Lagom - Wabi-sabi - Tri túc
Ba bài học cho Việt Nam đi tìm giới hạn của chính mình
Nhân loại đang bước vào một giai đoạn p hát triển chưa từng có trong lịch sử. Chỉ trong vòng hơn một thế kỷ, khoa học và kỹ thuật đã đưa con người từ chiếc xe ngựa đến phi thuyền không gian, chuyển thư từ, từ bằng con người, đến ngựa, và ngày nay, đến trí tuệ nhân tạo, từ nền kinh tế nông nghiệp đến nền kinh tế số toàn cầu.
Nhưng nghịch lý lớn
nhất của thời đại chúng ta là càng tiến bộ về vật chất, con người dường như
càng bất an về tinh thần. Ngày nay, thế
giới sản xuất đủ lương thực để nuôi sống toàn thể dân số địa cầu, nhưng hàng
trăm triệu người vẫn đói nghèo. Những thành phố hiện đại mọc lên khắp nơi,
nhưng sự cô đơn và chứng trầm cảm ngày càng phổ biến. Công nghệ kết nối hàng tỷ
người trong vài giây, nhưng lòng tin giữa con người với nhau lại suy giảm
nghiêm trọng. Khủng hoảng môi trường, biến đổi khí hậu, ô nhiễm nguồn nước, suy
giảm đa dạng sinh học và những bất ổn xã hội đang đặt ra một câu hỏi căn bản:”Liệu sự phát triển vật chất có đủ để bảo đảm hạnh phúc
cho nhân loại hay không?”
Có lẽ
đã đến lúc chúng ta cần nhìn lại những giá trị tinh thần đã từng giúp nhiều dân
tộc sống hài hòa với thiên nhiên, với cộng đồng và với chính bản thân mình. Trong
hành trình đó, ba triết lý sống đáng chú ý xuất hiện từ ba nền văn hóa khác
nhau:
- Lagom của Thụy Điển;
- Wabi-sabi của Nhật Bản;
- Tri túc của Phật giáo.
Mỗi triết lý mang một
sắc thái riêng, nhưng tất cả đều hướng đến một mục tiêu chung, đó là giúp con
người tìm lại sự quân bình giữa vật chất và tinh thần, giữa phát triển và đạo
đức, giữa thành công và hạnh phúc.
1-
Khủng hoảng của một nền văn minh tiêu thụ
Sau
cuộc cách mạng công nghiệp, thế giới phương Tây đã xây dựng một mô hình phát
triển dựa trên sản xuất và tiêu dùng liên tục. Một nền kinh tế muốn tăng trưởng
phải bán được nhiều hàng hóa hơn. Nhưng, muốn bán được nhiều hàng hóa hơn phải
kích thích nhu cầu. Và, muốn kích thích nhu cầu phải tạo ra cảm giác thiếu
thốn. Từ đó, đưa đến kết quả là con người bị cuốn vào một cuộc chạy đua không
có điểm dừng. Hôm nay, mua một chiếc xe mới, ngày mai đã có mẫu xe hiện đại hơn,
tối tân hơn! Hôm nay, sở hữu một căn nhà lớn, ngày mai lại muốn mua căn nhà lớn
hơn, rộng hơn nữa! Có địa vị hôm nay, ngày mai lại muốn một địa vị cao hơn! Cả
xã hội vận hành trên giả định rằng hạnh phúc nằm ở phía trước và chỉ đạt được
khi có thêm một điều gì đó.
Tuy
nhiên, thực tế đã và đang chứng minh một điều ngược lại. Nhiều quốc gia
giàu có đang phải đối diện với một sự thật không chối cải là tỷ lệ trầm cảm gia
tăng trong dân chúng, tình trạng cô đơn xã hội xảy ra ở khắp nơi từ những quốc
gia giàu đến tận những nơi cùng khổ, niềm tin cộng đồng ngày càng suy giảm,
tình trạng ô nhiễm môi trường, khủng hoảng đạo đức ở các quốc gia tư bản lẫn
cộng sản. Con người càng ngày càng có thêm nhiều phương tiện để phục
vụ cho nhu cầu sống và sinh hoạt hàng ngày, nhưng lại thiếu lý do để sống, cũng
như không có thì giờ để chiêm nghiệm lại … sự hiện hữu của chính mình!
Đó là
cuộc khủng hoảng sâu xa nhất của nền văn minh hiện đại.
2- Lagom – Một nghệ
thuật sống vừa đủ
Bí quyết để có được sự hạnh
phúc trong cuộc sống hiện đại của người Thụy Điển là Lagom (phát âm là
lah-gom), có nghĩa là không quá thừa cũng không quá thiếu, chỉ vừa
đủ. Về bản chất, lagom có nghĩa là tận hưởng một cuộc sống đơn
giản, tìm kiếm sự cân bằng trong mọi khía cạnh của cuộc sống và
tập trung vào những gì thực sự quan trọng khiến bạn hạnh phúc. Lagom có nghĩa là biết được điều gì là thiết
yếu trong cuộc sống của bạn và biết những thứ không thực sự cần
đến. Người Thụy Điển coi lagom như là một kim chỉ nam trong
cuộc sống. Một số ý kiến cho rằng lagom có thể là một lối sống
tiêu cực, bởi nó dựa trên sự chối bỏ vật chất. Tuy nhiên, với sự
bền bỉ chứng minh, người Thụy Điển đã cho chúng ta thấy lagom đã
thực sự cải thiện cuộc sống bằng cách nắm lấy sự "vừa
đủ".
Trong một thế giới có
nhịp độ sống nhanh, bạn sẽ trở nên tuyệt vời nếu bạn có thể sống chậm lại và tận
hưởng một cuộc sống với ít áp lực hơn, ít căng thẳng hơn và có nhiều thời gian
hơn cho mọi thứ bạn yêu thích, phải không?
Về bản chất, Lagom có nghĩa là tận hưởng một cuộc sống đơn giản, tìm kiếm
sự cân bằng trong mọi khía cạnh của cuộc sống và tập trung vào những gì thực sự
quan trọng khiến bạn hạnh phúc. Lagom – Một chữ đơn độc nầy,
gói gọn toàn thể triết lý dân chủ xã hội của Thụy Điển về cuộc sống rằng:”mọi người nên có đủ nhưng không quá nhiều” – “that
everyone should have enough but not too much.”
Tại văn phòng, những chuyên
gia làm việc chăm chỉ, nhưng không làm tổn hại đến những phần khác trong cuộc sống
của họ. Thay vì đốt cháy bản thân với một tuần làm việc 60 giờ và sau đó bị
căng thẳng, Lagom khuyến khích sự cân bằng và sống ở đâu đó ở giữa -
living somewhere in the middle. Các tính năng khác bao gồm tiết
kiệm, giảm căng thẳng, tạo ra sự cân bằng hoàn hảo giữa công việc và giải trí
và tập trung vào các mối quan tâm về môi trường và tính bền vững cũng nằm trọn
vẹn trong chữ Lagom.
Câu tục ngữ cổ điển của Thụy
Điển, “Lagom är bäst”, nghĩa đen là, “Lượng vừa đủ là tốt nhứt” nhưng
cũng được dịch là “Đủ tốt như một bữa lễ lạc” và “Có đức có chừng mực”. “Enough
is as good as a feast” and “There is virtue in moderation”.
Đến đây, chắc bạn đang tập thể dục Lagom về nhiều mặt trong cuộc sống của bạn rồi.
Nếu có một chữ để định
nghĩa cuộc sống hiện đại của chúng ta ngày nay, thì đó chính là
thừa thãi. Chúng ta đang sở hữu quá nhiều thứ, thậm chí cả những
thứ chúng ta chẳng bao giờ cần đến. Bên cạnh đó, suy nghĩ về một
cuộc sống hoàn hảo vô hình đã tạo ra cho chúng ta quá nhiều áp lực.
·
Bạn đã bao giờ ngắm nghía cuộc sống của
một người hoàn toàn lạ trên Facebook, Instagram và rồi ao ước rằng
mình cũng như họ?
·
Bạn đã bao giờ mua những bộ áo đắt tiền
nhưng rồi để chúng trong tủ quần áo đến cả năm trời không mặc lấy
một lần?
·
Bạn đã bao giờ cảm thấy quá mệt mỏi
với việc chạy đua theo chủ nghĩa vật chất, để lấp đầy cuộc sống
của bản thân trong khi tâm hồn thì lại thiếu thốn?
Đây là lúc bạn cần biết đến Lagom, bí quyết sống hạnh phúc của người Thụy Điển. Đối với người Thụy Điển, Lagom là một lối sống, một thói quen của tâm trí. "Có một tư duy bên trong về sự chấp nhận và hài lòng ở Thụy Điển. Đó là một phần của bí quyết để trở nên hạnh phúc và đừng ám ảnh về điều đó. Triết lý của Lagom rất đơn giản và cung cấp một giải pháp thay thế cho ý tưởng “luôn tìm kiếm điều tốt nhất tiếp theo”. Khái niệm này khuyến khích sự cân bằng tổng thể trong cuộc sống của chúng ta, nghĩa là mọi thứ ở mức độ vừa phải. Nó đối lập với chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa tiêu dùng. Người Thụy Điển, đa số có một cuộc sống cân bằng. Họ làm việc chăm chỉ nhưng không để công việc hủy hoại gia đình. Hô tiêu dùng hợp lý nhưng không phung phí. Họ nghỉ ngơi đầy đủ nhưng không buông thả. Họ hưởng thụ cuộc sống nhưng không lệ thuộc vào vật chất.
Lagom
phản ánh một nền văn hóa coi trọng sự điều độ và trách nhiệm xã hội. Người Thụy
Điển thường tránh sự phô trương, ngay cả những người thành đạt cũng ít khi khoe
khoang tài sản hay địa vị. Vì họ tin rằng giá trị của con người không nằm ở những gì sở hữu mà ở cách sống và
những đóng góp cho cộng đồng.
Trong
lĩnh vực môi trường, Lagom cũng có ý nghĩa đặc biệt. Một xã hội biết sống vừa
đủ sẽ giảm thiểu việc tiêu thụ không cần thiết; giảm lượng rác thải; giảm áp
lực lên tài nguyên thiên nhiên; và tăng tính bền vững cho/vì các thế hệ tương
lai.
Nói
cách khác, Lagom không chỉ là một triết lý cá nhân mà còn là một triết lý phát
triển xã hội nghiêm chỉnh nhứt.
3- Wabi-sabi - Vẻ
đẹp của sự bất toàn
Wabi sabi là một triết lý thẩm mỹ cổ xưa bắt nguồn từ Thiền tông, đặc biệt là trà đạo, một nghi lễ thuần khiết và đơn giản, trong đó các bậc thầy được đánh giá cao cái chén được làm thủ công và hình dạng bất thường, với men không đồng đều, vết nứt, và vẻ đẹp hư hỏng trong sự không hoàn hảo có chủ ý của của người tạo ra cái chén.
Triết lý Nhật Bản tôn vinh vẻ
đẹp trong những gì là tự nhiên, sai sót và tất cả những gì không hoàn chỉnh.
Các chén cổ trong phòng khách
của bạn được đánh giá cao vì những vết nứt và sứt mẻ của nó?
Điều gì sẽ xảy ra nếu chúng ta học cách “phát giải thưởng”
những bất toàn, vết nứt trong lòng và những khiếm khuyết trong cuộc sống lộn xộn
của chúng ta?
Wabi-Sabi (侘 寂), một thuật ngữ Nhật Bản có thể hiểu như là sự
chấp nhận tính phù du (transience) và sự không hoàn hảo. Đây là một phong
cách sống giúp chúng ta cảm nhận và trân trọng vẻ đẹp của những thứ không hoàn
hảo, không vĩnh viễn, không trọn vẹn và từ những thứ khiếm khuyết nầy, một thứ
tưởng chừng vô dụng, xấu xí lại có vẻ đẹp tiềm ẩn đến bất ngờ. Nếu sự luôn đổi mới là trò chơi suốt cuộc đời
bạn, việc
theo đuổi sự hoàn hảo không phải là cách để đạt được điều đó. Chúng ta hãy xem xét vẻ đẹp của một cái chén
bị móp méo rồi từ đó chúng ta sẽ nghiệm ra…cái đẹp!
Khi con người chúng ta nhận định những “cái nhứt” như: cà phê tốt nhứt, xe tốt nhứt, điện thoại tốt nhứt, ứng dụng tốt nhứt, trường học tốt nhứt, bác sĩ giỏi nhứt, đầu bếp giỏi nhứt, công ty tốt nhứt, CEO giỏi nhứt, lực sĩ giỏi nhứt, huấn luyện viên giỏi nhứt, các nhà thiết kế tốt nhứt, diễn viên xuất sắc nhứt, phim hay nhứt, trang phục đẹp nhứt, nhà thiết kế tốt nhứt của trang phục đẹp nhứt, đạo diễn xuất sắc nhứt của những nữ diễn viên xuất sắc nhứt mặc trang phục đẹp nhứt và danh mục bắt mắt nhứt.v.v…Và, để làm nổi bật sự ngưỡng mộ của chúng ta về các sự “nhứt” trên, chúng ta tạo ra danh sách, viết lên banner và làm các nghi lễ để tưởng thưởng. v.v… như: trải thảm đỏ, chuẩn bị giải thưởng và danh hiệu sáng bóng, làm giấy chứng nhận.
Thực
sự, những cái nhứt trên đã là “nhứt” chưa?
Do đó, sẽ còn những cái nhứt
tiếp theo khi có sự đổi mới do con người tạo ra.
Tuy nhiên, nơi hoàn hảo nhứt đối
với sự đổi mới là gì?
Trong một thế giới hoàn hảo,
những ý tưởng hay nhứt sẽ thu hút những người tốt nhứt. Nhưng, trong thực tế, chúng ta hiếm
khi nghĩ đến những ý tưởng tốt nhứt đưa ta đến thành công. Thường
xuyên hơn, sự đổi mới bắt đầu với những ý tưởng không hoàn hảo được kết hợp với
nhau bởi một nhóm ý tưởng không giống nhau và đồng dạng. Tất cả có thể đưa đến
cơ hội không hoàn hảo!
Nếu chúng ta có một ý tưởng
tuyệt vời, thì cần phải mất một thập kỷ để ý tưởng đó được chú ý đến. Đó là
không hoàn hảo. Đổi mới không phải là một khoa học hoàn hảo và do đó không nên
được thực hiện như thể nó là hoàn hảo. Chúng ta cần các số liệu mới, các quy
trình mới và các ưu đãi mới để khuyến khích việc theo đuổi và công nhận sự
không hoàn hảo của cuộc sống thực tế. Nhưng trước khi chúng ta bắt đầu xây dựng
các căn bản tối thiểu để hỗ trợ sự đổi mới, trước hết chúng ta phải thay đổi thế giới
quan của mình. Chúng ta không chỉ phải
thay đổi cách chúng ta nghĩ mà còn là những gì chúng ta tin. Chúng
ta phải học cách chấp nhận sự không hoàn hảo như một tài sản trong quá trình đổi
mới trong ta.
4- Tri
túc – Trí tuệ của sự biết đủ
Tri túc (知足) trong Phật giáo có nghĩa là biết đủ. Đây là trạng thái hài lòng, an vui với những gì mình đang có trong hiện tại, nỗ lực làm việc chân chính nhưng không để tâm tham đắm, mong cầu vượt quá giới hạn gây ra phiền não. Tri túc không có nghĩa là thụ động, lười biếng hay từ bỏ mọi mục tiêu tranh đấu. Trái lại, đây là phương thức làm chủ tâm trí, bảo vệ con người khỏi vòng xoáy của lòng tham và sự bất mãn.
Nếu
Lagom nói về sự cân bằng và Wabi-sabi nói về sự chấp nhận, thì Tri túc trong
Phật giáo nói về sự giải phóng nội tâm. Trong kinh điển Phật giáo có câu:“Tri
túc giả phú”, tức “Người
biết đủ là người giàu có”. Đây là một trong những định nghĩa sâu sắc nhất về sự
giàu có. Thông thường, xã hội đánh giá sự giàu có bằng tài sản, nhưng Phật giáo
đánh giá bằng mức độ tự do và thoát khỏi lòng tham. Một người sở hữu hàng tỷ đô
la nhưng luôn bất an vẫn là người nghèo về tinh thần, nhưng, ngược lại, một
người sống giản dị nhưng thanh thản có thể là người giàu có thực sự. Từ đó, tri
túc không phải là thái độ an phận hay từ bỏ mọi nỗ lực.
Đức Phật không khuyến khích con người lười biếng. Ngài chỉ nhắc rằng, mọi ham muốn đều cần có giới hạn, và khi lòng tham trở thành động lực chính của đời sống, con người sẽ không bao giờ cảm thấy đủ. Và khi không bao giờ cảm thấy đủ, hạnh phúc sẽ mãi mãi nằm ngoài tầm tay. Vì vậy, tri túc là nghệ thuật nhận ra giá trị của những gì mình đang có.
Đó là
nền tảng của lòng biết ơn, của sự bình an và của tự do nội tâm.
5- Những điểm tương
đồng giữa ba triết lý
Dù
xuất phát từ ba hoàn cảnh văn hóa khác nhau, Lagom, Wabi-sabi và Tri túc có
nhiều điểm gặp gỡ và trùng hợp, cùng bổ túc lẫn nhau đáng kinh ngạc. Cả ba đều
không khuyến khích sự thái quá, đề cao sự giản dị, tôn trọng thiên nhiên và
nuôi dưỡng lòng nhân ái. Về việc không
khuyến khích sự thái quá. Lagom phản
đối việc tiêu dùng quá mức. Wabi-sabi phản đối sự theo đuổi hoàn hảo tuyệt đối.
Tri túc phản đối lòng tham vô hạn. Tất cả
đều hướng con người về sự quân bình.
Về việc đề cao sự giản dị, trong một thế giới ngày càng phức
tạp, cả ba triết lý đều khẳng quyết rằng giá trị của cuộc sống không nằm ở số
lượng mà nằm ở chiều sâu, thà ít hơn nhưng ý nghĩa hơn, thà đơn giản hơn nhưng
nhân bản hơn.
Về việc tôn trọng thiên nhiên, Lagom
hướng đến sự tiêu dùng bền vững, Wabi-sabi tìm thấy vẻ đẹp trong những chu kỳ
tự nhiên của trời đất, và Tri túc khuyến khích giảm thiểu lòng tham đối với tài
nguyên vật chất. Đây chính là những giá trị cần thiết cho việc bảo vệ môi
trường trong thế kỷ XXI.
Về việc nuôi dưỡng lòng nhân ái, rõ ràng, người biết đủ thường ít
ganh đua hơn (Tri túc), người chấp nhận bất toàn thường
khoan dung hơn (Wabi-sabi), và người sống cân bằng thường dễ cảm thông hơn
(Lagom).
Tóm
lại, ba triết lý này đều góp phần xây dựng một xã hội nhân ái và hòa hợp.
6- Ý nghĩa đối
với Việt Nam
Những
triết lý lớn chỉ có giá trị khi chúng góp phần làm cho cuộc sống con người tốt
đẹp hơn. Lagom, Wabi-sabi và Tri túc không phải là những khái niệm để trưng bày
trong sách vở hay giảng đường. Chúng có thể trở thành những nguyên tắc thực
tiễn giúp chúng ta định hướng được sự phát triển của xã hội trong tương lai.
Việt
Nam đang ở một giai đoạn phát triển đầy cơ hội nhưng cũng đầy thách thức. Trong
nhiều thập niên qua, đất nước đã đạt được những thành tựu đáng kể về kinh tế;
tuy nhiên, cùng với sự phát triển ấy là nhiều vấn đề đáng suy nghĩ và cần đặt
lại, như tình trạng ô nhiễm môi trường, việc khai thác tài nguyên quá mức. Về
giáo dục, chương trình học tập, áp lực học sinh, bệnh thành tích, cùng việc
chạy theo chỉ tiêu là những vấn nạn căn bản cần xét lại. Sự xuống cấp của các
giá trị đạo đức trong xã hội cùng tâm lý sính vật chất ngày càng làm cho xã hội
thoái hóa thêm ra. Và sau cùng, nguy hại tiềm ẩn nhứt là tình trạng căng thẳng
và lo âu trong giới trẻ trước tương lai.
Những
hiện tượng này cho thấy tăng trưởng kinh tế, dù cần thiết, không thể là mục
tiêu duy nhất cho việc phát triển quốc gia. Một quốc gia muốn phát triển bền vững
cần phải có một nền tảng văn hóa và đạo đức vững chắc. Lagom có thể giúp hình thành một nền
văn hóa tiêu dùng có trách nhiệm; Wabi-sabi có thể giúp con người trân trọng
bản sắc dân tộc và vẻ đẹp của những giá trị truyền thống; và Tri túc có thể
giúp hạn chế lòng tham và củng cố tinh thần phụng sự cộng đồng.
Đó
không phải là sự quay lưng với hiện đại hóa. Ngược lại, đó là cách làm cho hiện
đại hóa trở nên nhân bản và đạo đức hơn. Đối với Việt Nam, điều này càng có ý
nghĩa đặc biệt.
Về môi trường: Biết đủ để thiên nhiên được hồi phục. Trong hơn nửa thế kỷ
qua, nhân loại đã khai thác thiên nhiên với tốc độ chưa từng có. Rừng bị tàn
phá. Nguồn nước bị ô nhiễm. Đất đai bị thoái hóa. Biển cả bị khai thác quá mức.
Nguyên nhân sâu xa không phải do khoa học kỹ thuật. Nguyên nhân nằm ở
lòng tham không có giới hạn. Con người luôn muốn nhiều hơn, nhiều gỗ
hơn, nhiều khoáng sản hơn, nhiều năng lượng hơn, nhiều lợi nhuận hơn. Trong tình
trạng đó, Lagom và Tri túc đưa ra một bài học quan trọng:
·
Thiên nhiên không cần con người cứu
giúp.
·
Thiên nhiên chỉ cần con người ngừng
phá hoại.
Một
xã hội biết đủ sẽ giảm tiêu thụ không cần thiết. Một nền kinh tế biết đủ sẽ
khai thác tài nguyên trong giới hạn tái tạo. Một quốc gia biết đủ sẽ đặt quyền
lợi của các thế hệ tương lai ngang hàng với lợi ích trước mắt. Có lẽ trong thế
kỷ XXI, khẩu hiệu phát triển cần được thay đổi. Không phải: “Phát triển bằng
mọi giá.” Mà là: “Phát
triển trong giới hạn của thiên nhiên.”
Đối với nền giáo
dục hiện đại thường tập trung vào kiến thức và
kỹ năng. Giáo dục ở Việt Nam hiện nay chánh yếu dạy học sinh nhiều hình thức
cạnh tranh khác nhau, ít khi dạy các em cách sống hạnh phúc. Người trẻ sau khi
tốt nghiệp, được học đủ mọi cách cách kiếm tiền dù lương thiện hay không lương
thiện. Tuổi trẻ cố gắng học những phương cách thành công ngoài xã hội nhưng
không được học (hay không muốn học) cách đối diện với sự thất bại! Do đó, một nền giáo dục tương lai cần bổ túc thêm những giá trị đạo đức và
triết học nhân sinh. Học sinh, sinh viên cần hiểu rằng, không ai
hoàn hảo, không ai chiến thắng mãi mãi, không ai sở hữu mọi thứ mình muốn. Trái
lại, ai cũng có thể sống một cuộc đời có ý nghĩa. Một khi biết đủ, con người sẽ
bớt ganh đua. Một khi chấp nhận bất toàn, con người sẽ bớt tự ti. Một khi sống
cân bằng, con người sẽ bớt kiệt sức. Đó là những bài học quan trọng không kém
toán học hay khoa học kỹ thuật.
Điều
đó rất cần thiết, nhưng chưa đủ. Một học sinh có thể giỏi toán có thể giỏi khoa
học, có thể giỏi công nghệ, nhưng vẫn có thể trở thành một người ích kỷ, tham
lam hoặc vô cảm. Do đó, giáo dục tương lai phải đặt lại câu hỏi:”Mục đích cuối cùng
của giáo dục là gì?” Nếu câu trả lời chỉ là tạo ra nguồn nhân
lực thì giáo dục đã thất bại. Giáo dục phải đào tạo những con người có trách
nhiệm với xã hội và với môi trường.
·
Tinh thần Lagom có thể dạy học sinh
biết sống cân bằng.
·
Wabi-sabi giúp các em chấp nhận
những khiếm khuyết của bản thân và của người khác.
·
Tri túc giúp các em hiểu rằng giá
trị con người không được đo bằng tiền bạc hay địa vị.
Một
nền giáo dục như thế sẽ tạo ra những công dân trưởng thành chứ không chỉ những
người lao động có kỹ năng.
Về y tế, ngày nay, nhiều
căn bệnh phổ biến không chỉ xuất phát từ vi khuẩn hay virus. Chúng bắt nguồn từ
lối sống, cung cách ăn uống, và tâm lý buông thả. Từ đó sinh ra bịnh béo phì,
tiểu đường, cao huyết áp, bị áp lực (stress), trầm cảm, tâm lý lo âu kéo dài. Những
chứng bệnh ấy thường liên quan đến nhịp sống quá nhanh, áp lực quá lớn và những
ham muốn không có điểm dừng. Và trong lãnh vực nầy:
·
Lagom khuyến khích một lối sống điều
độ là làm việc vừa phải, ăn uống hợp lý, và nghỉ ngơi đầy đủ.
·
Wabi-sabi giúp con người chấp nhận
quá trình lão hóa tự nhiên thay vì sống trong nỗi ám ảnh phải trẻ mãi.
·
Tri túc giúp giảm bớt những căng
thẳng phát sinh từ sự so sánh và cạnh tranh không ngừng.
Vì
vậy, một hệ thống y tế tiến bộ không chỉ chữa bệnh khi bệnh đã xuất hiện, mà còn
cần đề phòng bịnh nữa. Nó còn giúp xây dựng những điều kiện xã hội để con người
sống khỏe mạnh ngay từ đầu.
7-. Một nền văn
minh của lòng biết đủ
Có
thể nói rằng phần lớn các cuộc khủng hoảng hiện nay trên thế giới đều bắt nguồn
từ một nguyên nhân chung cho nhân loại rằng con người muốn nhiều hơn mức cần
thiết, muốn tiêu thụ nhiều hơn, muốn khai thác nhiều hơn, muốn thống trị nhiều
hơn, muốn sở hữu nhiều hơn. Nhưng Trái Đất có giới hạn, Tài nguyên có giới hạn,
và Tuổi thọ cũng có giới hạn. Và ngay cả cuộc đời con người cũng có giới hạn!
Do đó, một nền văn minh bền vững không thể được xây dựng trên những ham muốn vô
hạn. Một nền văn minh bề vững phải được xây dựng trên ý thức về giới hạn. Ý thức ấy chính là
điểm gặp nhau của Lagom, Wabi-sabi và Tri túc.
7- Thay lời kết
Lagom
của Thụy Điển dạy chúng ta nghệ thuật sống vừa đủ. Wabi-sabi của Nhật Bản dạy
chúng ta vẻ đẹp của sự bất toàn. Tri túc của Phật giáo dạy chúng ta sự tự do tránh
khỏi lòng tham. Ba triết lý ấy không phải là những học thuyết kinh tế hay những
chương trình chính trị. Chúng là những lời nhắc nhở sâu sắc về thân phận con
người.
Trong
một thế giới mà mọi người đều muốn tiến nhanh hơn, sở hữu nhiều hơn và tiêu thụ
nhiều hơn, các triết lý ấy nhắc chúng ta dừng lại để tự hỏi chính mính:
Ta đang sống vì điều gì?
Ta cần bao nhiêu là đủ?
Điều gì thực sự tạo nên hạnh phúc?
Có lẽ
câu trả lời không nằm trong những tòa nhà cao hơn, những chiếc máy hiện đại hơn
hay những tài khoản ngân hàng lớn hơn. Mà câu trả lời nằm trong khả năng sống hài hòa với thiên
nhiên, với cộng đồng và với chính bản thân mình. Một con người
biết đủ sẽ có bình an. Một xã hội biết đủ sẽ có công bằng. Một nền văn minh
biết đủ sẽ có tương lai. Đó có lẽ là thông điệp quý giá nhất mà Lagom,
Wabi-sabi và Tri túc gửi đến nhân loại trong thế kỷ XXI.
Từ “phát triển bằng
mọi giá” đến “phát triển có giới hạn và có lương tri”. Nếu cần phải
tóm tắt ba triết lý này trong ba động từ, có thể nói:”Lagom
chỉ cho ta biết giới hạn. Wabi-sabi chỉ cho ta biết chấp nhận. Tri túc chỉ cho
ta biết buông bỏ”. Ba bài học ấy tưởng chừng như giản dị, nhưng
chính sự giản dị đó lại là điều mà nền văn minh hiện đại đang bị đánh mất.
Chúng ta đã học cách khai thác thiên nhiên, nhưng chưa học đủ các phương cách
phải dừng lại trước khi thiên nhiên bị thoái hóa và biến thành sa mạc hóa.
Chúng ta đã học cách cạnh tranh để thành công, nhưng chưa học đủ cách sống tử
tế để không hủy hoại nhau. Chúng ta đã học cách sản xuất nhiều hơn, nhưng chưa
học đủ cách nhận ra điều gì là đủ, là điểm tới hạn (threshold limit) nào để
dừng lại trước khi quá muộn.
Vấn đề của thế kỷ XXI không còn là sự khiếm
khuyết về năng lực khoa học kỹ thuật. Vấn đề chánh yếu vẫn là thiếu giới hạn
đạo đức đối với việc sử dụng năng lực ấy. Không có trí tuệ nào đủ lớn để bù cho
một lòng tham không giới hạn của một cá nhân hay một tập thể lãnh đạo quốc gia.
Không có tăng trưởng nào đủ nhanh để cứu một xã hội đánh mất niềm tin và lòng
nhân ái. Không có công nghệ nào đủ hiện đại để thay thế một nền đạo đức biết tự
kiềm chế.
Vì vậy, bài học sâu xa nhất của
Lagom, Wabi-sabi và Tri túc không phải là sống ít đi, nghèo đi hay chậm lại một
cách cực đoan. Bài học ấy chính là con người phải học
cách đặt giới hạn cho sự ham muốn của mình trước khi những điều kể trên đạt tới
giới hạn của thiên nhiên, của xã hội và của chính sự sống bị áp đặt bằng những
khủng hoảng nội tâm. Đối với Việt
Nam, điều cần thiết không chỉ là một nền kinh tế mạnh hơn, mà là:
·
Một nền kinh tế biết tự giới hạn
trong khuôn khổ sinh thái;
·
Không chỉ là một hệ thống giáo dục
cạnh tranh hơn, mà là một nền giáo dục dạy lòng biết đủ và trách nhiệm công
dân;
·
Không chỉ là một nền y tế chữa được
nhiều bệnh hơn, mà còn là một xã hội tạo ra ít nguyên nhân gây bệnh hơn;
·
Không chỉ là những đô thị lớn hơn,
mà còn là những cộng đồng đáng sống hơn. (Mời đọc “Việt Nam Tương Lai. Tập I và
II của cùng tác giả. Xuất bản năm 2014).
Một dân tộc biết đủ sẽ khó bị lôi
kéo vào những cuộc chạy đua nhằm hủy hoại chính đất nước mình. Một dân tộc biết
chấp nhận sự bất toàn sẽ khoan dung hơn với sự khác biệt và mạnh mẽ hơn trước những
biến động. Một dân tộc biết tự giới hạn lòng tham sẽ có cơ hội phát triển bền
vững mà không phải trả giá bằng môi trường, sức khỏe và phẩm giá của con người.
Trong nhiều thế kỷ, nhân loại đã đặt
câu hỏi: “Làm sao để mạnh hơn?” Có lẽ câu hỏi của thời đại mới phải là: “Làm sao để mạnh mà
không tự hủy diệt mình?” Nếu
không học được bài học ấy, mọi thành tựu vật chất cuối cùng có thể chỉ là những
công trình xây trên nền đất đang lún. Nếu học được bài học ấy, nhân loại vẫn
còn cơ hội xây dựng một nền văn minh mà ở đó phát triển không đối nghịch với
đạo đức, giàu có không đồng nghĩa với tham lam, và tiến bộ không phải trả giá
bằng tương lai của những thế hệ chưa sinh ra. Đó không chỉ là một lựa chọn
triết học. Đó là một lựa chọn sinh tồn.
Và Việt Nam, chắc chắn sẽ không có
sự lựa chọn nào khác nữa!
Mai Thanh Truyết
Con đường Việt Nam
Mùa Phật đản 2026
No comments:
Post a Comment