Nghị quyết
25-NQ/TW về Chiến lược công tác tư tưởng
Nghị quyết
25-NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị về “Chiến lược công
tác tư tưởng trong bối cảnh mới” là
một văn kiện rất đáng chú ý, nhất là nếu đặt nó bên cạnh những nghị quyết mà
chúng ta đã từng trao đổi trước đây về người Việt Nam ở nước ngoài và Nghị
quyết 23.
Toàn văn Nghị quyết
25-NQ/TW trên Cổng Thông tin điện tử Chính phủ
1-
Tóm tắt nội dung
Nghị quyết 25
Nghị
quyết 25 bao gồm bốn chương chính yếu: Quan điểm chỉ đạo – Mục tiêu – Nhiệm vụ
và Giải pháp chủ yếu – Tổ chức thực hiện. Nói về mục tiêu cụ thể đến năm 2030 có thể tóm tắt dưới đây:
(1) Tư tưởng, đạo đức,
phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh được thực hành thường xuyên, thấm sâu vào
đời sống xã hội, trở thành văn hoá trong ứng xử và hành động của cán bộ, đảng
viên và Nhân dân;
(2) Nền tảng tư tưởng của
Đảng được bảo vệ vững chắc; suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống,
"tự diễn biến", "tự chuyển hoá" bị ngăn chặn, đẩy lùi; an
ninh tư tưởng được bảo đảm;
(3) Niềm tin của Nhân
dân được củng cố vững chắc, đồng thuận xã hội được tạo lập thực chất;
(4) Công tác tư tưởng
tiến hành đồng bộ, hiệu quả trên cả không gian thực và không gian số, ở trong
nước và ngoài nước(5) Đội ngũ cán bộ làm công tác tư tưởng có đủ phẩm chất,
năng lực; hệ thống dữ liệu, công nghệ và hạ tầng được hoàn thiện đồng bộ, hiện
đại;
(5) Tầm nhìn đến năm
2045 và xa hơn: Công tác tư tưởng trở thành năng lực nội
sinh của Đảng và của cả dân tộc, chủ động định hình nhận thức xã hội, vững vàng
trước mọi biến động của môi trường thông tin.
Nói
về nhiệm vụ và các giải pháp, NQ tập trung vào các nhiệm vụ dưới đây:
1. Tăng
cường sự lãnh đạo của Đảng; đổi mới phương thức lãnh đạo công tác tư tưởng,
chuyển trọng tâm sang dẫn dắt nhận thức xã hội, củng cố niềm tin của Nhân dân,
tạo đồng thuận xã hội (đột phá)
2. Chuyển
trọng tâm công tác tư tưởng về cơ sở, về từng địa bàn dân cư; kết hợp chặt chẽ
công tác tư tưởng trên không gian thực với không gian số (đột phá)
3. Đẩy
mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh;
đổi mới giáo dục lý luận chính trị; nâng cao chất lượng nghiên cứu, phát triển
lý luận
4. Đổi
mới, nâng cao chất lượng tuyên truyền, quán triệt, triển khai nghị quyết và
truyền thông chính sách; đổi mới nội dung, phương thức công tác tư tưởng
5. Bảo vệ
nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù
địch; bảo đảm an ninh tư tưởng
6. Xây
dựng hệ sinh thái thông tin chính thống, tích cực, nhân văn; phát huy vai trò
chủ thể của Nhân dân; chuẩn mực ứng xử trong xã hội và trên không gian số
7. Đổi
mới, nâng cao hiệu quả công tác tư tưởng đối ngoại và thông tin đối ngoại
8. Bảo đảm
về đội ngũ cán bộ; thể chế, cơ chế, chính sách; dữ liệu, công nghệ, hạ tầng;
công tác kiểm tra, giám sát và đánh giá (đột phá)
2-
Cần tìm hiểu Nghị quyết 25 như thế nào?
Chúng
ta có thể hiểu Nghị quyết 25 về ba khía cạnh khác nhau như hướng dẫn tư
tưởng của đảng – công nghệ “mới” áp dụng– và cung cách quản trị xã hội của đảng.
2.1- Đảng hướng dẫn tư tưởng
Đây không còn chỉ là “tuyên
truyền” theo nghĩa truyền thống mà điểm
mới rất đáng chú ý là Nghị quyết thừa nhận một hạn chế của công tác tư tưởng
trước đây là suy nghĩ về “quản lý thông tin” còn phổ biến và năng lực
dẫn dắt nhận thức xã hội còn hạn chế kể từ NQ36. Vì vậy, NQ25 chủ trương chuyển
trọng tâm từ:“quản lý thông tin” sang “dẫn dắt nhận
thức xã hội, củng cố niềm tin của nhân dân, tạo đồng thuận xã hội.”Đây
là một sự thay đổi quan trọng về ngôn ngữ và suy nghĩ.
Nếu
thực hiện đúng tinh thần tích cực của nó, Đảng cộng sản Việt cần phải: - Công
khai và minh bạch hơn - Giải thích chính sách minh bạch và trong sáng hơn –
Chấp nhận đối thoại với dân – Mạnh dạn tiếp thu phản biện xã hội. Nói cách
khác, thuyết phục phải dần thay thế cho áp
đặt. Chính Nghị quyết cũng nêu phương châm: “Chủ động – Sắc
bén – Thuyết phục – Hiệu quả.” Vẫn còn quá sớm để có kết luận cho sự “cố
gắng” của đảng.
2.2- Nghị quyết 25 mở rộng phạm vi công tác tư tưởng
Theo văn kiện, công tác tư tưởng không chỉ diễn ra trong cơ
quan Đảng hay báo chí, mà phải được triển khai từ Trung ương đến cơ sở; trên không gian thực và không gian số; ở trong nước và ngoài nước. Nghị quyết
còn đặt mục tiêu xây dựng hệ thống dữ liệu, nền tảng số dùng chung, ứng dụng dữ
liệu lớn và trí tuệ nhân tạo, và cơ chế phản ứng trước các “khủng hoảng thông
tin”. Đây là điểm mà người Việt hải ngoại cần đặc biệt chú ý.
Nghị quyết 25 cho thấy công tác tư tưởng đang được
chuyển từ mô hình tuyên truyền truyền thống sang mô hình quản trị nhận thức
trong thời đại kỹ thuật số. Đây chính là một bước chuyển rất lớn, nếu được thực hiện
nghiêm chỉnh.
2.3- Vấn để “Ở trong nước và ngoài
nước”: giao điểm với Nghị quyết 23?
Nếu Nghị quyết 23 liên quan đến chiến lược đối
với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, thì Nghị quyết 25 có thể được
xem như một hệ thống tư tưởng
– truyền thông – tổ chức – công nghệ rộng hơn. Hay nói đơn
giản hơn là NQ23 trả lời phải cần làm gì đối với cộng đồng người Việt ở
nước ngoài? Còn NQ25 có thể cung cấp một phần câu trả lời là làm bằng
phương tiện tư tưởng, truyền thông, dữ liệu, mạng lưới và không gian số như thế
nào?
Đây
là điều đáng suy nghĩ vì Nghị quyết 25 đặt mục tiêu phát triển hệ sinh thái
truyền thông đối ngoại đa nền tảng, đa ngôn ngữ và vận động “mời gọi” cộng đồng
người Việt Nam ở nước ngoài tham gia phổ biến hình ảnh đẹp của quê hương, văn
hóa đặc thù, và thành tựu phát triển của Việt Nam trong những năm gần đầy.
Nhưng,
vấn đề nằm ở chỗ bế tắc hay nút “nghẽn” là ranh giới giữa “vận động, thuyết phục” và “kiểm soát, gây áp
lực” phải được xác định thật rõ
ràng. Nếu vượt qua ranh giới đó, hay biện giải theo chiều hướng
“trung với đảng, hiếu với dân”, thiết nghĩ, thiện chí hòa hợp có thể biến thành
sự nghi ngờ, và chắc chắn không thuyết phục được người Việt hải ngoại.
2.4- Điểm khác biệt nhứt của NQ25 là thừa nhận phải
đối thoại và tiếp thu phản biện.
Tuy đây
là phần đáng khích lệ nhứt, nhưng
người Việt hải ngoại cần phải nghi ngờ! Nghị quyết nói đến việc công khai, minh
bạch thông tin, chấp nhận đồi thoại, tiếp thu phản biện xã hội, tiếp nhận tâm
tư và kiến nghị của người dân, phản hồi và công khai kết quả giải quyết. Nếu
những nguyên tắc này được áp dụng một cách thành thật và xuyên suốt, thì
đây chính là cơ hội lớn cho Việt Nam. Nhưng qua kinh nghiệm 51 năm, người Việt
hải ngoại có quyền nghi ngờ thiện chí của đảng! Bởi vì công tác tư tưởng trong
thế kỷ XXI không thể chỉ là:“Đảng nói – dân nghe.” Chắc chắn người Việt hải
ngoại không chấp nhận điều trên, mà phải là:“Đảng nói – Dân nói – Người Việt
hải ngoại nói - Chúng ta cùng kiểm chứng – Từ đó, tìm ra điều có lợi nhứt cho
quốc gia.”
Đó mới là “thuyết phục” theo nghĩa hiện đại.
2.5- Khái niệm “an ninh tư tưởng” có
thể là “nút nghẽn” chăng?
Nghị
quyết 25 nhấn mạnh đến việc bảo vệ nền tảng tư tưởng, đấu tranh với quan điểm
sai trái, thù địch, ngăn chặn “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, bảo đảm “an ninh tư tưởng”, giám sát kỷ luật phát ngôn, và xây dựng
năng lực cảnh báo sớm trên không gian số.
Câu
hỏi rất căn bản được đặt ra là, ai sẽ định nghĩa thế nào là “quan điểm sai
trái”? Nếu một nhà khoa học phản biện một chính sách sai? Nếu một trí thức
phê bình tham nhũng? Nếu một người Việt hải ngoại không đồng ý với chính sách
của Hà Nội nhưng vẫn yêu nước và muốn Việt Nam phát triển? Nếu tất cả những
tiếng nói đó đều bị xếp chung vào một suy nghĩ “biện chứng” như là một phạm trù
chống phá, thì Nghị quyết sẽ tự mâu thuẫn với chính mục tiêu “thuyết phục”
và “đối thoại” của mình.
Đây
chính là phép thử lớn nhất của NQ25.
2.6- Nghị quyết 25 có một mâu thuẫn nội tại
Nghị
quyết nói lên hai điều trái ngược cùng một lúc. Một bên là: - Đối thoại – Minh
bạch – Phản biện – Thuyết phục – Lấy niềm tin của nhân dân làm thước đo v.v… Còn một bên là: - Bảo vệ nền tảng tư tưởng – An ninh tư
tưởng – Đấu tranh – Cảnh báo – Xử lý. Hai hướng
này, trên thực tế, tuy không nhất thiết
mâu thuẫn với nhau, nhưng chỉ có thể cùng tồn tại nếu quyền phản biện được
phân biệt rõ với hoạt động bạo lực, phá hoại hoặc can thiệp bất hợp pháp.
Phản biện không phải
là thù địch.
Bất đồng không phải
là phản quốc.
Khác chính kiến không
đồng nghĩa với chống dân tộc.
Nếu
Việt Nam thực sự muốn bước vào một “kỷ nguyên mới”, đây là nhận thức mà công
tác tư tưởng phải thay đổi trước tiên.
2.7. Nghị quyết 25 có thể quan trọng
hơn nhiều người Việt hải ngoại nghĩ
Nghị
quyết 25 không chỉ nói về thông tin trong nước mà nhấn mạnh hoạt động trên phạm
vi “ở trong nước và ngoài nước.” Do đó, cộng đồng người Việt ở Mỹ, châu
Âu, Úc, Canada… có thể trở thành một phần của không gian truyền thông và tư
tưởng mà Việt Nam muốn tiếp cận, vận động và tác động.
Nhưng ở đây, Hà Nội đứng trước một sự lựa chọn lịch sử. Hoặc, con đường thứ nhất là xem người Việt
hải ngoại chánh yếu như một đối tượng
cần vận động, định hướng và “quản lý’ nhận thức. Hoặc, con đường thứ hai là xem họ là những người Việt tự do, có kinh nghiệm, kiến
thức, quyền suy nghĩ độc lập và có thể đóng góp cho Việt Nam ngay cả khi họ
không đồng ý với mọi chính sách của Nhà nước.
Và, con
đường thứ hai mới có triển vọng tương lai hơn
3-
Quan điểm của người viết
Nghị quyết 25 là một văn kiện cho thấy Việt Nam đang
hiện đại hóa công tác tư tưởng, chuyển mạnh từ mô hình tuyên truyền truyền
thống sang mô hình dẫn dắt nhận thức xã hội bằng truyền thông, dữ liệu và kỹ
nghệ số. Nhưng thành công hay thất bại sẽ
không nằm ở số lượng cán bộ với 100% đồng thuân, hay hệ thống dữ liệu hay công
nghệ AI hoàn chỉnh. Mà sự thành công sẽ nằm
ở một câu hỏi đơn giản:”Đảng và Nhà nước
muốn thuyết phục người dân và người Việt hải ngoại bằng sự thật, đối thoại và
hiệu quả thực tế, hay vẫn muốn họ phải đồng thuận trước rồi mới được lắng nghe
sau?
Nếu
là con đường thứ nhất, NQ25 có thể trở thành một bước tiến. Nếu là con đường
thứ hai, công nghệ càng hiện đại thì sự xa cách giữa chính quyền và những người
bất đồng càng có nguy cơ lớn hơn.
Khi đặt NQ23 và NQ25 cạnh nhau,
chúng ta thấy một bức tranh dung chứa hai lối suy nghĩ khác nhau:
·
NQ23 đặt trọng tâm vào người
Việt Nam ở nước ngoài. Nó xác định cộng đồng hải ngoại là một bộ phận
của dân tộc, là nguồn lực có thể đóng góp cho đất nước, đồng thời là đối tượng
cần được vận động, kết nối và tăng cường quan hệ.
·
NQ25 lại đặt trọng tâm vào cách tác động đến nhận thức, niềm tin và sự
đồng thuận của xã hội trong bối cảnh mới. Các phương tiện không còn chỉ
là báo chí, hội đoàn hay các buổi tuyên truyền truyền thống, mà còn là mạng xã
hội, truyền thông đa nền tảng, dữ liệu AI, phân tích dư luận, và truyền thông
đối ngoại;
Vì vậy, khi đặt hai nghị quyết cạnh nhau, một bên có
thể được xem là xác định phạm vi cộng đồng cần kết nối; bên kia xác định phương
thức tư tưởng, truyền thông trong thời đại kỹ thuật số.
Người Việt
ở nước ngoài không còn chỉ được nhìn bằng lăng kính “chiêu dụ” nữa, dù trong quá khứ, chính sách đối với người Việt hải ngoại thường
được người ta chú ý qua kiều hối, đầu tư, chuyên gia, trí thức. Nhưng trong thế
kỷ XXI, còn có một nguồn lực khác như một trí thức sống tại Mỹ có thể viết một
bài và vài giờ sau người ở Hà Nội đọc được, người ở Sài Gòn tranh luận, sinh
viên Việt Nam chia sẻ, và sau cùng, báo chí nước ngoài trích dẫn. Và, một tiếng
nói cá nhân có thể vượt qua biên giới vật lý.
Đó là
sự thay đổi căn bản. Cho nên, từ góc nhìn chiến lược
của bất kỳ quốc gia nào, cộng đồng hải
ngoại ngày nay vừa là nguồn lực, vừa là một thành tố của không gian thông tin
xuyên quốc gia.
NQ23 + NQ25
tạo ra một thách thức đặc biệt đối với người Việt hải ngoại qua câu hỏi sau
cùng:”“Nhà nước muốn hòa hợp với tôi, hay muốn tôi đồng thuận?” Hòa hợp dân tộc có
nghĩa là anh có thể khác tôi về quan điểm chính trị, nhưng chúng ta vẫn nhìn
nhận nhau là người Việt. Trong khi, đồng
thuận chính trị thường hàm ý là anh muốn thuộc về cộng đồng thì anh phải
chấp nhận một khuôn khổ tư tưởng nhất định của đảng.
NQ23 muốn mở rộng quan hệ với cộng đồng. NQ25 lại
nhấn mạnh việc xây dựng đồng thuận và bảo vệ nền tảng tư tưởng. Hai mục tiêu ấy có thể bổ túc cho nhau. Nhưng cũng có thể
xung đột nhau.
Tất
cả tùy thuộc vào cách thực hiện.
Mai Thanh Truyết
Houston – Tháng
9-2026
Ghi
chú:
Nghị quyết 25-NQ/TW
của Bộ Chính trị về Chiến lược công tác
tư tưởng trong bối cảnh
mới
(Chinhphu.vn) - Thay mặt Bộ Chính trị, Tổng Bí
thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã ký ban hành Nghị quyết của Bộ Chính trị về Chiến
lược công tác tư tưởng trong bối cảnh mới (Nghị quyết số 25-NQ/TW, ngày
22/8/2026).
Sau đây là toàn văn Nghị quyết số 25-NQ/TW:
Công tác tư tưởng là bộ phận đặc biệt quan trọng trong toàn bộ
hoạt động lãnh đạo của Đảng; giữ vai trò đi trước mở đường, đi cùng trong tổ
chức thực hiện và đi sau tổng kết thực tiễn, củng cố niềm tin; góp phần xây
dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, củng cố đoàn
kết, thống nhất trong Đảng và đồng thuận trong xã hội. Trong suốt quá trình
cách mạng, công tác tư tưởng luôn thắp sáng ngọn lửa niềm tin, quy tụ lòng dân,
nhân lên sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Qua 40 năm đổi mới, công
tác tư tưởng đã góp phần quan trọng xây dựng và hoàn thiện lý luận về đường lối
đổi mới, giữ vững nền tảng tư tưởng của Đảng, xây dựng, bổ sung, phát triển
Cương lĩnh chính trị, củng cố niềm tin của Nhân dân, tạo động lực tinh thần to
lớn cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn
quân đưa đất nước ta giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử.
Tuy nhiên, công tác tư tưởng còn bộc lộ không ít hạn chế. Một số
cấp uỷ, tổ chức đảng, người đứng đầu nhận thức chưa đầy đủ, chưa đề cao trách
nhiệm, còn biểu hiện "khoán trắng" cho cơ quan chuyên trách. Phương
thức chậm đổi mới, tư duy "quản lý thông tin" còn phổ biến, năng lực
dẫn dắt nhận thức xã hội, củng cố niềm tin của Nhân dân, tạo đồng thuận xã hội
còn hạn chế. Việc học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách
Hồ Chí Minh ở một số nơi còn hình thức, chưa gắn với kết quả thực hiện nhiệm vụ
chính trị và trách nhiệm nêu gương. Công tác đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng
của Đảng có lúc chưa sắc bén, lực lượng còn mỏng, công cụ kỹ thuật chưa đồng
bộ. Công tác tư tưởng ở cơ sở chưa theo kịp yêu cầu sau sắp xếp tổ chức bộ máy
và tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp. Chưa có bộ tiêu chí thống nhất để đo
lường, đánh giá hiệu quả công tác tư tưởng. Nguyên nhân chủ yếu là chưa có
chiến lược tổng thể về công tác tư tưởng; nguồn lực chưa tương xứng với vị trí,
vai trò của công tác tư tưởng; đội ngũ cán bộ chưa đồng đều về năng lực; sự
phối hợp giữa các lực lượng chưa chặt chẽ.
Thế giới đang trải qua những thay đổi mang tính thời đại, tạo ra
nhiều thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức lớn đan xen; trong nước, Đảng
ta đang triển khai nhiều quyết sách chiến lược, đặt ra nhiều vấn đề mới, yêu
cầu mới đối với công tác tư tưởng. Để góp phần tạo nền tảng chính trị, tinh
thần, củng cố niềm tin, đồng thuận xã hội và sức mạnh nội sinh, đáp ứng yêu cầu
phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới, Bộ Chính trị ban
hành Nghị quyết về Chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh mới với quan
điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu sau:
I- QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO
Công tác tư tưởng trong bối cảnh mới cần quán triệt sâu sắc và
thực hiện tốt phương châm "Chủ động - Sắc bén - Thuyết phục - Hiệu quả" cùng các quan
điểm chỉ đạo sau:
1.
Kiên định, vận dụng và
phát triển sáng tạo chủ nghĩa Marx - Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về
đường lối đổi mới; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên
định đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; kiên định các nguyên tắc tổ
chức và hoạt động của Đảng. Lấy việc học tập và thực hành tư tưởng, đạo đức,
phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh làm nội dung cốt lõi, xuyên suốt của công
tác tư tưởng. Xây dựng Đảng ta thật sự "là đạo đức, là văn minh", xây
dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên ngang tầm nhiệm vụ.
2.
Công tác tư tưởng là
một nội dung đặc biệt quan trọng của công tác xây dựng Đảng, trực tiếp góp phần
nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, sức chiến đấu và tổ chức thực hiện của
Đảng; tuyên truyền, giáo dục, thống nhất nhận thức, tạo đồng thuận chính sách,
củng cố kỷ luật thực thi, bảo vệ uy tín của Đảng và niềm tin của Nhân dân đối
với Đảng, Nhà nước và chế độ; phải đi trước mở đường, đi cùng trong tổ chức
thực hiện và đi sau tổng kết thực tiễn, củng cố niềm tin. Chuyển trọng tâm từ
quản lý thông tin sang dẫn dắt nhận thức xã hội, củng cố niềm tin của Nhân dân,
tạo đồng thuận xã hội, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước. Công tác tư
tưởng là công việc của toàn Đảng và hệ thống chính trị; cấp uỷ và người đứng
đầu trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo, chịu trách nhiệm, không "khoán
trắng" cho cơ quan chuyên trách.
3. Kết hợp chặt chẽ giữa "xây" và "chống", lấy
"xây" làm gốc, lấy "chống" làm nhiệm vụ thường xuyên, lấy
thuyết phục làm phương thức chủ đạo. "Xây" là bồi đắp niềm
tin, bản lĩnh, văn hoá Đảng, môi trường thông tin lành mạnh, sức đề kháng tư
tưởng của toàn xã hội; lòng yêu nước, ý chí tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường,
tự hào dân tộc, tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất
nước phồn vinh, văn minh, hạnh phúc. "Chống" là kiên quyết đấu tranh
không khoan nhượng với cái sai, cái xấu, cái độc hại, làm suy giảm niềm tin;
chủ động ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống,
"tự diễn biến", "tự chuyển hoá" khi mới manh nha, ngay từ cơ
sở. Công tác tư tưởng phải được tiến hành đồng bộ trên cả không gian thực và
không gian số; chủ động bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, giữ vững an ninh tư
tưởng trong mọi tình huống.
4. Con người là trung tâm,
đội ngũ cán bộ giữ vai trò then chốt, niềm tin của Nhân dân là thước đo cao
nhất; Nhân dân là chủ thể tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Hiệu quả
các hoạt động kinh tế, văn hoá - xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại và
chính sách an sinh xã hội là giải pháp trực tiếp để nâng cao hiệu quả công tác
tư tưởng. Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh
nghiệp và toàn xã hội; gắn kết chặt chẽ công tác tư tưởng với phát triển kinh
tế, văn hoá - xã hội, tăng cường quốc phòng, an ninh, mở rộng đối ngoại; lấy cơ
sở và địa bàn dân cư làm trọng tâm, tiến hành đồng bộ, thống nhất ở trong nước
và ngoài nước. Lấy dữ liệu, dự báo, cảnh báo sớm làm năng lực nền tảng; công cụ
kỹ thuật hiện đại, hệ thống thiết chế thông tin cơ sở và giải pháp kỹ thuật
tổng thể bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là phương tiện hỗ trợ.
II- MỤC TIÊU
1. Mục tiêu tổng quát
Chủ nghĩa Marx- Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường
lối đổi mới, Cương lĩnh chính trị và đường lối của Đảng giữ vững vai trò chủ
đạo trong đời sống tinh thần xã hội, được bảo vệ vững chắc, vận dụng và phát
triển sáng tạo. Tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh thấm sâu
vào đời sống xã hội, trở thành văn hoá trong ứng xử và hành động của cán bộ,
đảng viên và Nhân dân. Công tác tư tưởng vận hành thống nhất, thông suốt từ
Trung ương đến cơ sở, trên cả không gian thực và không gian số, ở trong nước và
ngoài nước. Toàn Đảng và hệ thống chính trị ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư
tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển
hoá"; an ninh tư tưởng được bảo đảm trong mọi tình huống. Đội ngũ cán bộ
làm công tác tư tưởng có bản lĩnh chính trị, đạo đức, trí tuệ, năng lực và uy
tín. Hệ thống thông tin cơ sở đổi mới căn bản, phủ kín địa bàn dân cư; cùng với
hệ thống giải pháp kỹ thuật tổng thể bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và nền
tảng số công tác tư tưởng dùng chung tạo thành một chỉnh thể thống nhất, liên
thông, an toàn trên nền dữ liệu tin cậy, bảo đảm chủ quyền dữ liệu quốc gia. Sự
đoàn kết, thống nhất trong Đảng, niềm tin của Nhân dân và đồng thuận xã hội
được củng cố vững chắc; lòng yêu nước, tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc, ý
chí tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc, sức đề kháng tư tưởng của
toàn xã hội và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, văn minh, hạnh phúc,
trở thành nguồn lực nội sinh để thực hiện thành công mô hình phát triển mới,
xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong kỷ nguyên mới.
2.
Mục
tiêu cụ thể đến năm 2030
(1) Tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí
Minh được thực hành thường xuyên, thấm sâu vào đời sống xã hội, trở thành văn
hoá trong ứng xử và hành động của cán bộ, đảng viên và Nhân dân: 100% cấp uỷ, tổ chức đảng đưa công tác tư
tưởng vào chương trình công tác và nội dung kiểm điểm hằng năm; việc học tập và
thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh có chuyển biến
rõ nét, thực chất, thể hiện bằng chất lượng, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ, trách
nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên và mức độ hài lòng, niềm tin của Nhân
dân. Hệ thống học liệu số, dữ liệu số phục vụ giáo dục lý luận chính trị và học
tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh được hoàn
thiện phù hợp với từng nhóm đối tượng, liên thông với kho dữ liệu số quốc gia
về lý luận chính trị, văn kiện Đảng, lịch sử Đảng và dữ liệu số Di sản Hồ Chí
Minh. Hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hoá, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực
con người Việt Nam ngày càng được cụ thể hoá và thực hành trong cơ quan, đơn vị
và cộng đồng dân cư.
(2) Nền tảng tư tưởng của Đảng được
bảo vệ vững chắc; suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự
diễn biến", "tự chuyển hoá" bị ngăn chặn, đẩy lùi; an ninh tư
tưởng được bảo đảm: Hệ thống luận cứ khoa học và cơ sở dữ liệu luận
cứ dùng chung phục vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các
quan điểm sai trái, thù địch được bổ sung, hoàn thiện và sử dụng hiệu quả. Nhận
diện sớm và phản bác kịp thời bằng luận cứ khoa học đối với 100% quan điểm sai
trái, thù địch có tác động lớn đến đời sống xã hội; ngăn chặn kịp thời 100% nội
dung vi phạm nghiêm trọng theo quy định của pháp luật; mức độ lan toả của nội
dung xấu độc trong nước giảm tối thiểu 70% so với năm 2026. Các biểu hiện suy
thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến",
"tự chuyển hoá" được phát hiện, cảnh báo và xử lý kịp thời từ cơ sở,
không để kéo dài, tích tụ; vi phạm kỷ luật phát ngôn của cán bộ, đảng viên giảm
mạnh, các trường hợp vi phạm được xử lý nghiêm theo quy định. Quy chế bảo đảm
an ninh tư tưởng và cơ chế phản ứng khủng hoảng thông tin được ban hành và vận
hành thông suốt từ Trung ương đến cơ sở.
(3) Niềm tin của Nhân dân được củng cố vững chắc, đồng
thuận xã hội được tạo lập thực chất: Toàn bộ chủ trương, nghị quyết, chính sách được định hướng nhận
thức thống nhất, kịp thời trong toàn Đảng, có phương án tuyên truyền, giải
thích, đối thoại đi cùng ngay từ khi xây dựng chính sách. Niềm tin của Nhân dân
và mức độ đồng thuận xã hội tăng vững chắc hằng năm. Tâm tư, nguyện vọng, ý
kiến, kiến nghị chính đáng của Nhân dân được nắm, tiếp nhận, phản hồi và giải
quyết kịp thời; kết quả tiếp thu, giải quyết được công khai. Các vấn đề tư
tưởng, dư luận xã hội phát sinh ở cơ sở được phát hiện sớm, xử lý kịp thời,
hiệu quả, không để kéo dài, vượt cấp, tích tụ thành vấn đề phức tạp, điểm nóng;
phấn đấu 100% kiến nghị, phản ánh của Nhân dân được tiếp nhận và trả lời trong
thời hạn quy định.
(4) Công tác tư tưởng tiến hành đồng bộ, hiệu quả trên cả
không gian thực và không gian số, ở trong nước và ngoài nước: 100% cấp xã có lực lượng làm công tác tư
tưởng, hoạt động thường xuyên tại từng địa bàn dân cư; 100% cấp xã kết nối hệ
thống thông tin nguồn; người dân ở mọi địa bàn tiếp cận được thông tin chính
thống hai chiều. Mỗi chủ trương, nghị quyết, chính sách lớn đều có phương án
truyền thông đồng bộ theo từng nhóm đối tượng, lan toả đồng bộ tới các tầng lớp
Nhân dân; thế trận lòng dân được củng cố vững chắc. Tỉ lệ người dân tin tưởng
và chủ động sử dụng thông tin từ nguồn chính thống tăng vững chắc hằng năm. Cả
nước hình thành mạng lưới 15.000 - 20.000 người có uy tín, người có ảnh hưởng
tích cực tham gia công tác tư tưởng. Hệ sinh thái truyền thông đối ngoại đa nền
tảng, đa ngôn ngữ hoạt động hiệu quả; cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài
tích cực lan toả hình ảnh đất nước, giá trị văn hoá, con người và thành tựu
phát triển của đất nước.
(5) Đội ngũ cán bộ làm công tác tư tưởng có đủ phẩm chất,
năng lực; hệ thống dữ liệu, công nghệ và hạ tầng được hoàn thiện đồng bộ, hiện
đại: 100% cấp xã có cán bộ
chuyên trách; 100% cán bộ làm công tác tư tưởng các cấp, thành viên Ban Chỉ
đạo, Ban Công tác 35, người làm nhiệm vụ thông tin ở cơ sở được tập huấn, bồi
dưỡng hằng năm; toàn Đảng có 4.000 - 6.000 cán bộ tuyên giáo nòng cốt được đào
tạo chuyên sâu. Hệ thống quy định, hướng dẫn, quy trình, tiêu chí nghiệp vụ về
công tác tư tưởng được ban hành đồng bộ và đi vào vận hành. Cơ bản hoàn thành
hệ sinh thái dữ liệu và hạ tầng phục vụ công tác tư tưởng thống nhất trong toàn
Đảng; hệ thống giải pháp kỹ thuật tổng thể bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và
nền tảng số công tác tư tưởng dùng chung đi vào vận hành thông suốt từ Trung
ương đến cơ sở; toàn bộ dữ liệu lưu trữ trên hạ tầng số trong nước, bảo đảm chủ
quyền dữ liệu quốc gia.
(6)Tầm nhìn đến năm 2045 và xa
hơn: Công tác tư tưởng trở thành năng lực nội sinh của
Đảng và của cả dân tộc, chủ động định hình nhận thức xã hội, vững vàng trước
mọi biến động của môi trường thông tin. Công tác lý luận đi trước, định hướng, dẫn dắt thực tiễn, đủ
sức lý giải những vấn đề mới của thời đại và của một xã hội phát triển ở trình
độ cao; Việt Nam đóng góp ngày càng quan trọng vào sự phát triển lý luận về chủ
nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Hệ giá trị Việt Nam và bản
sắc văn hoá dân tộc trở thành sức mạnh mềm quốc gia, tương xứng vị thế nước
phát triển, có thu nhập cao; chủ quyền quốc gia trên lĩnh vực tư tưởng, văn hoá
được giữ vững trong môi trường thông tin toàn cầu.
III- NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
1. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng; đổi mới phương thức lãnh
đạo công tác tư tưởng, chuyển trọng tâm sang dẫn dắt nhận thức xã hội, củng cố
niềm tin của Nhân dân, tạo đồng thuận xã hội (đột phá)
Cấp uỷ, tổ chức đảng, trước hết là người đứng đầu trực tiếp lãnh
đạo, chỉ đạo và chịu trách nhiệm về công tác tư tưởng; đưa nội dung lãnh đạo,
chỉ đạo công tác tư tưởng và trách nhiệm nêu gương vào kiểm điểm, đánh giá, xếp
loại tổ chức đảng, đảng viên và cán bộ hằng năm.
Chuyển trọng tâm từ quản lý thông tin sang dẫn dắt nhận thức xã
hội, củng cố niềm tin của Nhân dân, tạo đồng thuận xã hội thông qua công khai,
minh bạch thông tin, chủ động cung cấp thông tin chính thống, tăng cường đối
thoại và tiếp thu phản biện xã hội. Gắn công tác tư tưởng với toàn bộ quá trình
xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện chủ trương, chính sách; mỗi chủ trương,
chính sách lớn phải đánh giá tác động về tư tưởng và phương án tuyên truyền,
giải thích, đối thoại.
Đổi mới phương thức nắm, phân tích, dự báo, cảnh báo sớm tình
hình tư tưởng, dư luận xã hội, kết hợp điều tra xã hội học, nắm trực tiếp từ cơ
sở với phân tích dữ liệu số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn; kịp thời
chuyển kết quả dự báo thành quyết định lãnh đạo, chỉ đạo cụ thể, được kiểm tra,
đánh giá kết quả thực hiện, không dừng lại ở báo cáo.
2. Chuyển trọng tâm công
tác tư tưởng về cơ sở, về từng địa bàn dân cư; kết hợp chặt chẽ công tác tư
tưởng trên không gian thực với không gian số (đột phá)
Mỗi xã, phường, đặc khu phân công một đồng chí uỷ viên ban
thường vụ cấp uỷ trực tiếp phụ trách, chỉ đạo lực lượng làm công tác tư tưởng,
duy trì chế độ sinh hoạt tư tưởng tại thôn, tổ dân phố, khu dân cư; công tác tư
tưởng là nội dung bắt buộc trong sinh hoạt chi bộ và sinh hoạt của Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội. Duy trì nền nếp đối thoại trực
tiếp giữa người đứng đầu cấp uỷ, chính quyền với Nhân dân; công khai kết quả
tiếp thu, xử lý các ý kiến, kiến nghị. Chủ động nắm, định hướng, xử lý kịp thời
các vấn đề tư tưởng ngay tại nơi phát sinh theo quy trình nắm tình hình, đối
thoại, giải thích, xử lý theo thẩm quyền, thông báo kết quả; gắn với công tác
dân vận, giải quyết đơn, thư, khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh và chăm lo
lợi ích thiết thực của Nhân dân, không để hình thành điểm nóng.
Đổi mới căn bản nội dung và phương thức hoạt động của hệ thống
thông tin cơ sở; đưa thông tin chính thống đến với mọi người dân kịp thời, đầy
đủ, hai chiều, phù hợp với đặc điểm từng địa bàn, đối tượng, có lộ trình phù
hợp đối với vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu
số. Bảo đảm nguyên tắc một vụ việc - một đầu mối phát ngôn - một bộ thông điệp
thống nhất trên cả không gian thực và không gian số.
3. Đẩy mạnh học tập, thực
hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh; đổi mới giáo dục
lý luận chính trị; nâng cao chất lượng nghiên cứu, phát triển lý luận
Đổi mới mạnh mẽ việc học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức,
phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh theo hướng thường xuyên, tự giác, thiết
thực, gắn với thực hiện nhiệm vụ chính trị, trách nhiệm nêu gương, đạo đức công
vụ và kết quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ của cán bộ, đảng viên; lấy kết quả
thực hành làm thước đo chủ yếu trong đánh giá tổ chức đảng, đảng viên và cán
bộ. Hằng năm mỗi cấp uỷ rà soát, công khai và giải quyết dứt điểm danh mục việc
khó, việc tồn đọng, vấn đề gây bức xúc trong Nhân dân.
Tiếp tục đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục lý
luận chính trị trong hệ thống trường chính trị và hệ thống giáo dục quốc dân
theo hướng phù hợp với từng đối tượng, gắn lý luận với thực tiễn; xây dựng, vận
hành nền tảng học tập lý luận chính trị số dùng chung, kiểm tra, đánh giá thực
chất.
Đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu, phát triển lý luận
trong bối cảnh mới; chú trọng nghiên cứu, làm sáng tỏ nội dung, giá trị lý luận
và thực tiễn của tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh; xây
dựng, cập nhật, bổ sung, kết nối, chia sẻ cơ sở dữ liệu luận cứ khoa học dùng
chung phục vụ nghiên cứu, tuyên truyền và đấu tranh tư tưởng, lý luận; hoàn
thành hệ thống học liệu số, số hoá dữ liệu và hình thành nền tảng dùng chung
phục vụ nghiên cứu, phát triển lý luận.
4. Đổi mới, nâng cao chất
lượng tuyên truyền, quán triệt, triển khai nghị quyết và truyền thông chính
sách; đổi mới nội dung, phương thức công tác tư tưởng
Chuyển mạnh việc quán triệt nghị quyết từ truyền đạt một chiều
sang trao đổi, đối thoại, giải thích, thuyết phục gắn với tổ chức thực hiện. Bí
thư cấp uỷ trực tiếp quán triệt nghị quyết, chấm dứt tình trạng quán triệt hình
thức, đối phó. Mỗi nghị quyết khi ban hành phải có tài liệu quán triệt ngắn
gọn, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thực hiện, xác định rõ những điểm mới, nhiệm vụ trung
tâm và những việc cần triển khai ngay; việc quán triệt gắn với cụ thể hoá thành
chương trình, kế hoạch hành động xác định rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ
trách nhiệm, rõ sản phẩm, rõ thẩm quyền; khắc phục dứt điểm tình trạng nghị
quyết đã ban hành, thể chế đã đủ nhưng cấp dưới không nắm chắc, không triển
khai thực hiện.
Hằng năm ban hành kế hoạch truyền thông chính sách trọng điểm,
xác định danh mục chủ trương, chính sách cần truyền thông, thông điệp chủ đạo,
cơ quan chủ trì, nhóm đối tượng và chỉ số đo kết quả. Truyền thông chính sách
phải đi trước một bước, từ sớm, từ xa, xuyên suốt quá trình hoạch định - thực
thi - đánh giá chính sách; cơ quan chủ trì soạn thảo chịu trách nhiệm chính về
truyền thông chính sách do mình đề xuất, chủ động cung cấp thông tin chính
thống, kịp thời, không để khoảng trống thông tin.
Kiện toàn bộ phận truyền thông và người phát ngôn của các cơ
quan trong hệ thống chính trị. Thống nhất yêu cầu biên soạn tài liệu, sản phẩm
tuyên truyền theo nhóm đối tượng; bảo đảm mỗi chủ trương, chính sách lớn có
đồng thời bộ sản phẩm cho tuyên truyền trực tiếp tại địa bàn dân cư và trên
không gian số, thống nhất một thông điệp chủ đạo, có sản phẩm chuyên biệt cho
thế hệ trẻ.
Phân định rõ vai trò, trách nhiệm của các lực lượng tham gia
công tác tư tưởng; phát huy vai trò nòng cốt của các cơ quan báo chí chủ lực đa
phương tiện trong sản xuất và lan toả thông tin chính thống. Chuyển việc cung
cấp thông tin, sản phẩm tuyên truyền cho cơ sở từ cấp phát dàn trải sang đặt
hàng theo nhu cầu; hoàn thiện cơ chế tài chính, cơ chế đặt hàng đối với báo chí
chủ lực, nghiệm thu theo mức độ tiếp cận và sử dụng thực tế của người dân.
5. Bảo vệ nền tảng tư
tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; bảo đảm an
ninh tư tưởng
Nhận diện, phân loại nội dung vi phạm theo quy định của pháp luật
về an ninh mạng, báo chí, xuất bản và quy định của Đảng về những điều đảng viên
không được làm; bổ sung, vận hành cơ sở dữ liệu luận cứ khoa học dùng chung
phục vụ đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; kiện toàn lực
lượng đấu tranh 3 cấp Trung ương - tỉnh - cơ sở trên cơ sở Ban Chỉ đạo, Ban
Công tác 35 hiện có. Chủ động nắm tình hình, xác minh, giải thích, xử lý dứt
điểm tại địa bàn ngay khi vụ việc mới phát sinh. Phòng ngừa, phát hiện, ngăn
chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn
biến", "tự chuyển hoá" ngay từ cơ sở; thực hiện nghiêm quy định
về kỷ luật phát ngôn và sử dụng mạng xã hội. Xử lý nghiêm việc phát hành, lưu
hành sản phẩm văn hoá, văn học, nghệ thuật có nội dung trái với quan điểm,
đường lối, chủ trương của Đảng, xuyên tạc lịch sử, truyền thống tốt đẹp của dân
tộc, bôi nhọ lãnh tụ, lãnh đạo Đảng, Nhà nước; chống phá chế độ.
Ban hành Quy chế bảo đảm an ninh tư tưởng và phản ứng khủng
hoảng thông tin, phân định rõ các mức độ tác động, biện pháp xử lý và đầu mối
chỉ huy; thiết lập cơ chế phản ứng khủng hoảng thông tin nhanh, thống nhất,
chặt chẽ, vận hành từ Trung ương đến cơ sở; tăng cường phối hợp chặt chẽ giữa
các lực lượng, xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.
6. Xây dựng hệ sinh thái thông
tin chính thống, tích cực, nhân văn; phát huy vai trò chủ thể của Nhân dân;
chuẩn mực ứng xử trong xã hội và trên không gian số
Phát triển hệ sinh thái nội dung tích cực, nhân văn trên cả
không gian thực và không gian số, bảo đảm cái đúng, cái tốt, cái đẹp được lan
toả rộng rãi, trở thành dòng chủ lưu. Hỗ trợ sáng tác và quảng bá tác phẩm văn
học, nghệ thuật, xuất bản phẩm có giá trị cao.
Phát huy vai trò chủ thể của Nhân dân trong tiếp nhận, chia sẻ,
lan toả thông tin chính thống, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; củng cố vững
chắc thế trận lòng dân. Xây dựng, phát triển mạng lưới người có uy tín, người
có ảnh hưởng tích cực với tiêu chí lựa chọn, cơ chế kết nối, phát huy và trách
nhiệm rõ ràng; hình thành lực lượng chính luận nòng cốt, tiêu biểu có uy tín,
năng lực và sức lan toả.
Tổ chức thực hiện nghiêm các quy định của Đảng về trách nhiệm
nêu gương, kỷ luật phát ngôn và trách nhiệm của cán bộ, đảng viên trong lan toả
thông tin chính thống, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; xây dựng, thực hành
văn hoá ứng xử của cán bộ, đảng viên thống nhất trong Đảng và ngoài xã hội,
giữa không gian thực và không gian số. Đưa văn hoá số, kỹ năng thông tin số và
năng lực kiểm chứng thông tin vào chương trình giáo dục từ phổ thông đến đại
học, nâng cao sức đề kháng của Nhân dân trước thông tin xấu độc.
Vận dụng phù hợp hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hoá, hệ giá
trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam trong xây dựng quy tắc ứng xử của
cơ quan, đơn vị và hương ước, quy ước của cộng đồng dân cư theo quy định; xây
dựng văn hoá phát triển, văn hoá đổi mới sáng tạo, văn hoá cống hiến và tinh
thần phụng sự Tổ quốc.
7. Đổi mới, nâng cao hiệu
quả công tác tư tưởng đối ngoại và thông tin đối ngoại
Bổ sung, cập nhật bộ thông điệp đối ngoại; bảo đảm nhất quán
quan điểm giữa thông tin đối nội và thông tin đối ngoại. Phát triển hệ sinh
thái truyền thông đối ngoại đa nền tảng, đa ngôn ngữ tại các địa bàn trọng
điểm; phát huy vai trò của các cơ quan đại diện, phóng viên thường trú, học
giả, các đối tác và bạn bè quốc tế.
Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền đối với cộng đồng
người Việt Nam ở nước ngoài; cung cấp thông tin chính thống về tình hình đất
nước kịp thời, phù hợp với từng địa bàn và nhóm đối tượng. Xây dựng mạng lưới
nòng cốt là trí thức, doanh nhân, văn nghệ sĩ, nhà báo, người lao động, sinh
viên người Việt Nam ở nước ngoài tại các địa bàn trọng điểm; hỗ trợ hội đoàn,
cơ quan báo chí, kênh truyền thông tiếng Việt; duy trì dạy và học tiếng Việt,
giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc trong các thế hệ người Việt Nam ở nước ngoài.
Khơi dậy mạnh mẽ niềm tự hào dân tộc và khát vọng cống hiến của người Việt Nam
ở nước ngoài trong quảng bá hình ảnh đất nước, giá trị văn hoá, con người và
thành tựu phát triển của đất nước, góp phần tăng cường sự hiểu biết, đồng tình
và ủng hộ của xã hội sở tại đối với Việt Nam.
Xác lập cơ chế theo dõi, chủ động phản bác thông tin sai lệch về
Việt Nam trên truyền thông quốc tế; phản hồi kịp thời, có căn cứ đối với các
báo cáo, đánh giá thiếu khách quan về Việt Nam. Gắn kết chặt chẽ công tác tư
tưởng đối ngoại với đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và
đối ngoại Nhân dân.
8. Bảo đảm về đội ngũ cán
bộ; thể chế, cơ chế, chính sách; dữ liệu, công nghệ, hạ tầng; công tác kiểm
tra, giám sát và đánh giá (đột phá)
Ban hành khung năng lực và tiêu chuẩn chức danh cán bộ làm công
tác tư tưởng theo từng cấp, từng lĩnh vực; đổi mới tuyển chọn, đào tạo, bồi
dưỡng, luân chuyển, bố trí, sử dụng cán bộ theo khung năng lực. Bố trí đủ cán
bộ chuyên trách công tác tư tưởng ở cấp xã. Có chính sách đãi ngộ đặc thù, thu
hút chuyên gia, nhà khoa học, nhà báo, người làm công nghệ tham gia công tác tư
tưởng; bảo vệ cán bộ dám nói thẳng, dám đấu tranh, dám chịu trách nhiệm, lực
lượng trực tiếp tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Rà soát tổng thể, thể chế hoá đồng bộ thành hệ thống quy định,
quy chế, hướng dẫn, quy trình, tiêu chí nghiệp vụ của công tác tư tưởng. Bảo
đảm nguồn lực tài chính cho công tác tư tưởng theo hướng ổn định, có trọng tâm,
gắn với sản phẩm và kết quả đầu ra; ưu tiên nguồn lực cho cơ sở và địa bàn khó
khăn, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Đầu tư hiện đại hoá hạ tầng, thiết chế thông tin cơ sở: Số hoá,
hiện đại hoá hệ thống đài truyền thanh cấp xã, bảng tin, cụm thông tin cổ động,
thư viện, tủ sách và các thiết chế văn hoá - thông tin; xây dựng, vận hành hệ
thống thông tin nguồn, hệ thống dữ liệu và nền tảng số công tác tư tưởng dùng
chung liên thông từ Trung ương tới cấp xã, kết nối với các cơ sở dữ liệu quốc
gia phục vụ nắm, tổng hợp, phân tích, dự báo, cảnh báo sớm và điều phối xử lý
các vấn đề tư tưởng, dư luận xã hội. Xây dựng, chuyển giao và vận hành hệ thống
giải pháp kỹ thuật tổng thể bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng từ Trung ương đến
cơ sở; ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn trong giám sát, phát hiện, xác
minh, xử lý nội dung vi phạm và sản xuất, phân phối sản phẩm tuyên truyền; bảo
đảm an toàn thông tin, an ninh mạng, an ninh dữ liệu và chủ quyền dữ liệu quốc
gia.
Tăng cường kiểm tra, giám sát hằng năm của cấp uỷ và uỷ ban kiểm
tra các cấp về nội dung công tác tư tưởng; tập trung vào kết quả thực chất và
chuyển biến tại cơ sở. Xây dựng, hoàn thiện và áp dụng thống nhất hệ thống tiêu
chí, chỉ số đánh giá hiệu quả công tác tư tưởng theo hướng khoa học, khách
quan, thực chất; định kỳ đo lường bằng điều tra xã hội học, đánh giá độc lập
mức độ tiếp cận, hiểu và ghi nhớ của người dân đối với thông tin chính thống.
Xây dựng cơ chế tiếp nhận phản hồi từ Nhân dân và giám sát xã hội; sử dụng kết
quả đánh giá làm căn cứ để bố trí nguồn lực và xem xét trách nhiệm người đứng
đầu.
IV- TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Bộ Chính trị, Ban Bí thư lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, thống
nhất, toàn diện việc tổ chức thực hiện Nghị quyết; ban hành Kế hoạch thực hiện.
Việc tổ chức thực hiện quán triệt nguyên tắc "6 rõ": Rõ người, rõ
việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, rõ thẩm quyền; mỗi nhiệm vụ
chỉ giao một cơ quan chủ trì, không chồng chéo. Các cấp uỷ, tổ chức đảng, cơ
quan, đơn vị trong hệ thống chính trị tổ chức thực hiện, cụ thể:
1.
Đảng uỷ
Quốc hội lãnh đạo, chỉ đạo rà soát,
hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật phục vụ công tác tư tưởng trong bối cảnh
mới (báo chí, xuất bản, thông tin, truyền thông, văn hoá, không gian mạng, dữ
liệu, trí tuệ nhân tạo, thông tin cơ sở và các lĩnh vực có liên quan), chú
trọng nghiên cứu, đối chiếu với các khung chính sách, pháp luật quốc tế có liên
quan; tăng cường giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật và việc bố trí,
sử dụng nguồn lực thực hiện Nghị quyết.
2.
Đảng uỷ
Chính phủ lãnh đạo, chỉ đạo cụ thể hoá
mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ thành kế hoạch, lộ trình, phân công trách nhiệm và
bố trí, phê duyệt nguồn lực, phân bổ kinh phí thực hiện; chỉ đạo các bộ, ngành
xây dựng kế hoạch, đề xuất kinh phí, nguồn lực bảo đảm và tổ chức triển khai;
chỉ đạo thể chế hoá thành văn bản quy phạm pháp luật. Chỉ đạo Đảng uỷ Bộ Văn
hoá, Thể thao và Du lịch chủ trì hiện đại hoá hạ tầng, thiết chế văn hoá -
thông tin ở cơ sở theo nhiệm vụ nêu tại Nghị quyết; quy định chuẩn kỹ thuật và
cơ chế vận hành thống nhất, liên thông với nền tảng số dùng chung. Đảng uỷ các
bộ, ngành Trung ương chịu trách nhiệm trước Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Đảng uỷ
Chính phủ về kết quả thực hiện nhiệm vụ được phân công.
3.
Quân uỷ
Trung ương lãnh đạo, chỉ đạo công tác tư
tưởng trong Quân đội nhân dân; thực hiện các nhiệm vụ quốc phòng, bảo vệ Tổ
quốc trên không gian mạng; xây dựng và triển khai hệ thống các giải pháp kỹ
thuật, nghiệp vụ thuộc lĩnh vực quốc phòng phục vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của
Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch từ Trung ương đến cơ
sở, hoàn thành xây dựng và chuyển giao đưa vào vận hành theo tiến độ; kịp thời
cảnh báo sớm các chiến dịch thao túng thông tin để chống phá; xây dựng và tổ
chức thực hiện kế hoạch, nhiệm vụ theo thẩm quyền, bảo đảm đồng bộ với mục
tiêu, nhiệm vụ của Nghị quyết.
4.
Đảng uỷ
Công an Trung ương lãnh đạo,
chỉ đạo bảo đảm an ninh tư tưởng, an ninh mạng, an ninh dữ liệu; chủ trì xây
dựng Quy chế bảo đảm an ninh tư tưởng và phản ứng khủng hoảng thông tin; phát
hiện, tiếp nhận, xác minh, truy nguồn và phân loại vụ việc theo quy định; xây
dựng và triển khai hệ thống các giải pháp kỹ thuật, nghiệp vụ chuyên ngành an
ninh, kết nối, liên thông an toàn với nền tảng số công tác tư tưởng dùng chung;
xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch, nhiệm vụ theo thẩm quyền, bảo đảm đồng
bộ với mục tiêu, nhiệm vụ của Nghị quyết.
5.
Ban Tổ
chức Trung ương chủ trì xây dựng
khung năng lực, cơ chế nhân lực, chính sách đặc thù về cán bộ làm công tác tư
tưởng; rà soát, bổ sung tiêu chí về lãnh đạo, chỉ đạo công tác tư tưởng, chấp
hành kỷ luật phát ngôn và thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách
Hồ Chí Minh vào đánh giá, xếp loại tổ chức đảng, đảng viên và công tác cán bộ.
6.
Uỷ ban
Kiểm tra Trung ương đưa nội dung thực
hiện Nghị quyết và Quy định số 19-QĐ/TW, ngày 08/4/2026 của Ban Chấp hành Trung
ương Đảng về công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng vào chương trình kiểm tra,
giám sát; tăng cường kiểm tra việc chấp hành, giám sát kỷ luật phát ngôn của
cán bộ, đảng viên trong sinh hoạt, công tác và trên không gian số; kịp thời xử
lý nghiêm tổ chức đảng, đảng viên vi phạm hoặc để tồn đọng kéo dài do thiếu
trách nhiệm.
7.
Học viện Chính trị
quốc gia Hồ Chí Minh và Hội đồng Lý luận Trung ương chủ trì tổng kết thực tiễn,
nghiên cứu lý luận về công tác tư tưởng trong bối cảnh mới, cung cấp luận cứ
khoa học phục vụ lãnh đạo, chỉ đạo và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; định
kỳ hằng năm báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư.
8.
Đảng uỷ
Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung
ương lãnh đạo, chỉ đạo phát huy vai trò chủ thể của Nhân dân trong bảo vệ nền
tảng tư tưởng của Đảng và lan toả thông tin chính thống; đẩy mạnh giám sát,
phản biện xã hội đối với các vấn đề lớn, phức tạp, nhạy cảm; vận động các tầng
lớp Nhân dân, đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo và người Việt Nam ở nước
ngoài tham gia thực hiện Nghị quyết.
9.
Đảng uỷ, cấp uỷ các cơ
quan thông tấn, báo chí, xuất bản lãnh đạo, chỉ đạo quán triệt, cụ thể hoá Nghị
quyết thành chương trình hành động của cơ quan; chủ động đổi mới tổ chức bộ máy
và phương thức quản trị theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, đủ năng lực dẫn
dắt, đủ sức cạnh tranh trên không gian số, đáp ứng yêu cầu của nền báo chí cách
mạng trong bối cảnh mới. Giữ vững dòng thông tin chủ lưu, định hướng dư luận xã
hội, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan
điểm sai trái, thù địch. Cơ quan chủ quản và người đứng đầu cơ quan báo chí
chịu trách nhiệm trước Đảng về định hướng chính trị và chất lượng nội dung; xây
dựng đội ngũ phóng viên, biên tập viên, người làm báo có bản lĩnh chính trị
vững vàng, đạo đức nghề nghiệp trong sáng, trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao,
năng lực số và khả năng thích ứng với môi trường truyền thông mới.
10.
Các
tỉnh uỷ, thành uỷ, đảng uỷ trực thuộc Trung ương lãnh đạo, chỉ đạo quán triệt, xây dựng kế hoạch tổ
chức triển khai phù hợp với địa phương, cơ quan, đơn vị; bảo đảm nguồn lực; chỉ
đạo vận hành hệ thống thông tin cơ sở liên thông với nền tảng số công tác tư
tưởng dùng chung; nắm chắc tình hình tư tưởng, dư luận xã hội, rủi ro truyền
thông, điểm nóng từ cơ sở; chỉ đạo bố trí lực lượng làm công tác tư tưởng và
duy trì nền nếp sinh hoạt tư tưởng ở từng địa bàn dân cư; người đứng đầu chịu
trách nhiệm trực tiếp về kết quả theo Quy định số 19-QĐ/TW; định kỳ báo cáo Bộ
Chính trị, Ban Bí thư qua Ban Tuyên giáo Trung ương.
11.
Ban
Tuyên giáo Trung ương chủ trì tham mưu Bộ Chính trị, Ban Bí thư chỉ đạo tổ chức thực hiện; hướng dẫn, theo dõi, đôn
đốc, kiểm tra; chủ trì định hướng chính trị, tư tưởng, nội dung trong xử lý các
tình huống tư tưởng, khủng hoảng thông tin; hướng dẫn học tập, thực hành tư
tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh; khai thác, vận hành nền
tảng số công tác tư tưởng dùng chung; tổ chức sơ kết năm 2028 và tổng kết trước
đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XV của Đảng.
Nghị quyết này phổ biến đến chi bộ.
* Thay mặt Ban Bí thư, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí
thư Trần Cẩm Tú đã ký ban hành Kế hoạch thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị
về Chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh mới (Kế hoạch số 08-KH/TW, ngày
22/8/2026). Theo đó, Kế hoạch xác định tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện
đồng bộ 8 nhóm nhiệm vụ giải pháp của Nghị quyết số 25-NQ/TW; ưu tiên nguồn lực
cho 2 nhóm nhiệm vụ có tính nền tảng, quyết định chất lượng công tác tư tưởng
từ Trung ương đến cơ sở; Bảo đảm nguồn lực thực hiện...
Bộ Chính trị, Ban Bí thư lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, thống
nhất, toàn diện quá trình tổ chức thực hiện. Các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan,
địa phương, đơn vị trong hệ thống chính trị được phân công thực hiện những
nhiệm vụ cụ thể.
No comments:
Post a Comment