào đời sống chính trị của người Việt tại Mỹ, thì vấn đề sẽ không còn là NQ23 nữa, mà trở thành vấn đề pháp luật và an ninh của Hoa Kỳ. Đó cũng là lý do người viết vẫn giữ nguyên nhận định trước đây là không cần “đánh” NQ23 tới tấp tưng bừng hoa lá, vì NQ23 chỉ ra đời mới ba tuần lễ, thiết nghĩ chúng ta cần nên quan sát cách NQ23 được thực thi thêm một thời gian nữa. Chính thực tiễn thực mới quyết định lịch sử sẽ đánh giá NQ23 như thế nào.

Trường hợp Trịnh Xuân Thanh ở Đức là một ví dụ rất rõ về ranh giới giữa “chính sách đối với kiều dân” và “hành động cưỡng chế xuyên quốc gia”. Xin nhắc lại vụ TXT:”Vụ Trịnh Xuân Thanh xảy ra tại Berlin vào tháng 7/2017. Bộ Ngoại giao Đức khi đó tuyên bố việc bắt cóc trên lãnh thổ Đức là một vi phạm trắng trợn luật Đức và luật quốc tế; Đức yêu cầu Việt Nam xin lỗi và bảo đảm không tái diễn.”

Nếu giả sử NQ23 bị biến thành một công cụ đe dọa ở Mỹ, qua những hành động liệt kê dưới đây:

·       Đe dọa người Việt đang sống ở Mỹ;

  • Theo dõi hoặc quấy nhiễu những người bất đồng chính kiến;
  • Ép buộc họ phải im tiếng;
  • Đe dọa thân nhân của họ ở Việt Nam;
  • Sử dụng người trung gian tại Mỹ để gây áp lực;
  • Hoặc nghiêm trọng nhất, tổ chức bắt cóc, hành hung hay cưỡng ép đưa một người từ Mỹ về Việt Nam.

Hoa Kỳ sẽ không còn xem đó đơn thuần là “thực hiện NQ23” nữa. Nó sẽ được đặt vào một phạm trù pháp lý và an ninh khác: transnational repression- TNR- đàn áp xuyên quốc gia. (Xin mời đọc các bài viết trước về vấn đề nầy của cùng tác giả trên FB). FBI hiện định nghĩa TNR chính là việc một chính phủ nước ngoài vượt qua biên giới để đe dọa, bịt tiếng nói, cưỡng ép, quấy rối hoặc gây hại cho người trong cộng đồng diaspora/exile tại Hoa Kỳ. FBI cũng nói rõ những hành vi này có thể vi phạm luật liên bang Hoa Kỳ.

Và điều đáng chú ý là FBI còn liệt kê “âm mưu bắt cóc - attempted kidnapping” như một hình thức đàn áp xuyên quốc gia. Khi đó phản ứng của Hoa Kỳ sẽ khác Đức năm 2017 ở một điểm rất quan trọng là Đức phản ứng mạnh vì một chủ quyền quốc gia bị xâm phạm trên lãnh thổ Đức. Hoa Kỳ cũng sẽ nhìn như vậy, nhưng nếu xảy ra tại Mỹ, vấn đề còn có thêm một biện pháp mạnh nữa là …nạn nhân đang được pháp luật và Hiến pháp Hoa Kỳ bảo vệ.

Một người Việt có thể là công dân Mỹ, thường trú nhân, hoặc thậm chí chỉ là người đang cư trú hợp pháp tại Mỹ. Họ vẫn ở dưới quyền tài phán của Hoa Kỳ khi ở trên lãnh thổ Mỹ. Vì vậy, nếu một cơ quan hoặc cá nhân hoạt động thay mặt cho chính phủ nước ngoài tổ chức bắt cóc người đó trên đất Mỹ, Washington sẽ không nói đó là chuyện nội bộ của Việt Nam, mà ngược lại, đây có thể trở thành vấn đề trực tiếp của FBI, Bộ Tư pháp và cơ quan an ninh quốc gia Hoa Kỳ. FBI hiện nói rất rõ rằng TNR đe dọa chủ quyền của Hoa Kỳ và các quyền tự do của người dân, và đôi khi vi phạm  cả luật liên bang.

Từ đó, phản ứng của Mỹ sẽ diễn ra theo nhiều giai đoạn, không nhất thiết ngay lập tức là “trừng phạt Việt Nam”. Đây là điều rất quan trọng.

·       Giai đoạn thứ nhứt: Nếu có một vụ việc cụ thể như VN bắt cóc một người Việt trên đất Mỹ chẳng hạn, FBI có thể điều tra: - Ai làm - Ai điều khiển - Tiền từ đâu - Có liên quan đến cơ quan chính phủ Việt Nam không - Có người Việt Nam tại Mỹ làm trung gian không? V.v… Đây là giai đoạn xác lập chứng cứ.

·       Giai đọan thứ hai: Nếu có đủ bằng chứng, Mỹ có thể truy tố những người trực tiếp tham gia. Đây là điểm khác căn bản với việc chỉ lên tiếng ngoại giao. Nếu, một người Việt ở Mỹ nhận chỉ thị từ một chính phủ nước ngoài để đe dọa hoặc cưỡng ép một người khác không thể tự bảo vệ mình bằng câu:“Tôi chỉ thi hành Nghị quyết 23”, vì nghị quyết của một quốc gia không miễn trừ cho một cá nhân khỏi luật hình sự Hoa Kỳ.

·       Giai đoạn thứ ba: Đây mới là vấn đề ngoại giao. Nếu điều tra cho thấy có sự điều khiển hoặc tham gia của cơ quan nhà nước Việt Nam, câu chuyện sẽ lớn hơn rất nhiều. Washington có thể, triệu tập hoặc phản đối ngoại giao, yêu cầu Việt Nam giải thích, yêu cầu chấm dứt hoạt động, hành động quyết liệt như trục xuất cá nhân, hay khai báo “người không còn ưu đãi - persona non grata” đối với nhân viên ngoại giao trong trường hợp thích hợp, ạn chế hoặc thay đổi hợp tác trong một số lĩnh vực ngoại giao hay thương mại, và tùy theo mức độ nặng hay nhẹ, quan trọng hay không, Mỹ sẽ áp dụng những biện pháp pháp lý hoặc chính sách thích ứng tùy trường hợp.

4- Khi nào NQ23 trở thành “đàn áp xuyên quốc gia - TNR ”

Giả sử trong tương lai có một chuỗi sự kiện đến từ việc sử dụng NQ23, như việc Việt Nam xác định một số người Việt hải ngoại là “đối tượng cần xử lý”, các cơ quan hoặc tổ chức liên quan với những người này … đe dọa, theo dõi, gây áp lực v.v… và người đó bị hành hung hoặc bị bắt cóc tại Mỹ. Khi đó, NQ23 không còn được nhìn như một nghị quyết về người Việt hải ngoại nữa. Nó sẽ trở thành bằng chứng cần xem xét để xác định mục đích, chính sách hoặc động cơ của những người thực hiện hành vi trên. Đây là “lằn ranh đỏ” mà Hà Nội cần phải hiểu

Có thể nói rất ngắn gọn, Việt Nam có quyền vận động người Việt ở nước ngoài yêu nước, đầu tư, về nước, hợp tác khoa học, đóng góp cho quê hương; nhưng, Việt Nam không có quyền dùng chính sách qua NQ23 đó để cưỡng ép một người đang sống tại Hoa Kỳ phải tuân theo ý chí chính trị của Hà Nội. Và lại càng không thể dùng nó để biện minh cho hành động phạm pháp trên lãnh thổ Hoa Kỳ.

FBI hiện có hẳn một chương trình về Đàn áp xuyên quốc gia – TNR. FBI nói rằng các chính phủ nước ngoài có thể nhắm tới những người bất đồng chính kiến, nhà báo, nhà hoạt động nhân quyền, đối thủ chính trị và những thành phần khác trong các cộng đồng hải ngoại – diaspora, nhưng, đặc biệt, như FBI Dallas mới tháng 4/2026 còn công khai cảnh báo rằng TNR là khi một quốc gia nước ngoài hoặc người làm việc cho quốc gia đó vượt biên giới để đe dọa, bịt miệng, cưỡng ép, quấy rối hoặc gây hại - intimidate, silence, coerce, harass, or harm cộng đồng tị nạn tại Mỹ.

Như vậy, rõ ràng là không cần phải chờ đến một vụ “Trịnh Xuân Thanh thứ hai” thì Washington mới quan tâm. Thêm nữa, những hành động nhỏ hơn cũng có thể được ghi nhận, điều tra và tích lũy thành một bức tranh lớn hơn.

Tóm lại, NQ23 có thể được chia làm hai loại dưới mắt người Mỹ:

·       Người Việt ở nước ngoài là một bộ phận của dân tộc, hãy trở về, hợp tác, đầu tư, đóng góp trí tuệ. Nếu thực hiện như vậy, Mỹ gần như không có lý do để phản đối.

·       Người Việt ở nước ngoài phải chịu ảnh hưởng hay điều khiển chính trị từ Việt Nam; người chống đối sẽ bị theo dõi, đe dọa hoặc xử lý. Nếu đi theo hướng này, thì đó là một câu chuyện hoàn toàn khác. Và nếu vượt đến lãnh thổ Mỹ thì nó có thể chuyển từ cách thẩm định NQ23 như là một chính sách đối với cộng đồng người Việt ở nước ngoài chịu ảnh hưởng từ Việt Nam qua sự đàn áp xuyên quốc gia ảnh hưởng lên  vấn đề an ninh quốc gia và việc thực thi pháp luật của Hoa Kỳ. Xin nhắc lại một lần nữa là FBI đã xác định TNR là một vấn đề có thể ảnh hưởng đến chủ quyền Hoa Kỳ và có thể vi phạm luật liên bang.

5- Suy nghĩ riêng của người viết

Không nên đánh giá NQ23 bằng những gì người ta nghi ngờ hay sợ nó có thể làm; phải đánh giá NQ23 bằng hành động thực tế của Nhà nước Việt Nam đối với người Việt hải ngoại trong những ngày sắp đến.


Nếu NQ23 được sử dụng để đe dọa, cưỡng ép hoặc đàn áp người Việt trên đất Mỹ, thì chính cách thực thi đó có thể biến NQ23 từ một chính sách đối ngoại/kiều bào thành một vấn đề an ninh và pháp luật của Hoa Kỳ. Và nếu đi đến mức bắt cóc, hành hung hoặc tổ chức hành động cưỡng chế trên đất Mỹ, thì bài học Trịnh Xuân Thanh ở Đức năm 2017 cho thấy đây có thể trở thành một cuộc khủng hoảng ngoại giao nghiêm trọng, đồng thời kéo theo điều tra và xử lý theo pháp luật Hoa Kỳ.

Hoa Kỳ sẽ không phán xét NQ23 qua lời văn của Nghị quyết, mà qua hành động của Việt Nam đối với người Việt hải ngoại. NQ23 có thể là một cây cầu Việt–Mỹ nếu được thực thi bằng hòa giải và thiện chí; nhưng nếu trở thành công cụ đàn áp xuyên quốc gia, chính NQ23 có thể trở thành nguồn gây căng thẳng nghiêm trọng giữa Hà Nội và Washington.

Thời gian và thực tế sẽ trả lời.

“Đừng chỉ nhìn NQ23 qua văn bản; hãy nhìn NQ23 qua hành động.”

Mai Thanh Truyết

Con đường Việt Nam

New Jersey – 19-8-2026

No comments:

Post a Comment