Sunday, June 28, 2026

 Tình tự Dân tộc qua “Hận Sông Gianh” và “Hận Sông Bến Hải”

 

 


Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, có một bài thơ, sáng tác vào khoảng đầu thập niên 1950 nói về một nỗi đau của đất nước. Đó là bài “Hận Sông Gianh” của Đằng Phương tức GS Nguyễn Ngọc Huy đã đi vào lòng người miền Nam trước 1975. Và, trong một số bài viết chính luận và hồi ký, người ta thường dùng cụm từ:"Sau Hận Sông Gianh là Hận Sông Bến Hải" để ví von rằng sau nỗi đau chia cắt thời Trịnh–Nguyễn (Sông Gianh). Rồi đến nỗi đau chia cắt đất nước ở vĩ tuyến 17 (Sông Bến Hải) giai đoạn 1954–1975. Anh Việt Thu viết bài “Tám điệp khúc” khi vừa qua tuổi 20, tức là vào năm 1965. Bài nhạc ngũ cung rất đậm đà cái mùi của kiểu Nam Kỳ Lục Tỉnh. Tác giả thường nhắc đi nhắc lại:”Mẹ Việt Nam ơi! Hai mươi năm ngăn lối rẽ đường về - Mẹ Việt Nam ơi! Ai chia ly tan tác cả ngàn đời - Mẹ Việt Nam ơi! Con xin dâng xin hiến trọn cả đời."

 

Cả hai đều lấy tên một dòng sông làm biểu tượng nói lên những trăn trở về nỗi đau chia cắt đất nước. Quá khứ hơn 200 năm đối với Sông Gianh, và 20 năm đối với Sông Bến Hải, mãi cho đến hôm nay vẫn tiếp tục là một đề tài chúng ta suy gẫm, đề từ đó, có thể tìm một hướng đi mới cho tương lai Việt Nam. Với lời thơ:“Đây sông Gianh đây biên cương thống khổ Đây sa trường đây nấm mộ dân nam Đây giòng sông, giòng máu Việt còn loang Đây cổ độ xương tàn xưa”, nội dung nói về nỗi đau dân tộc vì cảnh phân tranh Trịnh–Nguyễn và sự chia cắt đất nước. Bài thơ này của thi sĩ Đằng Phương tức GS Nguyễn Ngọc Huy từng được nhiều thế hệ học sinh miền Nam biết đến trước 1975.

 

1-   


Điểm chung của hai dòng sông

 

Con sông Gianh ở Quảng Bình đã ghi dấu mốc lịch sử qua cuộc phân tranh Trịnh – Nguyễn vào thế kỷ 17, 18, và con sông Bến Hải, Quãng Trị nhắc nhở chúng ta về Hiệp định Genève, ký kết 20/7/1954 chia đôi đất nước qua vĩ tuyến 17. Nói về hai biến cố trên, kết quả là hận thù, tiếc nuối qua cuộc nội chiến dai dẳng giữa Đàng Trong và Đàng Ngoài. Ở thời Trịnh–Nguyễn, chiến tranh kéo dài hơn 200 năm làm cho đất nước suy yếu, ngoại bang có cơ hội can thiệp. Ở cuộc chiến ý thức hệ Bắc - Nam, có hàng triệu người chết và bị thương, gia đình ly tán, hận thù ý thức hệ kéo dài nhiều thế hệ cho đến ngày hôm nay 2026. Và dĩ nhiên, sau chiến tranh, sau ngày 30/41975, vẫn còn những vết thương chưa lành.

 

Cả các bài viết trên đều không nguyền rũa một bên nào. Tác giả chỉ “hận dòng sông” vô tình làm ranh giới ngăn đôi. Hận chứ không đau, chứ không phải kêu gọi trả thù. Và tình tự dân tộc thể hiện qua ba chữ: ĐAU - NHỚ - MONG.

·         Đau vì “một nhà” bị xé đôi, Nguyễn Ngọc Huy làm bài thơ “Hận Sông Gianh”, sau khi đất nước lại bị chia đôi lần nữa qua câu: “Non nước ngàn năm sao nỡ chia đôi”. Anh Việt Thu 1965 viết tiếp:“ Mẹ Việt Nam ơi! Hai mươi năm ngăn lối rẽ đường về - Mẹ Việt Nam ơi! Ai chia ly tan tác cả ngàn đời”, câu than thở cùng Mẹ Việt Nam vì ai mà dân tộc bi chia ly ngàn đời…chỉ vì vĩ tuyến 17. Nơi đây, người con Việt coi “non nước ngàn năm là một”, cho nên khi bị cắt đôi thì “đau như cắt ruột”.

·         Nhớ vì cùng một cội nguồn, cà hai bài đều nhắc “bến xưa”, “dòng sông”, “cầu”, “người yêu bên kia sông”. Sông Gianh/Bến Hải không phải sông của riêng ai. Người Bắc có họ hàng ở Nam, người Nam có mồ mả tổ tiên ở Bắc. Từ đó, tình dân tộc vẫn nhớ và còn nhận nhau là đồng bào. Dù chính kiến khác, dù sao vẫn còn, vẫn gọi “anh em một nhà”.

·         Mong vì không chấp nhận chia cắt mãi vì “Hận Sông Bến Hải” kết bằng “Ngày thống nhất, cầu nối đôi bờ”, “Hận Sông Gianh” dù tên là “Hận” nhưng thực chất là tiếc cho 200 năm Trịnh - Nguyễn nhằm nhắc chừng đừng để lịch sử lặp lại. Tình tự dân tộc nơi đây mong thống nhất không phải vì phe nào thắng, mà vì “Nam -  Bắc một nhà” mới là trạng thái bình thường của dân tộc.

 

Vận dụng “hận dòng sông” để nói lên một điều: “Người Việt sợ nhất là chia cắt. “Hận” ở đây không phải hận con người, mà hận hoàn cảnh, hận chiến tranh, hận ranh giới vô hình. Càng hận chia cắt, càng chứng tỏ tình yêu với “một dải non sông” vẫn còn nguyên vẹn. Vì vậy, bài thơ của Đằng Phương cho tới giờ, lời thơ trên vẫn được ngâm mãi. Không phải để khơi lại thù cũ, mà để nhắc rằng, đất nước nầy, dân tộc nầy, chỉ đẹp nhứt khi không còn sông nào làm đường ranh biên giới cả!   


Có phải "ngăn đôi đất nước" chỉ là lỗi của một phía?

 

Khúc quành của Sông Gianh

 

Nếu nhìn bằng lăng kính chính trị, mỗi phía đều có lý lẽ riêng, nếu nhìn bằng lăng kính dân tộc, người chết đều là người Việt, người mất nhà cửa đều là người Việt và người gánh hậu quả và phải chịu thiệt thòi cũng đều là người Việt. Do đó, người con Việt hôm nay có thể giữ quan điểm chính trị khác nhau, nhưng cũng cần thừa nhận một sự thật là chia cắt dân tộc luôn là bi kịch, không phải chiến thắng dù là của một phía nào.

Vì vậy, thái độ ứng xử hiện nay của những vị thức giả sẽ nên như thế nào?

Chúng ta không quên lịch sử, không phủ nhận sự thật lịch sử, không bóp méo quá khứ, không biến lịch sử thành công cụ tuyên truyền một chiều. Và chắc chắn chúng ta không nuôi dưỡng hận thù. Sau hơn 50 năm kể từ năm 1975, thế hệ trẻ không có trách nhiệm trả thù quá khứ và họ có trách nhiệm học từ quá khứ. Một dân tộc mạnh là dân tộc biết nhớ lịch sử, nhưng không sống bằng hận thù lịch sử. Người Việt trong nước, người Việt hải ngoại, người từng ở miền Bắc, người từng ở miền Nam, đều là thành phần của cộng đồng dân tộc Việt Nam.

Không ai có độc quyền yêu nước cả, kể cả Đàng Cộng sản Bắc Việt.

3-    Tình tự dân tộc cần được định nghĩa lại

 


Cầu Hiền Lương

 

Không phải là mọi người phải suy nghĩ giống nhau. Tình tự dân tộc cần được hiểu là cùng nhận chung một nguồn cội, cùng chia sẻ trách nhiệm với tương lai đất nước, cùng tôn trọng phẩm giá của đồng bào mình.  Người Việt có thể khác chính kiến, khác vùng miền, khác trải nghiệm lịch sử; nhưng vẫn có thể cùng mong muốn đất nước thịnh vượng, xã hội công bằng, môi trường được bảo vệ, con cháu có tương lai tốt đẹp hơn. Người Việt cần nên, dù bất đồng thế nào, vẫn nhận nhau là đồng bào. Tinh thần ấy từng được Nguyễn Trãi nhắc đến qua tư tưởng "lấy đại nghĩa thắng hung tàn", và qua Phan Châu Trinh khi đề cao “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”.

 

Người Việt thời trí tuệ nhân tạo - AI có thể rút gọn bài học của Sông Gianh và Sông Bến Hải thành một câu:”Chia rẽ làm dân tộc suy yếu; hòa giải trên nền tảng sự thật làm dân tộc mạnh lên”. Và có lẽ câu hỏi quan trọng nhất hôm nay không phải là:"Ai thắng trong quá khứ?" mà là:"Người Việt sẽ cùng nhau xây dựng tương lai như thế nào?".

 

Và câu hỏi:” Hận Sông Gianh, Hận Sông Bến Hải có làm mất tình tự dân tộc không? Câu trả lời ngắn sẽ là có thể làm suy yếu tình tự dân tộc, nếu hận thù được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Nhưng chúng ta không thể xóa bỏ hoàn toàn tình tự dân tộc, vì ý thức mình là người Việt vẫn tồn tại sâu trong văn hóa, ngôn ngữ và lịch sử chung. Không một cá nhân nào, một nhóm nào, một đảng phái nào… có thể triệt tiêu được tình tự dân tộc Việt hết cả! Đó là hồn nước, hồn thiêng sông núi. Đó là di sản của tổ tiên Việt. Và đó cũng là căn tính Việt.

4-    Bài học cho người Việt hôm nay

Nếu chỉ giữ lại hận Sông Gianh hay hận Sông Bến Hải, dân tộc sẽ tiếp tục bị quá khứ dẫn dắt.Nếu giữ lại bài học của Sông Gianh và bài học của Sông Bến Hải, dân tộc có thể trưởng thành hơn, và có những bước đi tích cực hơn. Có lẽ điều đáng suy ngẫm là không phải vì quên hận thù mà người ta mất chính nghĩa, mà vì biết đặt tương lai dân tộc cao hơn hận thù, người ta mới thực sự gìn giữ được tình tự dân tộc. Với tư thế của một người con Việt, dù đứng ở phía nào của lịch sử, câu hỏi cuối cùng vẫn là, điều gì có lợi nhất cho dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XXI?"

Khi câu hỏi ấy được đặt lên trước, hận thù thường nhỏ lại, còn tình tự dân tộc thường lớn lên, và ngày càng tăng trường thêm lên, và con đường tương lai Việt Nam rộng mở hơn.

5- Tình tự dân tộc để thoát khỏi bế tắc hiện tại

Lịch sử đã qua trang hơn 50 năm qua rồi, người Việt trong nước hay hải ngoại đều có tri thức, đều có kinh nghiệm, và đều có lòng yêu quê hương theo cách riêng. Nếu còn nhìn nhau bằng lăng kính thắng - thua của thế kỷ XX thì rất khó huy động toàn bộ nguồn lực dân tộc. Nhật Bản, Đức, Hàn Quốc đều từng trải qua chia rẽ, chiến tranh và đổ vỡ. Điều giúp họ đi lên là hướng về tương lai, xây dựng thể chế hiệu quả, phát huy tài năng của mọi công dân. Tất cả là vì tình tự dân tộc của mỗi nước.

Xin nói với người cộng sản Bắc Việt là, tài sản lớn nhất của Việt Nam không phải là đất đai hay khoáng sản, hay việc cầm chịch quyền lực để cai trị. Mà, “Tài sản lớn nhất của nước Việt Nam là hơn 100 triệu con người Việt Nam”. Do đó, tôi, người viết nói:“các ông” cần:

5.1- Khơi mở Giáo dục khai phóng

Một nền giáo dục hiện đại cần có các giá trị sau: - Nhân bản - Dân tộc - Khai phóng - Khoa học. Đó thực ra cũng là những giá trị phù hợp với thế kỷ XXI. Một nền giáo dục tốt phải đào tạo ra con người biết suy nghĩ độc lập, biết phản biện, biết tôn trọng sự thật, và nhứt là biết tương tác với nhau. Giáo dục từ chương, và việc học thuộc lòng ngày càng kém giá trị vì nó đánh mất khả năng sáng tạo và suy nghĩ phản biện của học sinh/sinh viên.

5.2- Bảo vệ môi trường như bảo vệ tương lai dân tộc

Nhìn từ góc độ dân tộc, việc mất rừng là mất tương lai, việc ô nhiễm nguồn nước là mất tương lai, và việc suy thoái đồng bằng sông Cửu Long là mất tương lai. Sau hơn 50 năm, những vấn đề như việc khai thác tài nguyên thiếu kiểm soát, việc ô nhiễm công nghiệp, việc suy giảm đa dạng sinh học;, việc sạt lở và việc xâm nhập mặn ở đồng bằng sông Cửu Long v.v… không phải là vấn đề của riêng một địa phương. Đó là vấn đề sinh tồn của quốc gia. Một dân tộc không thể giàu lâu dài nếu môi trường bị hủy hoại.

5.3- Xây dựng thể chế khuyến khích sáng tạo

Các nhà kinh tế như Douglass North, Daron Acemoglu và James A. Robinson đều nhấn mạnh rằng, sự thịnh vượng lâu dài của một quốc gia phụ thuộc rất nhiều vào phẩm chất của thể chế. Một xã hội phát triển cần có luật pháp được tôn trọng, tài sản được bảo vệ, cơ hội tương đối bình đẳng cho mọi công dân; và tài năng cá nhân đều được trọng dụng. Khi người dân tin rằng nỗ lực của họ được ghi nhận, xã hội sẽ năng động hơn, và được điều hợp nhuần nhuyễn hơn.

5.4- Giữ độc lập dân tộc trong một thế giới đang cạnh tranh khốc liệt

Việt Nam nằm ở vị trí địa chính trị rất đặc biệt. Lịch sử cho thấy, nếu quá lệ thuộc vào bất kỳ cường quốc nào đều có rủi ro; nếu tự cô lập với thế giới cũng có rủi ro. Điều quan trọng là cần tăng nội lực bằng cách tạo sự đồng thuận của đa số người dân nếu có một chính sách phát triển quốc giá đúng đắn và thích hợp với hoàn cảnh đất nước. Một quốc gia mạnh không chỉ vì quân đội được trang bị vũ khí tối tân, mà một quốc gia mạnh vì người dân có tri thức và niềm tin vào tương lai.

Sau hơn 51 năm thống nhứt toàn cõi đất nước, nhưng người CSBV vẫn còn khư khư quản lý đất nước qua những giáo điều đã từng bị chính “cái nôi” cộng sản đã từ bỏ từ lâu rồi. Chính vì vậy quê hương vẫn còn trì trệ trong phát triển và lòng người vẫn còn chia rẽ triền miên. Chính người cộng sản Việt phải hiểu được điều trên, để rồi mạnh dạn điều chỉnh những vấn nạn vừa kể trên, May ra, nếu CSBV thực hiện được những điều đó, chắc chắn chỉ trong một thời gian ngắn ngắn, một Việt Nam sẽ được thành hình với sự đóng góp của những con Việt đúng nghĩa từ khắp bốn phương…

6- Hình dung suy nghĩ của một “đứa con Việt thế hệ AI”

 

Tuổi trẻ thế hệ trí tuệ nhân tạo nhìn bằng dữ liệu, không bằng hận thù: Thế hệ Tôi (tuổi trẻ hiện tại 2026) lớn lên với Google Maps, không có vĩ tuyến 17 trên bản đồ nữa. Nếu gỏ “Sông Bến Hải” sẽ ra ngay cầu Hiền Lương sơn 2 màu, gỏ “Sông Gianh” ra cầu Quán Hàu kết nối Bắc - Nam. Vì vậy cho nên “hận dòng sông” với Tôi không còn là hận ranh giới, nhưng mà là hận vì ngày xưa ông bà Tôi phải chọn “bên này hay bên kia”. Dữ liệu lịch sử cho tôi thấy hơn 200 năm Trịnh-Nguyễn phân tranh, 20 năm chia đôi đất nước vì ý thức hệ... người thiệt nhất luôn là người dân bình thường, là “cô gái bên sông” trong các bài “hận”. Chúng Tôi hận chiến tranh, chứ không hận đồng bào.

 

“Một nhà Bắc – Nam” được định nghĩa rộng hơn: Ông bà trước đây định nghĩa “một nhà” là Bắc và Nam không bị chia cắt. Thế hệ AI chúng Tôi định nghĩa “một nhà” với 54 dân tộc thiểu số, trên 90 triệu người Việt trong nước, cùng với 5 triệu người Việt hải ngoại. Nghe “Hận Sông Bến Hải”, Tôi không chỉ nghĩ tới Quảng Trị. Tôi nghĩ tới mọi “dòng sông vô hình” đang chia cắt dân tộc mình, mặc dù chúng ta không định hình được những lằn ranh chia cắt. Chúng ta chia cắt vì vùng miền chê nhau, chia cắt vì giàu - nghèo, chia cắt vì suy nghĩ “phe này - phe kia” trên mạng xã hội. Chúng ta chia cắt vì hai chữ Quốc gia – Cộng sản? GS Nguyễn Ngọc Huy “hận sông” vì sông làm chia đôi đất nước. Còn chúng Tôi “hận” vì kỹ thuật toán, tiến bộ khoa học … chia đôi con người.

 

Từ “mong thống nhất” đến “mong kết nối”: Các ông bà xưa ở hai miền mong xe tăng vượt qua cầu Hiền Lương từ phía Bắc xuống hay từ phía Nam lên. Còn chúng Tôi mong một cú nhích “chuột” là gọi facetime cho bà ngoại ở Nghệ An, cho anh họ ở Sài Gòn, cho cô ở Cali, chúng Tôi mong data chạy nhanh hơn đạn, mong wifi mạnh hơn bom. “Hận Sông Gianh” hơn 200 năm mới liền. Hận Sông Bấn Hải mất 20 năm mới thông thương lại. Bây giờ có cáp quang AAG rồi, chỉ cần một giây thôi là có thể nối liền được ngay.  

 

Thống nhất địa dư đã xong từ năm 1975 rồi.

Bây giờ là thống nhất “tinh thần”.

 

Nếu cố GS Nguyễn Ngọc Huy còn sống tới năm 2026, Tôi nghĩ bác sẽ không viết “Hận Sông Gianh” nữa. Mà sẽ viết:“Nhớ về Sông Gianh” hay “Thương Sông Bến Hải”. Thương vì sông từng là vết thương đẫm máu của cả hai miền. Và nhớ vì nhờ vết thương chia rẽ Đàng Trong và Đàng Ngoài đó mà dân tộc mình hiểu được sự chia cắt đau lắm. Cho nên, hiện giờ có AI, có 4G, có 5G rồi, xin đừng tự cắt - chia nhau nữa!

 

Nói gọn lại là Ông bà đã từng “hận sông” vì sông chia đôi nước. Chúng Tôithương sông” và hứa không để ý tưởng, định kiến... chia đôi lòng người nữa.

7- Lời trần tình của người viết

Sông Gianh và Sông Bến Hải là hai vết thương rỉ máu trong dòng lịch sử Việt, nhưng dù có đau thương đến đâu, các vết thương đó cũng không thể xóa bỏ được tình tự dân tộc Việt Nam. Điều làm dân tộc suy yếu không phải là ký ức lịch sử, mà là hận thù kéo dài và chia rẽ kéo dài. Người Việt có thể khác nhau về quan điểm lịch sử trong quá khứ, nhưng vẫn có thể cùng chung một tình yêu quê hương và trách nhiệm với hiện tại và tương lai đất nước.


Người viết đã từng quan niệm:”Dù muốn dù không, những người CSBV cũng là những người con Việt, cùng nói một ngôn ngữ Việt, chẳng lẽ không cùng đối thoại với nhau hay sao?”. Chính suy nghĩ trên làm cho người viết quyết định ở lại Sài Gòn ngày 30/4/1975. Cũng như quyết định “ra đi” sau hơn bảy năm “sống cùng với chế độ”. Hôm nay, nhìn lại hai quyết định trên, người viết vẫn nghĩ là hai quyết định trên “vẫn không trật” cho dù cũng đã trả một giá tương đối đắt vì đã mất hơn bảy năm… đóng góp cho quê hương?

Hôm nay, xin tiếp tục suy nghĩ, trong thế kỷ XXI và thời đại trí tuệ nhân tạo AI, bài học lớn nhất là:”Lấy tương lai thay cho hận thù, lấy tri thức thay cho giáo điều, lấy việc dung hợp dân tộc thay cho sự chia rẽ dù đứng dưới hình thức nào hay nhãn quan nào!” Và có lẽ điều quý giá nhất mà người Việt cần giữ là:"Chúng ta trước hết là người Việt Nam, rồi sau đó, mới thuộc về bất kỳ phe phái, vùng miền hay thế hệ nào."

Đó chính là cốt lõi của tình tự dân tộc và cũng là con đường để dân tộc Việt Nam phát triển bền vững trong tương lai.

Một người Con Việt – Mai Thanh Truyết

Mùa Vu lan trong Phật giáo - 2026

Tháng của hy vọng và sự biến đổi tâm hồn trong Thiên Chúa giáo

 

 

 

 

No comments:

Post a Comment