Mai Thanh Truyết _EnviroVN
Saturday, March 29, 2025
MẠN ĐÀM VỀ CON ĐƯỜNG DÂN CHỦ HÓA VIỆT NAM
Chương trình Paris Trà Đàm do ca sĩ Đình Đại phụ trách qua cuộc phỏng vấn TS Mai Thanh Truyết về lộ trình dân chủ hóa Việt Nam ngày 29/3/2024
Đình Đại: Thưa GS, với tình hình biến động nhanh chóng của thế giới, hơn lúc nào hết con đường dân chủ hóa đất nước trở nên cấp bách và cần thiết để chứng tỏ VN có khả năng hoà nhập với trào lưu tiến bộ của nhân loại, vậy thưa giáo sư, VN cần những điều kiện gì để có thể tiến nhanh trên con đường dân chủ hóa ?
MTT: Dân chủ hóa là một quá trình phức tạp, đòi hỏi nhiều điều kiện để có thể diễn ra một cách suôn sẻ và bền vững. Đối với Việt Nam, có một số yếu tố quan trọng cần được xem xét nếu muốn đẩy nhanh tiến trình này:
Cải cách thể chế và pháp luật mà chính TBT Tô Lâm kêu gọi phải xóa tan các điểm nghẽn của chế độ. Và những điểm nghẽn ở VN có vô số đến từ não trạng chuyên chính vô sản của CSBV như: - Xây dựng một hệ thống pháp luật minh bạch, - Bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do lập hội, và quyền bầu cử thực sự cạnh tranh; - Bảo đảm tam quyền phân lập (lập pháp, hành pháp, tư pháp) để hạn chế sự lạm quyền và nâng cao hiệu quả giám sát.
Phát triển xã hội dân sự: Khuyến khích sự hình thành và phát triển của các tổ chức phi chính phủ, các hội đoàn độc lập, tạo không gian để người dân có thể tham gia vào các vấn đề chính trị - xã hội, cùng thúc đẩy quyền công dân, giúp người dân hiểu về trách nhiệm và quyền lợi của mình trong một xã hội dân chủ.
Cải cách kinh tế và nâng cao đời sống người dân nhằm xây dựng một nền kinh tế thị trường minh bạch, ít tham nhũng sẽ tạo ra một tầng lớp trung lưu mạnh, vốn là lực lượng quan trọng trong quá trình dân chủ hóa và tăng cường hệ thống an sinh xã hội để giảm bất bình đẳng, đảm bảo mọi tầng lớp có cơ hội tham gia vào đời sống chính trị.
Giáo dục và nâng cao nhận thức về dân chủ: Giáo dục không chỉ tập trung vào kiến thức chuyên môn mà còn cần nâng cao nhận thức về quyền con người, tư duy phản biện và tinh thần trách nhiệm công dân, cũng như tạo ra một nền giáo dục cởi mở, khuyến khích sự đa dạng tư tưởng và tranh luận tự do.
Sự đồng thuận của tầng lớp lãnh đạo và áp lực từ xã hội qua những thay đổi bền vững thường cần có sự ủng hộ từ một bộ phận trong giới lãnh đạo, kết hợp với áp lực từ người dân để thúc đẩy cải cách. Sự thay đổi cần phải có lộ trình và tránh những biến động cực đoan có thể gây bất ổn.
Học hỏi từ các nước đã dân chủ hóa thành công. Quan sát và rút kinh nghiệm từ các quốc gia Đông Á như Hàn Quốc, Đài Loan, hay các nước Đông Âu để tìm ra mô hình phù hợp nhất với điều kiện của Việt Nam.
Thẳng thắn mà nói, nếu hỏi, Cuộc cách mạng bất tuân dân sự có thể xảy ra cho Việt Nam hay không?
Nếu có, thì thực hiện như thế nào?
Cuộc cách mạng bất tuân dân sự là một chiến lược nhằm thay đổi chế độ chính trị, thông qua việc từ chối tuân thủ các luật lệ và chính sách mà người dân cho là bất công, và không xử dụng bạo lực. Câu hỏi về việc liệu một cuộc cách mạng bất tuân dân sự có thể xảy ra ở Việt Nam hay không là một vấn đề rất phức tạp và có nhiều yếu tố cần phải xem xét, bao gồm cả tình hình chính trị, sự đàn áp của chế độ và phản ứng của người dân. Tuy nhiên, nếu xét từ một góc độ lý thuyết, thì việc thực hiện một cuộc cách mạng bất tuân dân sự ở Việt Nam là khả thi, mặc dù rất khó khăn.
Trước hết, cần tạo ra sự đồng thuận trong xã hội: Đoàn kết các lực lượng xã hội: Một cuộc cách mạng bất tuân dân sự sẽ cần sự tham gia của nhiều nhóm xã hội khác nhau, từ các trí thức, thanh niên, công nhân cho đến các nhóm dân tộc thiểu số. Sự bất mãn về những vấn đề như tham nhũng, thiếu tự do chính trị, và nghèo đói có thể là những yếu tố khơi dậy tinh thần đoàn kết. Tăng cường các phong trào xã hội dân sự: Xây dựng và phát triển xã hội dân sự có thể đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức các cuộc biểu tình và các hành động bất tuân. Các tổ chức phi chính phủ, các nhóm bảo vệ quyền con người, và các phong trào đòi quyền lợi có thể là những nền tảng để huy động sự tham gia của người dân.
Thứ đến, cần xử dụng các hình thức bất tuân không bạo lực: Biểu tình, đình công và các cuộc tẩy chay: Một trong những hình thức cơ bản của bất tuân dân sự là tổ chức các cuộc biểu tình ôn hòa, đình công hoặc tẩy chay các hoạt động mà chính quyền tổ chức. Đây có thể là các hành động nhằm vào những vấn đề cụ thể, chẳng hạn như phản đối các chính sách bất công hoặc các vấn đề xã hội như tham nhũng, môi trường, hoặc việc đàn áp quyền tự do ngôn luận.
Chúng ta còn nhớ, ngay gần cuối cuộc chiến ở Việt Nam, Ông David Steinman, một luật sư Hoa Kỳ và cộng sự viên của TNS Daniel Moynihan, đến gặp GS Vũ Quốc Thúc và cho biết rằng Hoa Kỳ không muốn cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu công khai tham gia hội thảo mà nên đứng sau hội trường. Ông Steinman cũng khuyến cáo rằng:“Sớm muộn gì quý vị cũng phải dùng biện pháp bất tuân dân sự (civil disobedience). Phải có phong trào bất tuân dân sự trên toàn quốc mới hy vọng thay đổi được chế độ cộng sản độc tài.”
Những kết luận có được từ sách vở phần nhiều không phải là các đáp số toán học rõ ràng. Chính xác hơn, chúng không phải là những phép tính cộng trừ nhân chia đơn giản, mà giống như những phương trình phức tạp với nhiều ẩn số cần được tiếp tục giải đáp.
Đình Đại: Nói chuyên hôm nay để có tầm nhìn chiến lược cho tương lai, thì chúng ta không thể nào quên quá khứ được. Con đường dân chủ hóa ở một chừng mực nào đó đã xuất hiện ở VN trước đây hơn nửa thế kỷ. Và năm hiện hữu của nền Cộng Hòa, tuy là phải phát triển trong bối cảnh chiến tranh tàn khốc, nhưng thể chế ấy được xem là đã có những nền móng căn bản cho một tiến trình dân chủ thật sự. Xin gs cho biết đôi chút về vấn đề này.
MTT: Nhìn lại lịch sử Việt Nam trong thế kỷ 20, có thể thấy rằng tiến trình dân chủ hóa từng có những dấu ấn quan trọng, đặc biệt là trong giai đoạn của nền Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa (1955-1975) tại miền Nam Việt Nam. Dù tồn tại trong hoàn cảnh chiến tranh, các thể chế này vẫn có những yếu tố đặt nền móng cho một mô hình dân chủ.
1. Hiến pháp và hệ thống chính trị
• Hiến pháp 1956 và Hiến pháp 1967 đều nhấn mạnh đến việc tổ chức một nhà nước theo mô hình dân chủ đại nghị với tam quyền phân lập rõ ràng.
• Quyền tự do lập hội, tự do báo chí, và quyền bầu cử được bảo đảm trên lý thuyết, dù trong thực tế vẫn còn hạn chế do tình hình chiến tranh.
2. Đa nguyên chính trị
• So với các thể chế độc tài quân sự trong khu vực vào thời điểm đó, miền Nam có một môi trường chính trị tương đối đa nguyên hơn. Có các đảng phái chính trị hoạt động, có các cuộc bầu cử tổng thống, bầu cử quốc hội với sự tham gia của nhiều ứng cử viên.
• Báo chí và truyền thông có giai đoạn phát triển mạnh, phản ánh nhiều góc nhìn khác nhau về chính trị - xã hội.
3. Giáo dục và tầng lớp trung lưu
• Hệ thống giáo dục miền Nam thời đó được đánh giá cao về tính khai phóng, giúp hình thành một tầng lớp trí thức có tư duy độc lập, đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy các giá trị dân chủ.
• Sự phát triển của tầng lớp trung lưu, đặc biệt là ở các đô thị lớn như Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng, giúp tạo ra một nền tảng xã hội quan trọng cho dân chủ hóa.
4. Tuy nhiên cũng có những …thách thức và hạn chế
• Chiến tranh và bất ổn: Việc phải đối diện với chiến tranh liên miên khiến tiến trình dân chủ bị hạn chế, nhiều biện pháp khẩn cấp được áp dụng làm giảm mức độ tự do chính trị.
• Tham nhũng và khủng hoảng chính trị: Nội bộ chính quyền có nhiều giai đoạn bất ổn, các cuộc đảo chính quân sự (đặc biệt là sau 1963) đã làm suy yếu nền tảng dân chủ.
• Ảnh hưởng của các cường quốc: Sự can thiệp từ bên ngoài, đặc biệt là từ Mỹ, đôi khi ảnh hưởng đến sự phát triển chính trị tự chủ của chính quyền miền Nam.
Các bài học từ lịch sử cho chúng ta thấy được rằng, dù còn nhiều điều cần phải chỉnh sửa, nền Cộng Hòa tại miền Nam Việt Nam vẫn là một giai đoạn đáng nghiên cứu trong tiến trình dân chủ hóa của đất nước. Từ đó, có thể rút ra từ giai đoạn trte6n là:
• Dân chủ cần một nền tảng vững chắc về thể chế và xã hội dân sự, không thể chỉ dựa vào các cuộc bầu cử đơn thuần.
• Chiến tranh và bất ổn chính trị là những trở ngại lớn đối với việc phát triển dân chủ.
• Vai trò của tầng lớp trí thức và trung lưu rất quan trọng, vì họ là lực lượng thúc đẩy nhận thức và yêu cầu cải cách.
Qua trên chúng ta có thể thấy những nềnn móng dân chủ đầu tiên đã bắt đầu tô điềm cho miền Nam từ năm 1955 cho đến 1975. Và chính CSBV đã xóa tan “con đường dân chủ hóa VN” trên. Chính họ cần phải chỉnh trang và tháo gở các nút nghẽn do CSBV sinh sản ra. Con đường dân chủ hóa VN sẽ khai mở ngay tiếp theo sau…
Đình Đại: Sau 13 năm cầm quyền tuyệt đối của một TBT, NP Trọng, một người theo chủ nghĩa giáo điều thì giờ đây vận mệnh VN lại nằm trong tay một người từng đứng đầu bộ công an, lá chắn của chế độ, TBT Tô Lâm lại có những chỉ dấu cho thấy ông bắt đầu nhận chân được những giá trị của nền Cộng hòa xưa kia khi ông nhắc đến một Sài Gòn Hòn Ngọc Viễn Đông, việc tinh giảm biên chế cho đến rút gọn bản đồ hành chánh, thậm chí còn từ bỏ luôn cả thành trì cuói cùng của chủ nghĩa cs là « kinh tế thị trường theo định hướng xhcn », phải chăng đây là cơ hội tích cực cho con dường dân chủ hóa Việt Nam??
MTT: Những động thái gần đây của Tổng Bí thư Tô Lâm cho thấy một số dấu hiệu tích cực hướng tới cải cách và mở cửa hơn trong chính sách kinh tế và hành chính của Việt Nam qua những phát biểu của ông. Việc ông nhắc đến hình ảnh "Sài Gòn - Hòn ngọc Viễn Đông" và đề xuất sắp xếp lại đơn vị hành chính có thể được xem là những bước đi nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, mặc dù việc sắp xếp lại hệ thống hành chánh hiện tại.
Tuy nhiên, việc những cải cách này có dẫn đến quá trình dân chủ hóa hay không phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác, bao gồm:
• Ý chí chính trị: Liệu lãnh đạo có thực sự cam kết mở rộng không gian dân chủ, tôn trọng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và quyền lập hội hay không.
• Sự tham gia của xã hội dân sự: Cải cách cần đi đôi với việc khuyến khích sự tham gia của các tổ chức xã hội độc lập và người dân trong quá trình ra quyết định.
• Thay đổi trong hệ thống pháp luật và thể chế: Để dân chủ hóa thực sự, cần có những cải cách sâu rộng về pháp luật và thể chế, đảm bảo quyền lực được phân chia rõ ràng và có cơ chế kiểm soát hiệu quả.
Mặc dù các tín hiệu từ lãnh đạo cấp cao có thể mở ra cơ hội cho quá trình dân chủ hóa, nhưng việc hiện thực hóa điều này đòi hỏi một lộ trình rõ ràng, sự tham gia tích cực của toàn xã hội và cam kết mạnh mẽ từ chính quyền. Thưa anh.
Đình Đại: Nói một cách cụ thể hơn, xin giáo sư cho biết cần những điều kiện gì để đạt được thành quả tích cực cho con đường đầy gian nan ấy?
MTT: Để tiến trình dân chủ hóa ở Việt Nam đạt được thành quả tích cực, cần hội tụ nhiều điều kiện quan trọng. Dưới đây là những yếu tố then chốt:
Cải cách thể chế và pháp luật: Từng bước mở rộng quyền tự do chính trị: Nới lỏng kiểm soát báo chí, tự do lập hội, quyền biểu đạt chính kiến. Tiếp đến, cải cách luật bầu cử: Tạo điều kiện cho bầu cử minh bạch, cạnh tranh, có sự tham gia của nhiều thành phần xã hội. Và sau cùng, xây dựng nhà nước pháp quyền nhằm bảo đảm tam quyền phân lập, tăng cường độc lập tư pháp, giảm sự chi phối của bộ máy hành chính lên hệ thống tòa án.
Phát triển xã hội dân sự: Khuyến khích các tổ chức phi chính phủ và hội đoàn độc lập: Các tổ chức này có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy quyền công dân và giám sát chính sách công. Nâng cao ý thức công dân: Thúc đẩy giáo dục về quyền và nghĩa vụ của công dân, giúp người dân hiểu được giá trị của dân chủ và cách thức tham gia hiệu quả.
Cải cách kinh tế và giảm phụ thuộc vào nhà nước: Chuyển đổi mô hình kinh tế từng bước từ bỏ "kinh tế thị trường theo định hướng XHCN", tạo môi trường minh bạch cho kinh tế tư nhân phát triển. Giảm sự kiểm soát của nhà nước lên doanh nghiệp nhằm hạn chế tình trạng doanh nghiệp nhà nước chiếm ưu thế trong nền kinh tế, tạo sự cạnh tranh lành mạnh. Sau cùng, cải cách hệ thống thuế và đầu tư để thu hút đầu tư nước ngoài và đảm bảo sự minh bạch trong quản lý tài chính công.
Thúc đẩy giáo dục khai phóng: Nâng cao phẩm chất giáo dục phải là việc cần phải làm trước hết. Khuyến khích tư duy phản biện, giáo dục về nhân quyền và quản trị dân chủ. Cải cách chương trình giảng dạy nhằm loại bỏ những nội dung mang tính tuyên truyền một chiều, hướng đến một nền giáo dục khách quan hơn. Tạo môi trường học thuật tự do, cho phép các trường đại học có quyền tự trị nhiều hơn trong nghiên cứu và giảng dạy.
Và rốt ráo lại, tiến trình chuyển đổi phải được bảo đảm ổn định nhằm:
• Tránh sự sụp đổ đột ngột qua học hỏi từ các quốc gia đã trải qua quá trình chuyển đổi dân chủ để tránh xung đột nội bộ hoặc bất ổn kinh tế.
• Tăng cường đối thoại giữa chính quyền và các lực lượng xã hội để cho sự thay đổi diễn ra theo lộ trình có hoạch định trước thay vì đột biến để tránh sự phản kháng từ các nhóm lợi ích từ các thế lực cũ còn tồn tại.
• Giữ vững sự đoàn kết dân tộc để tránh chia rẽ, đảm bảo mọi tầng lớp xã hội đều có cơ hội tham gia vào quá trình dân chủ hóa.
Dân chủ hóa là một con đường dài và đầy thử thách, nhưng nếu có một lộ trình hợp lý và sự đồng thuận của toàn xã hội, Việt Nam có thể tiến tới một mô hình quản trị hiện đại, minh bạch và hiệu quả hơn. Hiện nay, co` vài suy nghĩ về con dường dân chủ cho VN như sau qua cuốc cách mạng truyền thông và công nghệ kỹ thuật số như:
• Xử dụng mạng xã hội: Các nền tảng mạng xã hội như Facebook, X (Twitter cũ), và YouTube có thể là công cụ mạnh mẽ để tổ chức và lan tỏa các cuộc đấu tranh không bạo lực. Người dân và cá nhân có thể xử dụng chúng để chia xẻ thông tin, kêu gọi sự tham gia và thu hút sự chú ý của thế giới bên ngoài.
• Tạo ra các hình thức phản kháng sáng tạo, biểu tượng và khẩu hiệu là một chiến lược quan trọng trong cuộc đấu tranh bất tuân dân sự. Những hình thức này có thể giúp xây dựng sự đồng thuận, tạo động lực cho phong trào, và thu hút sự chú ý của xã hội cũng như cộng đồng quốc tế. Dưới đây là một số cách để thực hiện các chiến lược này hiệu quả như tổ chức các cuộc biểu tình sáng tạo, ôn hòa
• Xử dụng các biểu tượng và khẩu hiệu trong các cuộc biểu tình: Những cuộc biểu tình ôn hòa có thể là nơi để biểu tượng và khẩu hiệu được sử dụng rộng rãi. Những khẩu hiệu này có thể được viết lên băng rôn, bảng hiệu, áo phông, hoặc được hô vang trong các cuộc diễu hành.
• Tẩy chay các sản phẩm hoặc dịch vụ của nhà cầm quyền cs. Tẩy chay các sản phẩm, dịch vụ hoặc các sự kiện do họ tổ chức có thể là một hình thức phản kháng sáng tạo. Ví dụ, một chiến dịch tẩy chay các sản phẩm của các công ty có liên quan đến chế độ có thể là một cách để gây áp lực lên chính quyền mà không cần bạo lực.
• Các cuộc đình công: Đình công tại các nơi làm việc, trường học, hoặc các tổ chức xã hội có thể tạo ra sự đình trệ lớn và gây áp lực lên chế độ. Những cuộc đình công này có thể diễn ra ở nhiều lĩnh vực khác nhau, từ công nhân, giáo viên, cho đến học sinh, để tạo ra sự không hài lòng và yêu cầu thay đổi. Hành động ngồi hoặc không làm gì: Các hành động như ngồi yên tại các địa điểm công cộng, không tham gia vào các hoạt động chính thức của chính phủ, có thể giúp gây sự chú ý mà không cần phải đụng chạm đến quyền lực. Việc nầy đã được thanh niên sinh viên Trung Cộng thực hiện nhiều cuộc phản kháng trang năm 2024 tại Bắc Kinh.
Tóm lại, các biểu tượng hoặc khẩu hiệu có thể trở thành một phần quan trọng trong việc tạo động lực và gây sự chú ý đến phong trào. Những hình thức phản kháng sáng tạo này có thể giúp lan tỏa thông điệp và tạo ra một tinh thần đoàn kết rộng rãi. Các hình thức này không chỉ giúp nâng cao tinh thần đoàn kết, mà còn thu hút sự chú ý của công luận trong và ngoài nước, tạo ra sự ủng hộ và làm gia tăng sức ép đối với chế độ.
Một cuộc cách mạng bất tuân dân sự ở Việt Nam có thể xảy ra nếu như có đủ sự hỗ trợ từ trong xã hội và từ cộng đồng quốc tế. Tuy nhiên, việc thực hiện đó sẽ phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, đặc biệt là sự đàn áp mạnh mẽ từ chính quyền và những thách thức trong việc tạo ra sự đồng thuận trong xã hội. Nếu có sự chuẩn bị kỹ lưỡng, các chiến lược không bạo lực, và sự tham gia rộng rãi của cộng đồng, thì đây có thể là một con đường để tiến tới sự thay đổi trong tương lai, mặc dù kết quả sẽ không thể đạt được ngay lập tức và sẽ cần một thời gian dài để xây dựng sức mạnh. Tuy nhiên, để thành công, những chiến lược này cần được triển khai một cách đồng bộ, sáng tạo và kiên trì, đồng thời tạo được sự tham gia rộng rãi từ phía người dân.
Đình Đại: Như vậy, trên chuyến tàu lịch sử đó, người Việt hải ngoại sẽ có thể giữ vai trò gì và như thế nào để có thể thúc đây tiến trình dân chủ hóa Việt Nam?
Người Việt hải ngoại có thể đóng vai trò quan trọng trong tiến trình dân chủ hóa Việt Nam bằng nhiều cách khác nhau, từ tác động về kinh tế, chính trị, cho đến văn hóa và xã hội. Dưới đây là những lĩnh vực mà cộng đồng người Việt ở nước ngoài có thể góp phần thúc đẩy sự thay đổi trong nước:
1. Hỗ trợ về tri thức và kinh nghiệm quản trị
• Chia sẻ kinh nghiệm về dân chủ và quản trị nhà nước: Nhiều người Việt hải ngoại đã và đang sống trong các nền dân chủ phát triển như Hoa Kỳ, Canada, Pháp, Đức, Úc... có thể truyền đạt kinh nghiệm về cách thức vận hành một hệ thống dân chủ.
• Góp phần xây dựng xã hội dân sự: Hỗ trợ các tổ chức xã hội dân sự trong nước thông qua đào tạo, chia sẻ kiến thức về nhân quyền, pháp quyền và quản trị tốt.
• Tạo diễn đàn trao đổi: Phát triển các nền tảng truyền thông, nghiên cứu về cải cách chính trị, kinh tế, xã hội và giáo dục.
2. Ảnh hưởng về kinh tế
• Đầu tư và hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân: Người Việt hải ngoại có thể góp phần phát triển nền kinh tế Việt Nam theo hướng bền vững bằng cách đầu tư vào các lĩnh vực có tính minh bạch, ít chịu sự kiểm soát của nhà nước.
• Thúc đẩy thương mại tự do: Kêu gọi các chính phủ nước ngoài thúc ép Việt Nam cải thiện nhân quyền và minh bạch kinh tế để nhận được các hiệp định thương mại có lợi.
• Chuyển giao công nghệ và kinh nghiệm kinh doanh: Hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước áp dụng mô hình kinh doanh hiện đại, giảm sự phụ thuộc vào khu vực nhà nước.
3. Vận động chính trị và tác động lên các chính phủ nước ngoài
• Vận động chính sách đối với chính phủ sở tại: Tác động đến các chính phủ phương Tây để họ gây áp lực lên chính quyền Việt Nam trong các vấn đề nhân quyền, tự do ngôn luận, bầu cử minh bạch.
• Xây dựng liên minh quốc tế: Hợp tác với các tổ chức quốc tế nhằm theo dõi và thúc đẩy cải cách tại Việt Nam.
• Tạo mạng lưới ủng hộ cho phong trào dân chủ trong nước: Hỗ trợ những cá nhân, tổ chức đang đấu tranh ôn hòa cho dân chủ và nhân quyền tại Việt Nam.
4. Gìn giữ và phát huy giá trị văn hóa, giáo dục
• Truyền bá các giá trị dân chủ và khai phóng: Thông qua văn hóa, truyền thông, giáo dục để nâng cao nhận thức của người dân trong nước về các quyền cơ bản của họ.
• Hỗ trợ giáo dục phi chính thức: Cung cấp học bổng, chương trình đào tạo cho các nhà hoạt động trẻ, sinh viên có tư tưởng đổi mới.
5. Đoàn kết và kết nối giữa cộng đồng trong và ngoài nước
• Xây dựng lòng tin và hòa giải dân tộc: Quá khứ chiến tranh và sự khác biệt về hệ tư tưởng đã tạo ra những rào cản giữa người Việt trong và ngoài nước. Việc thúc đẩy hòa giải, vượt qua những định kiến để cùng hướng đến một Việt Nam dân chủ là rất quan trọng.
• Tạo diễn đàn đối thoại giữa trong nước và hải ngoại: Các trí thức, doanh nhân, nhà hoạt động trong và ngoài nước có thể hợp tác để tìm ra giải pháp phù hợp với tình hình thực tế.
Tuy nhiên, có những thách thức luôn luôn hiện diện bên cạnh tiến trình chuyển đổi và nếu không chuẩn bị, nguy cơ biến động có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Chắc chắn, những thách thức trên sẽ đến từ những thế lực do CSBV vận động và thúc đầy.
• Sự kiểm soát thông tin từ nhà nước: Chính quyền có thể ngăn chặn hoặc bóp méo thông tin từ hải ngoại, do đó cần sử dụng các phương thức truyền thông hiệu quả như mạng xã hội, truyền thông quốc tế.
• Thiếu sự đoàn kết trong cộng đồng hải ngoại: Một số nhóm có thể có quan điểm khác nhau về phương thức dân chủ hóa, vì vậy cần có sự thống nhất để tránh chia rẽ.
• Bảo vệ những cá nhân và tổ chức đấu tranh trong nước như hỗ trợ pháp lý, tài chính và tinh thần cho những người đang đối mặt với áp lực từ chính quyền.
Người Việt hải ngoại có thể đóng vai trò cầu nối giữa Việt Nam và thế giới, cung cấp tri thức, kinh nghiệm và nguồn lực để thúc đẩy tiến trình dân chủ hóa. Tuy nhiên, để đạt hiệu quả, cần có sự phối hợp chặt chẽ với các lực lượng trong nước và một chiến lược rõ ràng, thực tế.
Trong giai đoạn “gần như tuyệt vọng” của đất nước như ngày hôm nay, phương châm “cứu cánh biện minh cho phương tiện” cần áp dụng triệt để. Vì chính cá nhân và gia đình của các bộ cao cấp cũng đã và đang chuẩn bị “hạ cánh an toàn” ở ngoại quốc.
Nếu Indonesia "tống cổ" cs ra khỏi xứ họ được vì máu đã được xử dụng đúng thời đúng lúc, thì Việt Nam cũng có thể làm được, nếu được châm ngòi, khuyến khích, hỗ trợ. Chính bạo quyền cộng sản mới là phía kích động bạo lực. Đảng CSBV mới chính là cái nôi, là nguồn cơn, là thủ phạm của mọi bạo động trên đất nước này. Không ai khác, tập đoàn cộng sản là những kẻ đã dùng bạo động làm phương châm và kim chỉ nam cho mọi hoạt động trong suốt thời gian tồn tại của họ cho đến ngày nay.
Câu hỏi được đặt ra là bạn và tôi có nghĩ rằng cộng đồng người Việt hải ngoại đã tận dụng hết tiềm năng của mình trong việc hỗ trợ dân chủ hóa Việt Nam chưa?
Ngay bây giờ là thời điểm để người Việt trong và ngoài nước ra tay, trước khi quá trễ. Một khi TC chiếm Việt Nam thì lúc đó máu Việt sẽ đổ ra nhiều hơn mà vẫn không đi tới đâu hết.
MTT: Thay lời kết
Qua các phân tích trên đây, hy vọng từ đó chúng ta sẽ cùng nhau tiếp tục truy tìm một sinh lộ mới cho Việt Nam.
Về phía Trung Cộng, có những mặt chính trị, quân sự, nhứt là kinh tế và xã hội đang xảy ra trong điều kiện không thuận lợi cho nước nầy, từ đó chúng ta có thể vận dụng để làm suy yếu hay triệt tiêu được sức mạnh “Hán hóa” của Trung Cộng. Trong suốt năm 2024, TC đã phải vật lộn với tình trạng suy thoái bất động sản kéo dài, khủng hoảng ngân sách của chính quyền địa phương, và thị trường lao động trì trệ, làm suy yếu niềm tin vốn đã mong manh của người tiêu dùng và doanh nghiệp.
Đất nước đang sa lầy trong áp lực giảm phát kéo dài nhất kể từ năm 1999. Tình trạng mất cân bằng đã trở nên sâu sắc hơn, khi tăng trưởng trong xuất khẩu và đầu tư sản xuất liên tục vượt xa mức tiêu dùng của hộ gia đình. Thừa cung hàng hóa trong nước đã buộc các nhà xuất khẩu phải giảm giá, làm giảm biên lợi nhuận, nhưng lại tăng các tranh chấp thương mại. Từ đây và biện pháp cần cân nhắc hần ngăn chận sự xâm lăng không tiến sung của TC. Đó là:
Về kinh tế: Tiếp tay vận động cuộc tầy chay đi du lịch “ngắm cảnh” TC và tẩy chay hàng hóa do TC sản xuất dưới bất cứ hình thức nào, từ thực phẩm, thuốc men, vật dụng dùng trong nhà, quần áo, sản phẩm làm đẹp cho phụ nữ…Nhóm Chống Tàu Diệt Việt Cộng đã có nhiều cố gắng trong việc chuyển tải những thông tin cho bà con ở hải ngoại và quốc nội. Xin bà con hãy cùng tiếp tay đẩy mạnh chiến dịch nầy.
Về chính trị: Hãy cùng phối hợp và hợp tác với chính phủ lưu vong Tây Tạng do một tiến sĩ trẻ, giáo sư Đại học Harvard, không liên quan gì đến nạn quốc phá gia vong ở Tây Tạng vì năm 1959, khi mất Tây Tạng, ông chưa sinh ra. Đó là Thủ tướng Lobsang Sangay, sinh năm 1968.
Về xã hội: Hiện tại có thể nói, xã hội trong nội địa nước Trung Hoa có nhiều biến chuyển không thuận lợi. Người dân Duy Ngô Nhĩ, Tân Cương đang đứng lên đòi độc lập tích cực hơn qua cuộc đổ máu làm hàng trăm người chết xảy ra ở nhiều tỉnh ở TC. Nhiều tỉnh và thành phố từ Vân Nam đến Quảng Châu, các cty điện, cộng đoàn taxi, cty vận tải v.v…đồng loạt biểu tình. Và quan trọng hơn cả là phong trào sinh viên, học sinh ở Hong Kong bãi khóa đòi bầu cử công bằng và tự do năm 2015.
Về phía Việt Nam: "Tiêu diệt một dân tộc là một tiến trình, chứ không phải một sự kiện". Do đó, tiến trình trên đã được TC lâu nay thực hiện cho dân tộc Việt Nam. Đây là một tiến trình lâu dài và đa dạng, được tăng mạnh mẽ do chế độ chính trị và chính sách đối với người dân của CSBV. Một chế độ khoá tay bịt miệng người dân, không cho đất nước có sức mạnh dân tộc:
Nó biến Việt Nam trước tiên là một bãi rác, kế đến là con đường mòn Nam tiến tiếp nối tham vọng của Đại Hán Trung Cộng.
Nó bào mòn sức sống của dân tộc và tàn phá một đất nước xinh đẹp mà Cha Ông đã bao đời gìn giữ và tô bồi”.
Chúng ta cần phải liên lạc, theo dõi diễn tiến của các phong trào đấu tranh dân chủ và nhân quyền của những người như Lưu Hiểu Ba (Nobel Hòa bình 2010), Hồ Giai, Ngải Vị Vị cùng Hiến Chương 08 qua Bản Tuyên Ngôn đầu tiên gồm 350 chữ ký của các nhà hoạt động nhân quyền nổi tiếng nhằm mục đích thúc đẩy cải cách chánh trị và dân chủ cho Trung Hoa. Người Tây Tạng trực diện tranh đấu cho độc lập Tây Tạng tại tỉnh Tứ Xuyên (hiện tại chỉ còn 5% dân số Tây Tạng sống trên đất nước Tây Tạng vì người Hán (TC) đã di dân tràn ngập rồi), cũng như người Hồi Hột tranh đấu cho Tân Cương ở tỉnh Vân Nam (chỉ còn 10% dân số trên 46 triệu người dân trong tỉnh). Cũng không quên nhắc đến phong trào Pháp Luân Công ở cùng khắp mọi nơi trong nước Tàu tranh đấu cho tự do tôn giáo và bất công xã hội.
Các phong trào trên chính là những ngòi nổ cho việc biến Trung Cộng trở thành “Đông Châu Liệt Quốc”. Và một khi TC bị xé tan thành nhiều mảnh, CS Bắc Việt, thái thú biết nói tiếng Việt của TC sẽ không còn “hậu phương” lớn làm điểm tựa, dĩ nhiên ngày tàn của chế độ sẽ không còn xa sau đó.
Tất cả các phối hợp đấu tranh trên nhằm mục đích đẩy mạnh sự xáo trộn xã hội, kinh tế của TC; từ đó tiến trình mang lại tự do, dân chủ và nhân quyền của TC sẽ được rút ngắn, vì sẽ không còn một quốc gia Trung Quốc vĩ đại nữa.
Và, người Việt quốc nội và hải ngoại còn có khả năng kết hợp với các NGO trong lãnh vực môi sinh như Oxfam ở Hong Kong và Hà Nội, một cơ quan phi chánh phủ quốc tế tranh đấu cho sự nghèo đói, bất công xã hội, và môi trường để cùng nói lên tiếng nói chung nhằm đánh động dư luận và lương tâm thế giới.
Hiện nay, nạn Hán hóa hay Bắc thuộc lần thứ 5 đã và đang lừng lững hiện diện trên hơn 49 tụ điểm có hơn 1.000 người Trung hoa lục địa, và đang tiếp tục tăng trưởng. Với các “phải chăng” trên đây, 60% tuổi trẻ trong nước cùng sự yểm trợ của những người con Việt hải ngoại cần có thái độ và hành động tích cực hơn nữa để xóa tan mắt xích nô lệ nầy do các Thái thú nói tiếng Việt của nhóm Bắc kỳ đỏ.
Làm người của tổ quốc, tuổi trẻ chúng ta ngày hôm nay cần phải tranh đấu không khoan nhượng cho dân chủ, tự do, nhân quyền cho Đất và Nước. Cuộc tranh đấu giữa thiện và ác, giữa lành mạnh và độc hại, giữa dân chủ và độc tài, giữa tự do và cộng sản… không bao giờ dứt. Tuổi trẻ hôm nay, trong và ngoài nước, chính là những người đang làm lịch sử, mang sứ mạng xóa tan cơ chế chuyên chính vô sản và độc tài của CSBV.
Không còn con đường nào khác cho TUỔi TRẺ Việt Nam!
Tuổi trẻ Việt Nam hãy thực hiện lời nói của Cố Tổng thống Thomas Jefferson là:” Every Generation needs a new REVOLUTION”.
Bán nguyệt san Tự Do Ngôn Luận ghi nhận:”Thực dân Pháp ngày xưa đàn áp dân ta vì không phải là đồng bào, đồng chủng. Nhưng họ vẫn còn có tình đồng loại, vẫn có niềm tin tôn giáo nào đó, ý thức danh dự trong lương tâm và nỗi e ngại công luận quốc tế, nên không đến nỗi tàn độc. Nhưng đối với người CS duy vật vô thần và quốc tế vô sản, thì lương tâm, danh dự, ý thức quốc gia, tình tự dân tộc, máu chảy ruột mềm là hoàn toàn vô nghĩa. 50 năm tội ác đã chẳng đủ rồi sao?”
Niềm hy vọng qua trích đoạn qua nhận định về phim “The Vietnam War” là Chính phủ Hoa Kỳ mất 10 năm để tạo dựng (Việt Nam Cộng Hòa), rồi giết đi (ngày 30/4/1975). Ken Burns và Lynn Novick đã mất 10 năm với 30 triệu mỹ kim để hợp pháp hóa cái chết đó. Số phận của miền Nam Việt Nam là sinh ra để chết. Nhưng cái chết đó lại phát sinh ra một Việt Nam di cư (diaspora) lưu vong có khả năng làm cho Việt Nam phục sinh”. (The US uses 10 years to design the death of South Vietnam. Ken Burns and Lynn Novick use 10 years with 30 million dollars to design the death of her legitimacy. The South Vietnam’s fate is born to die. But her death created the Vietnam diaspora which will become the resurrection of VietNam.”)
Viễn ảnh một bình minh rực rỡ cho Việt Nam trong những ngày sắp tới chắc chắn sẽ xảy ra trong một tương lai không xa qua cuộc cách mạng Bất tuân Dân sự!
Xin tất cả chúng ta cùng động não…để cùng quyết tâm xóa tan cơ chế chuyên chính vô sản của CSBV, để từ đó, công cuộc Hán hóa của TC sẽ bị triệt tiêu ngay.
Mai Thanh Truyết ghi lại
Thursday, March 27, 2025
Nhận định về rác thải ở Việt Nam
Lời người viết: Nói về phế thải sinh hoạt ở Việt Nam, người viết thực sau 1975 có duyên với vần đề nầy. Số là vào cuối năm 1973, sau khi vồ nước được 6 tháng, người viết có dịp gặp và hợp tác với dân biển Nhữ Văn Úy. Xin trích đoạn là thư DB NVU viết từ Strasbourg năm 2010 dưới đây:” TÔI PHẢI PHẢN CÔNG! của tác giả NHỮ - VĂN – ÚY.
Mặc dù có thể nói tôi là người biết khá nhiều về nhà khoa học gia MAI THANH TRUYẾT, cả về khả năng và tinh thần yêu nước cuả ông; gần 40 năm trước, nếu chiến sự ở Việt Nam không càng ngày càng leo thang dữ dội thì giữa chúng tôi (MTT-NVU) đã có một sự kết hợp để vưà trực tiếp giải quyết vấn nạn rác trong tương lai cho Sài Gòn, vừa góp phần phát triển kinh tế đất nước.
Một nhà máy chế tạo phân bón hữu cơ (mà nguyên liệu chính là rác gia dụng chế biến) đã được chuẩn bị xong trên một diện tích tổng thể là 31 mẫu tây (ha) ở ngay khu tứ giác về bên tay phải từ hướng Bà Qụẹo đi lên Hốc Môn, một cạnh cuả chiều dài là con kinh THAM LƯƠNG và cạnh kia song hành là con đường băng từ Tham Lương sang CHỢ CẦU. Diện tích khai thác ban đầu là 7 ha, đã ban mặt bằng và xây xong phần nhà máy cơ bản.
Nhà máy này, nguyên liệu cuả "đầu vào" là giải quyết rác thu gom 1/3 phiá Tây và Tây Bắc Sài gòn (gồm cả quận Tân Bình). Thị trường tiêu thụ sản phẩm cuả "đầu ra" là các nhà nông canh tác rau tươi, ngũ cốc, cây trái ở Tân Bình - Lái Thiêu -Hốc Môn - Hậu Nghiã; kéo dài lên tới Tây Ninh.
Trong tương lai, để hoàn tất kế hoạch, sẽ thành lập 2 nhà máy tương tự: một cho miền Đông Sài Gòn, một cho miền Tây.
Nhìn tổng thể chương trình, hoạt động được cắt "chia 3 chân vạc" giảm thiểu sự "chi" rất nhiều; nhất là sự thu gom rác, các xe chuyên chở không phải "biểu diễn" một màn trình diễn rác di từ Đông sang Tây, từ Bắc chí Nam Sài gòn khắp Sài gòn. Cũng thế, thành phẩm ở vùng nào phân phối thẳng cho nhu cầu vùng đó; giá thành vì thế cũng giảm đi khá nhiều.”
Địa điểm trên tức là “tiên thân” của bãi rác Đông Thanh, Hốc Môn sau 1975
***
Qua rất nhiều bài viết, trên mạng, hay qua các cuộc phỏng vấn trong quá khứ, chúng tôi có nêu lên tình trạng hiện tại của rác sinh hoạt gia cư ở Việt Nam. Tình trạng nầy nói lên tính cách cấp bách trong việc giải quyết vấn nạn trên. Việt Nam, qua các nguồn vốn đầu tư ODA, các nguồn viện trợ ngoại quốc cùng sự đóng góp của dân chúng và chính quyền hiện tại, việc xây dựng những bãi rác cùng hệ thống xử lý nước rỉ vẫn là một đề tài nổi cộm từ lâu. Qua một số vấn nạn về quản lý và tính chuyên biệt của từng dự án, việc xây dựng đã gặp nhiều trở ngại và phần đông các dự án trở thành những dự án nửa vời, hay dự án treo, hay kết quả không được như ý.
Hình bên: 2.000 “nhân công” đang thu lượm “hàng phế thải” ở một bãi rác nằm ở ngoại ô Hà Nội
Bài viết nầy nêu lên một thí dụ điển hình về một dự án đầu tư từ một người Mỹ gốc Việt được xem như là một giải pháp tối ưu trong điều kiện Việt Nam để giảm thiểu nguồn rác phát thải và hạn chế xây dựng thêm các bãi rác mới trong phát triển và đô thị hóa.
Có thể nói môi trường và tình trạng ô nhiễm ở VN cho đến nay là “hết thuốc chữa” vì ngoài những tệ trạng kể trên còn có:
• Trên 400 khu chế xuất, khu công nghiệp rải rác từ Bắc chí Nam phát thải ra môi trường phế thải rắn, lỏng và khí mà không qua thanh lọc hay tái chế;
• Hàng trăm ngàn cơ sở sản xuất hóa chất và nguyên vật liệu liên quan đến hóa chất đều không có hệ thống thanh lọc và “cư trú” trong những khu dân cư sống và sinh hoạt;
• Tình trạng rác thải sinh hoạt của 100 triệu dân hàng ngày được tính trung bình là 500gram/người/ngày. Tổng cộng có 50.000 tấn rác/ngày vẫn còn nằm trên những bãi rác lộ thiên và không có hệ thống thanh lọc nước rỉ (nước thành hình từ sự phân hủy rác). Đó là chưa kể đến phế thải y tế từ các bịnh viện và các khu y tế công cũng như tư. Và đây cũng là nguyên nhân chính làm tạo ra những dòng sông chết từ Bắc chí Nam.
Tất cả những sự kiện nêu trên có thể nói lên viễn ảnh môi trường ô nhiễm của Việt Nam dưới sự cai trị của CSBV thế nào?
Việt Nam cho đến nay, vẫn chưa thực hiện hoàn chỉnh được công tác xây dựng một nhà máy xử lý nước rỉ của bãi rác; việc nầy không đòi hỏi một công nghệ cao cấp, nhưng Việt Nam vẫn liên tục thất bại trong xây dựng. Điều nầy nói lên cung cách quản lý cứng chắc của chế độ, cũng như cung cách đấu thầu không theo đúng quy định hiện nay không thể nào đáp ứng được nhu cầu phát triển ứng hợp với chiều hướng toàn cầu hoá trên thế giới.
Điều nầy cũng nói lên tính cách toàn trị của một thiểu số cầm quyền, do đó không thuyết phục hay thu hút được sự tham gia của những nhà làm khoa học chân chính trong việc đóng góp vào công cuộc phát triển quốc gia ở Việt Nam.
Có thể nói, hầu hết các bãi rác lớn trên 64 Tĩnh thành đều bị vấn nạn nầy và biết bao nhiêu lần người dân “phải” nỗi giận, như nhiều cuộc biểu tình phản đối các nhà máy rác gây ô nhiễm môi trường ảnh hưởng đến cuộc sống người dân quanh vùng xảy ra tại nhiều nơi trên cả nước. Từ những ngày đầu năm 2019 và mãi cho đến nay, rãi rác khắp nơi, hàng trăm người dân các xã Nam Sơn, Bắc Sơn và Hồng Kỳ dựng lán tại hai con đường dẫn vào Trung tâm xử lý chất thải rắn Nam Sơn ở Sóc Sơn, Hà Nội, chặn đường không cho xe chở rác vào bãi do bãi rác này gây ô nhiễm nặng nề đến cuộc sống của họ. (Bãi rác của Cty Đa Phước đóng cửa kể từ ngày Thành ủy Lê Thanh Hải “bị” triệu về Hà Nội, và David Dương cũng phải chạy về Mỹ năm 20 21).
Dự án của công ty liên hợp Đa Phước do Công ty Viêt Nam Waste Solutions do David Dương, một doanh nhân trong địa hạt phế thải gia cư ở San Jose, CA. Vào tháng 6 năm 2005, công ty này đã ký kết với Tp Sài Gòn và đã đặt viên đá đầu tiên trên dự án có tổng diện tích là 640 hecta, và kinh phí đầu tư là 400 triệu Mỹ kim. Dự án hiện còn đang tiếp tục thiết lập dự án giải tỏa và xây dựng hạ tầng cơ sở. Vào tháng 8/2006, công ty còn đang tiến hành dọn và sang lấp mặt bằng, thi công mặt bằng nhà máy, xây dựng cầu dẫn vào khu đất của dự án. Dự kiến sẽ tiếp nhận 2500 đến 3000 tấn rác mỗi ngày cho việc phân loại rác tái sinh, và biến chế thành phân compost vào đầu tháng 3/2007. Thực sự, cho đến hiện tại, năm 2024, nhà máy “xử lý” nước rỉ chỉ là một mô hình nhỏ để trinh diễn, và rác vẫn đổ trên một bãi rác lộ thiên và được che phủ bằng một tấm vãi bạt nylon lớn mà thôi!
Từ khi đặt viên đá đầu tiên đến nay là 14 tháng, dự án mới vừa thu hồi được 110 hecta, phần 530 hecta còn lại đang được hiệu chỉnh quy hoạch và tiếp tục giải tỏa. TGĐ Cty Liên hợp Đa Phước là David Dương sau khi “ăn no” xong đã “bỏ chạy” về Mỹ cách đây 3 năm. Nhưng hiện tại Công ty Liên hợp Đa Phước (thuộc Tập đoàn Công nghiệp Sài Gòn) là đơn vị quản lý và vận hành Khu liên hợp xử lý chất thải Đa Phước, một trong những bãi rác lớn tại Saigon.có tổng số vốn hơn 100 triệu USD do Công ty TNHH Xử lý chất thải Việt Nam (Vietnam Waste Solutions - VWS) làm chủ đầu tư.
Trước đây, ông David Dương là người đứng đầu và điều hành công ty này. Tuy nhiên, vào năm 2021, ông David Dương đã rút khỏi vị trí Giám đốc điều hành của công ty và không còn giữ vai trò lãnh đạo tại Đa Phước nữa.
Kể từ sau khi ông David Dương rút lui, ông Nguyễn Phước Hậu được bổ nhiệm là người điều hành và quản lý Công ty Liên hợp Đa Phước. Ông Nguyễn Phước Hậu trước đó đã có nhiều năm công tác trong ngành môi trường và xử lý chất thải tại Saigon, và được giao nhiệm vụ quản lý các hoạt động của Khu liên hợp xử lý chất thải Đa Phước, cũng như đảm bảo công ty tuân thủ các quy định pháp luật liên quan đến xử lý chất thải và bảo vệ môi trường.
Ngoài công ty Đa Phước ra, còn có công ty Vietstar có trụ sở tại Hoa kỳ đã có giấy phép xin gia hạn đầu tư ở sở TN&MT Thành phố HCM. Công ty có công suất 1,200 tấn mỗi ngày, với tổng số vốn đầu tư 36 triệu Mỹ kim. Một dự án khác là dự án nhà máy sản xuất phân compost do công ty liên doanh Saigon- Earthcare (Hoa kỳ) làm chủ đầu tư, có công xuất 1,000 tấn/ ngày. Công ty đang xin giấy phép xây dựng và làm đường dẫn vào khu dự án. Và sau cùng, dự án xây dựng nhà máy sản xuất phân compost do Công ty Môi trường Đô thị làm chủ đầu tư, có công xuất 500 tấn/ngày và 300 tấn phân hầm cầu/ngày. Công ty do nguồn vốn ODA từ chính phủ Hòa Lan.
Đại để, hiện nay, dù có nhiều dự án đầu tư trong công cuộc xử lý phế thải và xử lý nước rỉ, nhưng tiến độ thi hành dự án hiện nay rất chậm, kể cả những dự án đã thất bại trước đó như dự án Đông Thạnh ngày xưa.
Vì sao?
Vi tiến độ thi công một bãi rác có nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài rất chậm dù đó là một doanh nhân ngoại quốc hay nguồn vốn ODA đầu tư vào kỹ nghệ xử lý rác. Thủ tục về giấy phép trong xây dựng phải mất quá nhiều thời gian làm chậm trể hầu hết các dự án đã được duyệt xét chấp thuận. Sở dĩ có tình trạng trên xảy ra là vì theo ông Nguyễn văn Chiến, phó GĐ sở TN&MT Thành phố HCM cho biết trong 30 năm qua, có nhiều dự án cho bãi rác thải do ngân sách thành phố, hoặc được viện trợ từ các tổ chức, chính phủ nước ngoài, Sở TN&MT bị động vì thiếu kinh nghiệm trong việc tiếp cận với các dự án lớn và mới, nhất là việc giải quyết các hợp đồng ký kết với doanh nghiệp ngoại quốc.
Hiện nay, đối với tiến độ thực hiện các dự án xử lý, Sở đã rút kinh nghiệm căn cứ vào báo cáo mới nhất của thành phố, và đang phối hợp với các sở ban ngành khác đễ đẩy nhanh tiến độ thực hiện quy hoạch, đền bù thu hồi đất và hoàn thiện cơ sở hạ tầng cho các khu liên hợp xử lý chất thải rắn. Sở cũng tăng cường việc giải quyết các vấn đề một cách căn cơ từ gốc như quy hoạch tổng thể chất thải rắn cho đến năm 2020 so với mức độ gia tăng của đô thị hóa và phát triển thành phố.
So với các quốc gia tiến bộ trên thế giới, rác gia cư ở các quốc gia trên cũng là một vấn nạn không nhỏ. Tuy nhiên, họ có phương cách giải quyết vấn đề đễ không gây ô nhiễm môi trường không khí, môi trường nước mặt và nước ngầm qua những quy định của luật môi trường sở tại. Và nhứt là, tiến độ thi công một bãi rác hay nhà máy thanh lọc nước rỉ được bắt đầu và hoàn tất trong một quảng thời gian rất ngắn… chỉ vài năm tùy theo diện tích bãi rác dự trù…
Nếu lấy California làm thí dụ, rác sinh hoạt gia cư cũng là một vấn nạn rất lớn dù luật lệ môi trường đã được áp dụng một cách khắc khe để bảo vệ sức khỏe của người dân. California, với dân số 39 triệu người và hàng ngày thải hồi khoảng 39.000 tấn rác. Vấn đề xây dựng bãi rác và nhà máy xử lý nước rỉ cùng việc thu hồi khí thải từ bãi rác để biến thành điện năng đòi hỏi Cali phải có một hệ thống quản lý và kiểm soát thật hoàn chỉnh.
Trước vấn nạn trên, từ năm 1987 chính quyền của Cali đã lấy quyết định là quy định việc quản lý chất phế thải cho từng địa phương và chỉ tiêu cho đến năm 2000 là phải giảm thiểu 50% lượng rác gia cư, khai triển bằng cách thu hồi 50% rác để tái sinh, tái xử dụng hay biến chế thành phân hữu cơ .v.v... Tuy nhiên chỉ tiêu trên vẫn chưa đạt được vào năm 2000.
Cho mãi đến năm 2004, kỹ nghệ rác ở Cali đã giải quyết được 76 triệu tấn tức 48% qua tái sinh hoặc tái xử dụng. Qua năm 2005, 88 triệu tấn được tái xử dụng tức 52%. Và John Myers, Phát ngôn viên của Hội đồng Quản lý Rác Cali công bố: “Chỉ tiêu giải quyết 50% lượng rác phế thải của cư dân Cali đã thành công sau 18 năm ban hành.
Và trong vòng 10 năm trở lại đây, không có bãi rác cùng hệ thống thanh lọc nước rỉ mới được thành lập. Thiết nghĩ, đây là một bài học lớn cho VN trong vấn đề quản lý phế thải.
Tóm lại, thành quả trên đây của California là kết quả của một sự phối hợp giữa chính quyền và người dân. Cũng cần nên nói thêm là người dân đã ý thức được tầm quan trọng trong việc bảo vệ môi trường bằng cách thi hành quyết định của từng địa phương như là phân loại rác và phế thải vào những thùng rác riêng rẽ: như thùng đựng phế thải thực phẩm (rác hữu cơ ), thùng đựng rác do cây kiểng và sân cỏ , thùng đựng những phế thải có thể tái sinh như chai lọ, thủy tinh, plastic, giấy báo, lon, hộp..v.v... Ngoài việc giảm thiểu phân nửa thể tích của bãi rác, các phế thải tái sinh (recycling) đã góp một phần không nhỏ trong kỹ nghệ sản xuất nguyên vật liệu như giấy, plastic, thủy tinh, vừa giải quyết được một phần tình trạng ô nhiễm môi trường và tiết giảm được mức xử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên và tổng hợp.
Chính người dân Cali và các Công ty công nghệ nhận thức được tầm quan trọng của mức tiết giảm trên. Do đó, chính họ đã biến các cơ sở thành những nơi sản xuất công nghệ sạch và xanh.
Từ bài học của tiểu bang California Hoa kỳ, Việt Nam, đứng trước những thách thức do phát triển, gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường đang có chiều hướng ngày càng lan rộng, công nghệ xây dựng bãi rác cùng việc thiết kế nhà máy xử lý của VN đang còn ở trong tình trạng sơ khai. Do đó, VN cần phải chuẩn bị một tầng lớp nhân sự chuyên môn trong công nghệ này đồng thời với việc huấn luyện cán bộ quản lý môi trường.
Thêm nữa, sự thành công của Cali trong vấn đề giải quyết phế thải, phần lớn là do ý thức bảo vệ môi trường của người dân cao qua quá trình giáo dục và được hướng dẩn qua truyền thông, truyền hình, học tập và báo chí.
Đây mới chính là điểm rốt ráo trong phương cách giải quyết vấn đề.
Và muốn được như thế, chương trình công dân giáo dục nơi học đường cần phải có trong chương trình học như những điều luật căn bản cần thiết cho một xã hội dân sinh văn minh như: Luật đi đường, luật xả rác công công, thái độ chấp hành luật lệ chung, và nhất là luật phải được áp dụng cho tất cả mọi người dân và không có ngoại lệ nào và cho bất cứ ai cả!
Qua những thí dụ điển hình kể trên, chúng ta có thể kết luận một cách chính xác là tất cả 64 tỉnh thành trên toàn cõi Việt Nam đều có cùng chung một vấn nạn:
• Bãi rác hầu hết là bãi rác lộ thiên và đều bị quá tải;
• Bãi rác không có hệ thống thanh lọc nước rỉ đúng theo tiêu chuẩn ghi trong bộ Luật Môi trường;
• Địa phương giao khoán cho các công ty đấu thầu…tự tung tự tác (vì đã được ăn chia rồi);
• Vấn đề quản lý việc nhập rác, chôn rác, phủ rác v.v…hầu như không thực hiện;
Từ những nguyên nhân trên, người dân nổi giận và chận không cho rác “mới” xâm nhập vào các bãi rác là lẽ đương nhiên.
Và câu chuyện trên không dừng lại ở Việt Nam mà lần đầu tiên đã lan qua tỉnh Vũ Hán của Trung Cộng. Trên 10 ngàn dân chúng biểu tình tại bãi rác ở huyện Tân Châu có công suất nhận 2.000 tấn rác/ngày. Dân biểu tình vì bãi rác thải trên có mùi nồng nặc, có thể ngửi thấy ngay cả khi người ta đi ngang qua bằng xe buýt. Có thể nói, đây là bước khởi đầu của cuốc cách mạng bất bạo động dưới hình thức bất tuân dân sự.
Người viết đã từng đặt vấn đề khi CT UBND Tp HCM Lê Thanh Hải ký giấy phép cho Cty Liên hiệp Đa Phước, Bình Chánh, do David Dương làm TGĐ ngày 28 tháng 10 năm 2007. Sau khi được biết khu thanh lọc rác sẽ tiếp nhận rác bắt đầu vào ngày 1-11-2007, Ông Hải có nhận xét sau:” Thành phố đã có thể chủ động trong công tác thu gom, xử lý một cách hợp vệ sinh”. …Thế mà, vào năm 2018, sau khi LTH mất chức và bị đổi ra Hà Nội thì…Cty Liên Hợp Đa Phước bị vi phạm ngay nhiều luật lệ môi trường, bị đóng của khiến cho DD phải …ôm đầu chạy về Mỹ vì …đã mất “ông anh đở đầu”!
Vì vậy, có thể kết luận rằng, Việt Nam cho đến nay, vẫn chưa thực hiện hoàn chỉnh được công tác xây dựng một bãi rác, cùng nhà máy thanh lọc nước rỉ đúng nghĩa cho một bãi rác cũng như kế hoạch quản lý rác sinh hoạt căn cứ theo Luật Môi trường. Việc nầy không đòi hỏi một công nghệ cao cấp, nhưng Việt Nam vẫn liên tục thất bại trong xây dựng và điều hành. (Người viết đã từng đề nghị thiết kế một nhà máy thanh lọc nước rỉ cho Khu Chế xuất Tân Thuận, với đầy đủ chi tiết và mô hình thiết kế. Đây là một khu công nghiệp tập trung đầu tiên ở Việt Nam dưới thời của cựu TT CS Võ Văn Kiệt…Thế mà, không một ai lưu tâm đến! Năm 2022, người viết có gặp cựu TGĐ Khu chế xuất Tân Thuận ở Austin và nêu lên vấn đề nầy.)
Tất cà nói lên được gì?
• Điều nầy nói lên cung cách quản lý cứng chắc của chế độ, cũng như cung cách đấu thầu không theo đúng quy định hiện nay không thể nào đáp ứng được nhu cầu phát triển ứng hợp với chiều hướng toàn cầu hoá trên thế giới.
• Điều nầy cũng nói lên tính cách toàn trị của một thiểu số cầm quyền chỉ nhằm phục vụ cho các nhóm lợi ích của phe phái, do đó không thuyết phục hay thu hút được sự tham gia của những nhà làm khoa học chân chính trong việc đóng góp vào công cuộc phát triển quốc gia ở Việt Nam.
Do đó, phản ứng của người d6an từ… những cuộc xuống đường, chận không cho xe chở rác xuất nhập, đòi hỏi việc quản lý và thanh tra chặt chẽ các bãi rác, trực diện đối đầu với dự đàn áp của cường quyền CSBV, sẽ là những bước đầu tiên trong sâu chuổi cách mạng bất bạo động theo cung cách bất tuân dân sự.
Chúng ta thử hình dung kịch bản sau đây: “Nếu Công nhân sở Rác ở Sài Gòn và Hà Nội ngưng hốt rác trong 2 ngày, thì hai thành phố hơn 12 triệu dân mỗi nơi cũng đủ để để có phản ứng và đứng lên làm “cách mạng” với trên 24.000 tấn/2 ngày rác sẽ phủ ngập thành phố. Cộng thêm:
* Công nhân ở các công ty cung cấp nước uống, nhà máy điện, nhà máy khí đốt và xăng dầu v.v… đồng loạt đình công không đi làm việc trong một ngày mà thôi cũng đủ để biến loạn Xã hội.
* Người dân buôn thúng bán bưng đình công không nhóm chợ. Chuyện gì sẽ xảy ra?
* Nhân viên y tế, bác sĩ, nhà bảo sanh… ngưng không làm việc, thì sẽ ra sao?
* Sinh viên và học sinh đồng loạt bãi khóa thì ngòi nổ sau cùng sẽ chấm dứt chế độ độc tài tập thể cộng sản Bắc Việt.
* Công nhân, viên chức đồng loạt không đến xưởng hay sở làm. .
Chắc chắn trong điều kiện nầy một cuộc cách mạng bất tuân dân sự sẽ xảy ra!”
Ngần ấy sự việc và câu hỏi nêu trên có rất nhiều xác suất xảy ra trong giai đọan nầy.
Chắc chắn cường quyền sẽ đàn áp dã man.
Chắc chắn máu con Rồng cháu Tiên sẽ tuôn rơi ngập tràn.
Và chắc chắn cơ chế chuyên chính vô sản sẽ bị triệt tiêu vĩnh viễn.
Một khi những cuộc xuống đường vì rác, sẽ tiếp nối những cuộc đình công bãi thị, công nhân cấp nước khước từ việc cung ứng nước cho thành phố…Và cuối cùng học sinh, sinh viên, công nhân, viên chức đồng loạt bãi khóa…
Chuyện gì sẽ xảy ra!
Sau cùng “Lối thoát cho Việt Nam” chính là Cuộc Cách Mạng Bất Tuân Dân Sự.
Hãy làm theo lời dặn dò của vua Duy Tân:”Nước dơ phải lấy máu mà rửa”.
Mong lắm thay!
Mai Thanh Truyết
50 Năm Khát vọng Tự do – Tháng 4 - 2025
Sunday, March 23, 2025
Phát biểu trong Hội thảo Biển Ðông
Lập trường của người Việt Quốc gia trước vấn nạn tại Biển Ðông?
TS Mai Thanh Truyết
Thưa Quý vị,
Quý vị vừa nghe các thuyết trình viên trình bày về những vấn đề của biển Ðông:
Cựu Hạm trưởng Hải quân VNCH Vũ Hữu San, người chiến sĩ tham dự trận đánh Hoàng Sa tháng 2, 1974 dưới thời Việt Nam Cộng Hòa trình bày về Công ước quốc tế về Luật biển năm 1982 của Liên Hiệp Quốc (UNCLOS);
Cụ Huỳnh Văn Lang, một công dân ngoại hạng dưới hai nền Ðệ I và II VNCH qua cái nhìn chánh trị trong vấn đề biển Ðông;
Nhà bình luận kinh tế và chánh trị Nguyễn Xuân Nghĩa qua việc phân tích những mục tiêu của Trung Quốc tại biển Ðông.
Và đề tài cuối cùng của buổi hội luận hôm nay, chúng tôi xin đặt câu hỏi và đóng góp ý kiến ban đầu cũng như mời gọi tất cả quý vị trong hội trường ngày hôm nay cùng chia sẻ và trao đổi. Câu hỏi đó là “Trung Cộng muốn gì tại biển Ðông?”.
Thưa Quý vị,
Trong những tháng vừa qua, tình trạng biển Ðông ngày càng căng thẳng: Ðệ VII hạm Ðội Hoa Kỳ vào vùng nầy, Trung Cộng tiếp tục mang hàng trăm tàu chiến bố trí khắp nơi trong vùng, cuộc họp của Asean về biển Ðông, Hoa Kỳ dự định thông qua Bộ quy tắc ứng xử trên biển Ðông…Tất cả nói lên tính chất nghiêm trọng của vần đề.
Ðể trả lời câu hỏi “Trung Cộng muốn gì tại biển Ðông”, chúng tôi xin được lần lượt phân tích qua về tầm quan trọng của biển Ðông trong vùng cùng vị trí và âm mưu của TC cũng như của “chư hầu” Việt Cộng Bắc Việt.
Tầm quan trọng của biển Ðông:
- Về tiềm năng dầu khí: Theo ước tính toàn vùng biển Ðông có trữ lượng ước tính từ 28 đến 213 tỷ thùng dầu căn cứ vào Viện Thông tin Năng lượng Hoa Kỳ năm 2008 và 3,8 ngàn tỷ thước khối khí đốt (US Geological Survey năm 2010) có khả năng cung cấp cho toàn vùng trong vài thập niên.
2- Về tiềm năng quân sự: Kiểm soát được vùng nầy có nghĩa là khống chế toàn vùng Ðông Nam Á và kiểm soát được mọi di chuyển, trao đổi quân sự của các quốc gia trong vùng với đối tác bên ngoài, đặc biệt là vấn đề di chuyển vũ khí thiết bị quân sự và tình báo.
3- Về khả năng kinh tế: Kiểm soát các hoạt động kinh tế đi-đến của từng quốc gia; từ đó có thể ước lượng được sức mạnh kinh tế của các nước trong vùng.
4- Về chánh trị toàn cầu: Ðây là tầm quan trọng nhứt. Nếu chiếm được biển Ðông, ngoài các yếu tố trên, TC có thể “siết cổ” bất cứ quốc gia nào trong vùng, áp lực phải đi theo chiều hướng của Ðại Hán trong chính sách đối ngoại với thế giới bên ngoài. Nhà cầm quyền nào không đi theo TC sẽ bị bóp nghẹt ngay từ trứng nước và quốc tế phải đứng trước sự đã rồi, không thể đáp ứng được hay gây áp lực với TC qua các thể chế của Liên Hiệp Quốc.
Những gì Trung Cộng muốn và những gì Trung Cộng đang làm
Nhìn qua tình hình xã hội bên trong lục địa TC, chúng ta nhận thấy tình trạng bất ổn trong xã hội như nạn thất nghiệp ngày càng cao do mức sản xuất và xuất cảng qua Hoa Kỳ và Liên hiệp Âu châu giảm tạo ra sự khủng hoảng ở hầu hết các tỉnh, đặc biệt tại Quảng Châu. Nơi đây dân chúng bắt đầu biểu tình đòi tăng lương, nâng cao phúc lợi cũng như nhân quyền và các quyền tự do khác.
Thêm nữa, phong trào độc đòi độc lập ở Tây Tạng qua việc người dân và nhà sư tiếp tục tự thiêu và gây bạo động. Tân Cương cũng không yên ổn với các vụ đặt bom vừa qua…Pháp Luân Công tiếp tục rao giảng và ảnh hưởng lên nhiều tầng lớp trong toàn xã hội.
Vì vậy,
Việc phô trương sức mạnh trên biển Ðông trong những ngày tháng gần đây cho thấy nhiều chỉ dấu TC muốn:
Thứ nhứt: Chuyển hướng áp lực của người dân Trung Hoa, các mối bất ổn trong nội địa, và kích thích tinh thần quốc qia cực đoan Ðại Hán trong vấn để biển Ðông;
Thứ hai: Phong trào dành độc lập trong nước nổi lên và TC không muốn thế giới bên ngoài chú tâm vào, cho nên càng làm nổi thêm đình đám trong vần đề biển Ðông;
Thứ ba: Phát triển kinh tế của TC trong mấy năm gần đây giảm sút mạnh không còn giữ ở mức độ 9-10% nữa (thống kê mới nhất 2024 chỉ còn 6,6%); do đó, uy tín của nhà cầm quyền bị sụt giảm, người dân không còn tin tưởng chính sách của đảng nữa. Riêng Tam cá nguyệt thứ tư 2024, xuất cảng giảm sút 23% do Liên hiệp Âu châu và Hoa Kỳ tẩy chay hàng hóa tạo ra một lượng không nhỏ lao động thất nghiệp vì hàng tồn kho ứ đọng;
Thứ tư: Việc tuyên bố thay đổi quận Nam Sa gồm Hoàng Sa và Trường Sa thành tỉnh Nam Sa mới đây của TC là một chỉ dấu cho thấy TC muốn xác định chủ quyền (không thể chối cải) tại hai nơi nầy. Thêm nữa việc thiết lập một phi trường quân sự cho máy bay tiếp liệu hạng nặng có thể đáp xuống, cũng như việc thành lập bộ chỉ huy quân sự trên đảo Phú Lâm, Hoàng Sa ngày 28/6/2012 cho thấy âm mưu không chế biển Ðông của TC càng rõ nét hơn, việc lấn áp tàu cá Việt Nam và Phi Luật Tân ngày càng khốc liệt hơn.
Thứ năm: Gần đây nhứt, TC lại ngang nhiên công bố cho đấu thầu 9 địa điểm nằm trong hải phận Việt Nam và thành lập Tập đoàn Công ty dầu khí Hải Dương. Như vậy, vô hình chung TC muốn thách thức thế giới và Việt Nam về thẩm quyền của họ trên đường lưỡi bò, cũng như vô hiệu hóa luật biển của Việt Nam mới vừa công bố. Trong 9 lô đấu thầu nầy, đã có những lô mà Việt Nam đã cho Total, Mobil, Ấn Ðộ đấu thầu rồi, nhưng vì áp lực của TC mà những nhà thầu nầy đành phải rút lui. Chúng ta chờ xem phản ứng của Việt Nam và quốc tế như thế nào.
Thứ sáu: Ðây chính là cốt lõi của vấn đề TC làm ồn ào ở biển Ðông. Ðó là việc che đậy tiến trình Hán hóa một cách tiệm tiến và vững chắc của TC vào suốt chiều dài của Việt Nam từ Bắc chí Nam bằng cách xây dựng xí nghiệp, nhà máy, mang thiết bị, nhân công xâm nhập, thuê mướn rừng đầu nguồn dài hạn, thuê mướn đất nông nghiệp, thu mua tất cả sản phẩm chăn nuôi hay nông nghiệp và nguyên liệu của VN bằng bất cứ giá nào. Từ đó khống chế nền kinh tế VN và xâm nhập nhân công, đưa tình báo vào khắp mọi miền đất nước, đặc biệt là vùng cao nguyên Trung phần Việt Nam qua việc khai thác bauxite. Suốt ba năm nay, mặc dù công bố sẽ ra mẻ bauxite đầu tiên tại Tân Rai vào tháng 4/2012, nhưng chúng ta chưa hề thấy một tinh thể Aluminum (nhôm) nào cả ngoài việc cấy hàng ngàn người Trung Hoa vào Tân Rai và Nhân Cơ. Ðây là một âm mưu thâm độc cần phải cảnh báo đến bà con ở quốc nội và hải ngoại.
Như vậy còn về phía Việt Nam thì sao?
Những gì Cộng sản Bắc Việt chạy theo đuôi TC
Tình trạng kinh tế qua việc tài chánh và ngân hàng cùng sản xuất sụp đổ hoàn toàn. Hàng loạt ngân hàng đóng cửa. Sáu tháng đầu năm 2012 có trên 18.000 xí nghiệp trung phá sản và bị đóng cửa. Nợ công nợ tư chồng chất. Năm 2024, hàng ngàn xí nghiệp không còn tiền để trả lương cho nhân công hàng 6,7 tháng qua.
Ðối với vấn đề tranh chấp biển Ðông với TC, CS Bắc Việt chỉ chơi trò “đánh-đàm”, trò “cút bắt” qua các kịch bản của TC mà thôi. Chúng ta đừng nghĩ rằng Việt Nam tuyên bố luật biển của Việt Nam ngày 24/6/2012 vừa qua không nhằm thể hiện tinh thần độc lập tự chủ, nhưng thật sự nhắm vào việc đánh lạc hướng nỗi bất bình của người dân. Việc làm nầy chỉ nhằm vào việc giải tỏa áp lực thể hiện qua các vụ biểu tình chống TC, biểu tình chiếm đất của người dân.
Việt Nam vẫn để “tàu lạ” tiếp tục đâm chìm hay bắt các tàu đánh cá của ngư dân, thậm chí TC ngang nhiên chận bắt và săn đuổi tàu tuần tra của Việt Nam trong hải phận của mình nữa. Trong lúc đó, hai nước vẫn “thấm tình đồng chí” cùng hợp tác tuần tra chung trên biển Ðông ở Vịnh Bắc Việt.
CS Bắc Việt tiếp tục lờ đi cho TC xây các bè cá ngay trong vùng biển quân sự ở Cam Ranh suốt 10 năm qua, mà nhà cầm quyền địa phương vẫn không biết. Một nhà máy sản xuất thép chiếm một diện tích trên 5 mẫu tây đã được xây dựng hoàn chỉnh từ hai năm qua ở Quảng Ninh, mãi cho đến đầu tháng 7 năm nay, mới được khám phá.
Xét cho cùng, các cuộc tranh cãi giữa TC và Việt Nam trong vấn đề biển Ðông chỉ là một màn kịch rẻ tiền do đàn anh dàn dựng và đàn em cs Bắc Việt theo đuôi để hầu xả bớt áp lực của người dân trong việc xâm chiếm một cách lộ liễu của TC.
Thế nầy là thế nào?
Phải chăng đây chỉ là một sự dàn xếp của hai đảng cộng sản Trung Hoa và Bắc Việt trong việc dâng trọn đất nước cho TC để đổi lấy “ngôi sao thứ sáu” trên lá cờ của đàn anh nước lớn Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc?
Thưa Quý vị,
Trước tình thế hiện tại, chúng ta, người con Việt hải ngoại và quốc nội muốn gì và phải làm gì?
Xin đan cử vài suy nghĩ gợi ý để chúng ta cùng thảo luận:
Việt Nam cần liên lập (liên kết trong tinh thần độc lập) với các quốc gia trong vùng biển Ðông để cùng nhau cộng sinh trước bá quyền nước lớn là Trung Cộng. Muốn được như vậy VN cần phải có dân chủ mới có thể xây dựng được sức mạnh kinh tế, xã hội, văn hóa, và chính trị ổn định;
Cần phải có được tiếng nói tổng hợp chung giữa các quốc gia trong vùng và cùng chủ trương một giải pháp quốc tế thay vì giải quyết song phương giữa từng nước với TC như hiện tại;
Ðối với người Việt trong nước, cần phải vận động triệt để hầu phủ nhận những ký kết song phương giữa Hà Nội và Bắc Kinh từ 1958 đến nay; người Việt hải ngoại cần hỗ trợ đấu tranh bằng cách vận động sự đồng thuận và yểm trợ của thế giới tự do trong việc vô hiệu hóa các văn kiện giữa hai đảng cộng sản Trung Hoa và Bắc Việt;
Ðối với việc tuyên bố cho đấu thầu khai thác dầu khí ở 9 lô trong vùng biển Việt Nam, cần vận động các công ty quốc tế không hợp tác với TC để khai thác tài nguyên và lãnh thổ Việt Nam, giải thích cho họ rõ hành động bất chánh của Trung Cộng trong vấn đề nầy.
Chúng ta đã biết rất rõ nguyên nhân của sự xâm chiếm tiệm tiến và Hán hóa dân tộc là do chính đảng CS Bắc Việt. Do đó, đây mới chính là mục tiêu cần phải triệt tiêu. Người Việt hải ngoại, nếu muốn đóng góp vào tiến trình nầy, cần phải dứt khoát và tích cực trong việc cấm vận tài chánh cho Việt Nam bằng cách ngưng gửi tiền, ngưng du lịch và chấm dứt những việc từ thiện xã hội không cần thiết.
Cuộc vận động quốc tế qua các quốc gia Tây phương, Bắc Mỹ, cùng các hiệp hội quốc tế để họ có cái nhìn chính xác hơn về chính sách “cai trị phi nhân” của đảng CS Bắc Việt đi ngược lại với đà phát triển chung của nhân loại.
Với sự đấu tranh của người Việt hải ngoại trên, từ đó, quốc nội mới có khả năng làm một cuộc cách mạng có thể xóa tan được cơ chế mục nát của đảng CS Bắc Việt và đưa đất nước vào trật tự mới của toàn cầu.
Qua các phân tich vừa kể trên, xin Quý vị cùng chúng tôi động trí hầu mưu tìm cho một định hướng cho Việt Nam tương lai.
Thưa Quý vị,
Chúng ta có thể kết luận rõ ràng là Trung Cộng và Cộng sản Bắc Việt đang hát bài “hợp ca Biển Ðông”, trong đó ca sĩ chánh là TC và nhóm hát bè là CS Bắc Việt. Tiếng hát “bành trướng Ðại Hán” càng to với hàng hàng lớp lớp tàu chiến tràn ngập biển Ðông, kèm theo những tiếng bè nhỏ hơn nhưng người nghe vẫn cảm nhận được những câu bè “vô cảm” trước nỗi nhục của dân tộc, dâng đất, dâng biển cho ngoại bang để đổi lấy quyền lực và tài sản của Ðất và Nước.
Về phía Hoa Kỳ, mặc dù sức mạnh quân sự đang được tăng cường tại biển Ðông, nhưng chúng ta đừng nghĩ rằng người Mỹ sẽ trở lại Việt Nam. Từ gần hai năm nay, những nhân vật đầu não của Mỹ luôn tuyên bố vấn đề tự do lưu thông hàng hải ở vùng biển Ðông là một vấn đề lợi ích quốc gia đối với Mỹ. Ngoài ra việc tranh chấp giữa TC và các quốc gia Asean, người Mỹ luôn đứng ngoài tránh việc đối đầu với TC trong việc tranh chấp chủ quyền ở biển Ðông.
Chưa bao giờ hết, Việt tộc đang mang nỗi oan khiên nghiệt ngã nầy!
Vì vậy,
Buổi Hội luận về biển Ðông hôm nay, một lần nữa, chúng tôi muốn gióng thêm lên tiếng chuông kêu gọi người Việt ở quốc nội cùng hải ngoại ý thức rằng cộng sản Bắc Việt đã đem “tình đồng chí của đảng CS” áp dụng chuyên chính vô sản trong suốt 37 năm qua, chẳng lẽ chúng ta không kết được “nghĩa đồng bào” của 86 triệu bà con (không kể 4 triệu đảng viên CS) và 3 triệu ở hải ngoại để tẩy trừ những kẻ nội thù của quê hương.
Hội nghị Diên Hồng chính là trong thời điểm nầy của tổ quốc Việt Nam hôm nay.
Ngọn lửa Tunisia sẽ bùng cháy cùng hòa lẫn với máu đào của Tuổi Trẻ Việt Nam nơi quê cha đất tổ.
Cám ơn Quý vị đã lắng nghe.
Mai Thanh Truyết
Nhuận sắc 1-2025
Monday, March 10, 2025
Tất cả là Một
Oneness - Once and for All
Lời sau cùng của Cố GS Nguyễn Ngọc Huy:
‘Lúc tắt hơi mới biết được mạng trời
Khi nhắm mắt mới đành thôi hoạt động'
Oneness còn có thể hiểu như: - trạng thái hợp nhứt (state of being united), - thỏa thuận (agreement), - trạng thái hay phẩm chất thành một (?) (the state or quality of being one), - tính độc đáo (uniqueness), - sự đơn độc (singleness), - tính tương tự (sameness).
Đối với người Hindi, Oneness còn có nghĩa là phẩm chất của sự hợp nhất thành một - the quality of being united into one.
Cũng có có quan niệm rằng, chúng ta có thể bắt đầu với ý tưởng nếu chúng ta đến từ ngôn từ Oneness, thực sự chỉ có một người trong chúng ta (one of us) ở trong từ nầy.
“Nhất thể” hay "Ý thức thống nhất" – Oneness or Unity Consciousness là một khái niệm cuối cùng nhận được sự lưu tâm và chấp nhận trong lãnh vực khoa học rộng hơn sẽ được diễn giảng ở phần dưới đây.
1- Về quyển sách Oneness của John Griven
Chương trình Tinh thần Toàn cầu trong quyển sách của John Greven cho rằng sự Đồng nhất gồm một bức tranh lớn trong đó có tác giả và bác sĩ chữa bệnh tâm hồn (mind-body healing) Deepak Chopra cùng với tác giả và nhà khoa học xã hội Riane Eisler cùng có chung một suy nghĩ…
Bạn đã bỏ lỡ điều gì?
Trong Oneness, tác giả John Greven mời độc giả nhìn thế giới như hiện tại, ngay lúc này, không có suy nghĩ riêng của phản ảnh những ẩn dấu bí mật bị che khuất qua nhiều mặt - without the mind’s own reflections obscuring its multifaceted mystery.
Bạn đã bỏ lỡ điều gì?
Trong Oneness, tác giả John Greven mời độc giả nhìn thế giới như nó thực sự, ngay bây giờ - the world as it really is, right now.
Oneness đưa người đọc, từng bước một, đến thực tế không thể chối cãi đó là bản thân - self. Nội dung của cuốn sách nầy là tìm kiếm một trải nghiệm hàng ngày của một người, để chỉ ra điều gì đó mà tâm trí có thể đã lướt qua. Nó không chỉ ra bất cứ điều gì mới, hay bất cứ điều gì bạn có thể đạt được, hoặc bất cứ điều gì bạn có thể mang thêm vào chính mình. Nó không chỉ ra những việc tốt bạn đã làm trong cuộc sống của bạn để nhấn mạnh bạn phải là một người tuyệt vời như thế nào. Nó đang chỉ ra một cái gì đó rất đơn giản, một cái gì đó quá rõ ràng, khi nó được chỉ ra và nhìn thấy; để rồi, bạn tự hỏi làm thế nào và vì sao nó đã bị bỏ lỡ được?
Làm thế nào tâm trí có thể có một cái gì đó quá rõ ràng như đã được đãi ngộ sẵn (for granted)?
Làm thế nào tâm trí dễ dàng ném ra viên ngọc quý giá thuận lợi cho những phản cảm của tâm trí?
Hoặc:
• Bạn có thể đã tìm kiếm qua sự tự giác – self-realization, sự giác ngộ - enlightenment, hoặc tư tưởng của Đức Phật, hay Thượng đế hoặc một số mục tiêu khác có chung hay ngụ ý một điều tương tự.
• Bạn có thể đã tìm kiếm trong nhiều năm hoặc bạn có thể bắt đầu tìm kiếm. Cho dù bạn đã đi du lịch trên cùng một lối đường trong một thời gian dài hay bạn chỉ cần thực hiện bước đầu tiên. Hai việc trên cũng không có gì khác biệt.
Cuốn sách nầy mời bạn hãy nhìn vào một không gian đã bị lướt qua, để xem điều gì là hiển nhiên và đưa cuộc tìm kiếm đó đến một kết thúc…ngay bây giờ.
2- Giác ngộ
Trong hàng ngàn năm, các thầy giác ngộ từ các tín ngưỡng khác nhau, các nhà triết học tiếng tăm, nhà huyền bí – mystics, pháp sư - shamans, và nhà hiền triết – sages… đã cố gắng chia xẻ một thông điệp quan trọng với chúng ta: nhận thức của chúng ta về sự chia ly là một ảo ảnh - our perception of separation is an illusion
Trong mạng lưới của cuộc sống phi thường này, chúng ta được kết nối với mọi thứ. Chúng ta là một - In this extraordinary web of life, we are connected to everything. We are one.
Và hiện nay, vật lý lượng tử đang cung cấp cho chúng ta cùng một thông điệp là mô tả cách các dạng nguyên tử (subatomic), một khi được nối với nhau và sau đó tách ra, vận hành theo cách không liên kết tức thời, truyền thông tin và tác động lẫn nhau trên các khoảng cách lớn. (And now quantum physics is providing the same message… describing how subatomic particles, once joined together and then separated, behave in a nonlocal way instantaneously communicating information and impacting each other over great distances).
Những dạng nguyên từ vướng mắc về căn bản vẫn là một thực thể duy nhất, mặc dù chúng đã được tách ra.
Nguyên tắc vướng mắc nầy giúp chúng ta đóng khung được những trải nghiệm không bình thường của mỗi chúng ta về việc …biết được ai đang nghe điện thoại trước khi chúng ta trả lời hoặc nhận biết điều gì đó về một người ở cách xa ngàn dặm.
Kết nối phi tiêu điểm (nonlocal connections) tồn tại bởi vì chúng ta bị vướng mắc lẫn nhau!
Làm thế nào điều này có thể xảy ra? Tất cả hình thức và vật chất trong vũ trụ đều bắt nguồn từ cùng một điểm kỳ dị đặc biệt (singularity).
Tất cả chúng ta đều vướng mắc. Chúng ta được kết nối bởi cả nguồn gốc của ý thức và bởi các dạng nguyên tử (subatomic) tạo ra hình dạng vật lý (physical forms) của chúng ta.
Vật lý lượng tử cho thấy hành động tập trung sự chú ý của chúng ta thay đổi cách thế giới hành xử xung quanh chúng ta. Hành vi của các dạng nguyên tử, các khối vật chất chung quanh chúng ta bị thay đổi bởi hành động quan sát của chúng ta (the act of our observation).
Như thí nghiệm hai khe (double slit experiment) cho thấy, photon và electron có một cách tương tác (behaving) khi chúng không được nghiên cứu cặn kẽ (chúng có các dạng tác động giao thoa của sóng di chuyển đồng thời qua cả hai khe hở). Tuy nhiên, chúng có mô hình tác động hoàn toàn khác nhau khi chúng được đo để xác định thông qua hai lỗ mở mà chúng di chuyển. Khi chúng được quan sát, sóng lượng tử sụp đổ và các photon và electron chọn một lỗ mở để di chuyển, tạo ra mô hình tác động của các hạt riêng lẻ đập vào màn hình.
Khoa học đang cung cấp bằng chứng về bản chất có sự tham gia của vũ trụ mà chúng ta đang sống. Ý thức là một lực lượng sáng tạo làm thay đổi thực tế chúng ta đã và đang trải nghiệm.
Mỗi suy nghĩ chúng ta có là năng lượng có thể tạo ra hình thức và giúp thể hiện thực tế mà chúng ta mong muốn.
Như vật lý lượng tử tiết lộ, các dạng nguyên tử tồn tại ở nhiều vị trí trong sóng lượng tử cho đến khi quan sát được thực hiện và kết quả được chọn.
Trong mỗi suy nghĩ, nếu chúng ta đã chọn một điểm lựa chọn vì sự chú ý, ý định, hoặc trọng tâm của chúng ta, vô hình chung, chúng ta làm sụp đổ biển khả năng (sea of possibility) thành một kết quả duy nhất (single outcome). Nói chung, khi chúng ta cùng nhau tập trung và các ý định được đặt thẳng hàng (aligned), chúng ta sẽ phóng đại sự chọn lựa một khả năng mong muốn. (Khoa học phía sau Bí mật - The Science Behind the Secret, Travis Taylor).
Trong nhiều năm, một tổ chức có tên là Viện Khoa học Noetic đã nghiên cứu bản chất của ý thức và khả năng kết nối với nhau và với vũ trụ theo những cách chúng ta chưa hiểu được trong hiện tại.
Nghiên cứu xử dụng các tập hợp số ngẫu nhiên đã ghi lại sức mạnh của suy nghĩ và cảm xúc tập thể của chúng ta trước và trong các sự kiện quan trọng trên thế giới. Những nghiên cứu này đang cung cấp bằng chứng về nhận thức tập thể của chúng ta trước khi các sự kiện thế giới xảy ra ...
Các nghiên cứu nghiêm ngặt khác cũng đang cung cấp bằng chứng có ý nghĩa thống kê về sức mạnh mà chúng ta phải xử dụng suy nghĩ của mình để tác động đến thế giới vật chất chung quanh chúng ta.
Điều này sẽ có ý nghĩa gì khi chúng ta thức dậy khỏi giấc mơ chia tay tập thể?
Chúng ta sẽ bắt đầu nhận ra rằng khi chúng ta hướng những suy nghĩ, lời nói và hành động có hại cho người khác, chúng ta sẽ tự nhận chúng vì không có "cái khác".
Vì sao?
Vì, chúng ta là một. Và vì suy nghĩ của chúng ta là năng lượng có thể tạo ra hình thức, chúng ta có sức mạnh tập thể để cùng tạo ra (co-create) thế giới mà chúng ta mong muốn có.
Như nhiều người khôn ngoan đã chia xẻ, chìa khóa chính là tưởng tượng tới các cảm xúc đã có rồi, thứ mà chúng ta mong muốn, như thể chúng đã ở ngay đây.
Chúng ta hãy tưởng tượng một hành tinh hòa bình và yêu thương, phong phú, lành mạnh và an toàn cho tất cả mọi người.
Khi chúng ta tưởng tượng thực tế chúng ta chọn với cảm xúc đã tồn tại xung quanh chúng ta, chúng ta chọn nó từ một từ trường lượng tử của các khả năng. Khi chúng ta chọn khả năng của một hành tinh lành mạnh, hòa bình và từ bi, chúng ta sẽ cùng tạo ra thực tế này.
3- Tính bất nhị - Nondualism
Trong tâm linh, chủ nghĩa vô song, còn được gọi là bất nhị, có nghĩa là "không hai" (not two) hoặc "nhất bất phân chia trong một sát na"- “one undivided without a second” Nondualism nguyên ủy là đề cập đến một trạng thái ý thức trưởng thành, trong đó sự phân đôi của Tôi - Người khác (I-Other) là "vượt qua - transcended" hay không phân biệt, và nhận thức đó được mô tả là "vô tâm - centerless" và "không có sự phân đôi – without dichotomies ".
Mặc dù trạng thái ý thức này dường như có vẻ như tự nhiên, thường tuân theo sự chuẩn bị kéo dài thông qua thực hành khổ hạnh (ascetic) hoặc thiền định, hoặc chiêm niệm (contemplative)…từ đó có thể bao gồm các mệnh lệnh đạo đức (ethical injunctions).
Trong khi thuật ngữ "chủ nghĩa bất nhị" có nguồn gốc từ Advaita Vedanta, những mô tả về ý thức bất nhị không được tìm thấy trong Ấn Độ giáo - Hinduism, Phật giáo (Tánh Không – Emptiness - Nyata), Hồi giáo – Islamic, và các truyền thống Kitô giáo phương Tây và Tân Platonic – Henosis - Hiệp hội huyền bí). (Advaita Vedanta (/ ʌðˈvaɪtə vɛˈðɑːntə /; tiếng Phạn: अद वैत वैत द द द न न có nghĩa là non-duality nhằm thể hiện tâm linh trong một truyền thống bản địa ở Ấn Độ).
Ngược lại, trong truyền thống Phật giáo, tính bất nhị được phát triển trong các triết lý Vệ Đà và hậu Vệ Đà - Veda and post-Veda Upanishad. Tính bất nhị nầy có liên quan đến giáo lý về Tánh không, và hai giáo lý chân lý, đặc biệt là giáo lý Madhyamaka về tính bất nhị của chân lý tuyệt đối và tương đối. Những giáo lý này, cùng với giáo lý về Phật tánh đã là những khái niệm có ảnh hưởng trong sự phát triển tiếp theo của Phật giáo Đại thừa - Mahayana Buddhism, không chỉ ở Ấn Độ, mà cả Phật giáo Đông Á và Tây Tạng, đặc biệt là ở Thiền (Zen) và Kim cương thừa - Vajrayana.
4- Tâm linh nhất thể - Oneness spirituality - Chìa khóa của Hạnh phúc & Thay đổi Thế giới
Tâm linh nhất thể là gì?
Đó là để có một sự hiểu biết sâu sắc và có kinh nghiệm rằng tất cả chúng ta đều là MỘT trong tất cả các biểu hiện của cùng một Ý thức - Consciousness.
Chúng ta cần có điều này tức thì. Bởi vì xã hội chúng ta đang sống bị bệnh về mặt đạo đức, và chúng ta cũng vậy.
Điều trên do chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa vật chất phóng đại, hầu hết mọi người được thúc đẩy để theo đuổi ham muốn của riêng họ bằng bất cứ giá nào. Không cần phải nói, điều này gây ra xung đột và đau khổ cho người khác, và cho cả hành tinh chúng ta đang sống. Và mọi người vẫn không lưu ý hay biết rằng đây không phải là một chiến lược thông minh ngay cả trong việc theo đuổi hạnh phúc cá nhân của chính họ.
Tình huống này giống như nếu mọi tế bào trong cơ thể bạn quyết định tự hành động và tiêu thụ càng nhiều chất dinh dưỡng và năng lượng càng tốt - thậm chí nhiều hơn mức cần thiết. Từ đó, các bộ phận trong cơ thể bạn sẽ sớm bị bệnh và điều đó sẽ gây hại cho sức khỏe của toàn bộ cơ thể - bao gồm cả các tế bào tham lam kia.
Thách thức ở sự nhất thể là làm cho các tế bào riêng lẻ hiểu rõ hai điều:
• Mối quan hệ của chúng (tế bào) với nhau và toàn bộ cơ thể con người;
• Những gì một cuộc sống tế bào tốt là thuộc về tất cả bộ phận trong con người.
Nếu Bạn, trong khi theo đuổi hạnh phúc cho chính mình, làm tổn thương những người khác cũng đang tìm kiếm hạnh phúc, sẽ không tìm thấy nó, dù ở thế giới này hay thế giới tiếp theo. Tâm linh nhất thể sẽ cung cấp cho chúng ta một cách khác để sống một cuộc sống đúng nghĩa và hạnh phúc.
Nguyên tắc mà chúng ta tìm thấy trong tất cả các truyền thống tâm linh, và điều đó có thể tạo ra một sự khác biệt căn cội (radical) cho thế giới là gì? Đó là sự Nhất thể - Oneness.
Điều này giống như mỗi tế bào tự chăm sóc lấy chính nó, nhưng cũng hợp tác với những tế bào khác, và đặt căn bản là lấy sức khỏe của tất cả bộ phận của cơ thể làm mục tiêu. Kết quả là, các tế bào có được tất cả thức ăn và năng lượng cần thiết, cùng với một môi trường tốt hơn và tuổi thọ dài hơn trong một cơ thể lành mạnh.
5- Làm thế nào để thực hành Oneness?
Có một cách để bắt đầu suy gẫm và cởi mở về việc thực hành tự Tánh nhất thể là xem xét những cách nào bạn mang lại sự tôn trọng đối với tất cả các sinh vật sống trong cuộc sống của bạn? Ví dụ về điều này có thể là: Bạn có thể dành thời gian để nhận diện mức độ quan trọng của một con nhện trong nhà mà bản năng bạn muốn giết, vì vai trò của nhện trong cuộc sống hàng ngày của bạn là bảo đảm trong nhà có… ít ruồi, kiến hoặc côn trùng khác có thể ảnh hưởng đến phẩm chất cuộc sống của bạn!
Có bao giờ Bạn có thể dành thời gian để suy ngẫm về những nỗ lực của tất cả mọi người, vật chất, tài nguyên có liên quan đến việc làm +cho bạn có một ly nước không?
Bạn có thể suy nghĩ về sự độc đáo của những phẩm chất của cuộc sống mà bạn có mà bằng lời nói, sự hiện diện, hỗ trợ, hành động của bạn cho phép một người khác trong cuộc sống của bạn trải nghiệm chất lượng cuộc sống tốt hơn.
Các cơ hội để phản ảnh, chiêm nghiệm sự Nhất thể là vô hạn. Nó cho bản thân chúng ta một khoảnh khắc để thấy các kết nối vô tận tồn tại trong mọi trải nghiệm và hành động mà chúng ta tham gia hàng ngày.
Khi bạn thực tập chánh niệm (mindfulness), chiêm nghiệm (contemplation), và suy gẫm (reflection) về tánh nhất thể, điều này có thể giúp bạn mang lại cái nhìn sâu sắc và nhận thức rõ hơn về hiệu quả của hành động của bạn và đánh giá cao hơn cho thời điểm hiện tại bạn đang trải qua. Và TẤT CẢ điều đó đòi hỏi trong chính ngay một sát na (khoảnh khắc) đó phát sinh.
5- Kết luận
Con người cần có đức tin – spiritual faith. Mà đức tin là gì?
Một đức tin tôn giáo dù dưới bất cứ hình thức nào như Thiên Chúa giáo, Phật giáo, Bà la Môn, Ấn độ giáo, Cao đài, Hòa hảo, Islamic, Chúa Jesus, Đức Phật Thích Ca, Phật Bà Quan Âm, Đức Mẹ Maria, Thánh Mohamed, v.v…Tất cả chì là MỘT, chí có khác tên gọi mà thôi. Nếu nghĩ như vậy, thế giới sẽ là Oneness – một nhất thể - Tất cả là Một và Một là tất cả.
Nếu nghĩ như trên, bạn sẽ thấy rằng nhận thức cá nhân của bạn không bao giờ thực sự tách rời khỏi ý thức lớn hơn khác. Bạn chỉ đơn thuần trải nghiệm nó như tách rời trong khi bạn có sẳn một cơ thể, một hình thể - a body, a physical form. Giống như một con sóng trên biển, bạn là một cá thể riêng biệt và độc đáo - a distinct and unique individual, nhưng đồng thời bạn không bao giờ tách rời khỏi biển, từ nguồn cội của bạn.
Bạn là MỘT và là TẤT CẢ.
Vì vậy, những ngôn từ như: Nhứt nguyên – Nhứt thể - Nghĩ cùng một hướng – Thần giao cách cảm – Nhị nguyên (Dualism) – Đa nguyên (Pluralism) – Tính độc đáo (Uniqueness) - Sự đơn độc (Singleness), - Tính tương tự (Sameness).v.v…tuy là những “chữ” viết khác nhau, nhưng thiết nghĩ cho cùng là để diễn đạt cùng một ý niệm:”Một là tất cả - Tất cả là một”
Riêng suy nghĩ của người viết, sau khi góp nhặt cát đá, chuyển dịch những suy nghĩ trích từ mạng lưới toàn cầu, vẫn thấy rằng… đối với cá nhân người viết, phải chăng con sói cô độc (solitary) nhưng không cô đơn (lonely) trong rừng sâu là hiện thân của sự đơn độc hay là tất cả không gian chung quanh gộp lại cũng chỉ là Một?
Tự tánh!
Mai Thanh Truyết
Một suy nghiệm sau cơn mộng du 81 năm dài - 2023
Friday, March 7, 2025
Câu chuyện giả tưởng:
”Giả sử Cộng sản Việt Nam hoàn toàn sụp đổ,
chuyện gì sẽ xảy ra ngay sau đó?” Phần II
Đất nước chuyển đổi có thể là cơ hội, nhưng phải có chiến lược thông minh để tránh hỗn loạn như đã phân tích ở Phần I. Trong trường hợp Việt Nam hiện tại, dù muốn dù không, vài trò của quân đội và công an là hai lực lượng cần thiết để "gìn giữ" ổn định xã hội trong giai đoạn chuyển đổi.
Vấn đề đặt ra là, công cuộc chuyển đổi ước tính kéo dài trong khoảng thời gian bao lâu là hợp lý để công cuộc quản lý quốc gia “phải” trả lại cho... dân sự?
Thời gian quân đội và công an "gìn giữ" ổn định xã hội trước khi trả lại quyền quản lý quốc gia cho dân sự phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhưng có thể ước tính dựa trên các trường hợp lịch sử tương tự. Dưới đây là một số kịch bản có thể xảy ra:
1. Chuyển giao nhanh chóng trong vòng 1-2 năm
Theo kinh nghiệm chuyển đổi của những quốc gia trên thế giới qua dân chủ đòi hỏi vài điều kiện ưu tiên sau:
• Quân đội chỉ tạm thời ổn định tình hình, sau đó nhanh chóng tổ chức bầu cử.
• Có một lực lượng chính trị dân sự đủ mạnh để tiếp nhận quyền lực.
• Kinh tế và xã hội không quá xáo trộn, không xảy ra biểu tình hay nội chiến.
Điển hình là Bồ Đào Nha (1974): Quân đội lật đổ chế độ độc tài, nhưng nhanh chóng tổ chức bầu cử và trao quyền lại cho dân sự trong vòng 1 năm. Tunisia (2011): Sau khi chính quyền độc tài sụp đổ, quân đội chỉ giữ vai trò trung gian trong vài tháng, sau đó tổ chức bầu cử và trao quyền cho chính phủ dân sự. Kịch bản này ít gây xáo trộn, nhưng đòi hỏi phải có sẵn một lực lượng chính trị dân sự mạnh.
2. Quân đội giữ quyền lực trung hạn trong vòng 5-10 năm
Nếu lực lượng dân chủ chưa kịp thành hình và chuẩn bị, hoặc chưa có một tổ chức dân sự đủ mạnh để lãnh đạo, quân đội phải tiếp tục duy trì trật tự xã hội. Trong giai đọan nầy, xã hội có nhiều biến động, cần thời gian để viết lại hiến pháp, thiết lập hệ thống chính trị mới. Và sau cùng, quân đội có thể nắm giữ quyền lực, nhưng phải cam kết chuyển giao dần dần có thể kéo dài từ 5 đến 10 năm. Điển hình là:
• Chile (1973-1990): Sau cuộc đảo chính, quân đội giữ quyền lực 17 năm, nhưng cuối cùng tổ chức trưng cầu dân ý và chuyển giao cho dân sự.
• Myanmar (2011-2021): Quân đội nắm quyền gần 50 năm, sau đó mới mở cửa dần cho dân chủ (nhưng lại đảo chính năm 2021 vì sợ mất quyền lực).
• Hàn Quốc (1961-1987): Quân đội nắm quyền 26 năm, sau đó mới chuyển dần sang dân chủ.
Cũng cần nên ghi nhận, nếu quá trình kéo dài trên 5 năm, nguy cơ quân đội quen với quyền lực và không muốn rời đi rất cao.
3. Quân đội giữ quyền lâu dài trên 10 năm hoặc vĩnh viễn
Trong điều kiện quân đội và công an sau khi nắm quyền lực và trở thành một thế lực chính trị mới, vì tham quyền cố vị, không còn ý định trao trả quyền quản lý lại cho một chính phủ dân sự . Chuyện gì sẽ xảy ra?
Kinh nghiệm đau thương của Đệ I Việt Nam Cộng Hòa ngay sau cuộc đảo chánh TT Ngô Đình Diệm, xã hội rơi vào tình trạng bất ổn kéo dài, các phong trào dân sự bị đàn áp. Chánh phủ dân sự được quân đội trao lại lúc đầu, nhưng cuối cùng cũng dành lại, tạo ra sự bất ổn chánh trị suốt thời Đệ II CH. Chính sự bất ổn, xáo trộn nầy là một trong những yếu tố đưa đến ngày mất nước 30/4/1975.
Cũng như trong trường hợp Miến Điện – Myanmar, quân đội giữ quyền lực từ năm 1962 đến nay, chỉ có vài thời kỳ "cởi mở" trao quyền lại chánh phủ dân sự của Bà Aung San Suu Ky, nhưng cuối cùng vẫn hoàn toàn kiểm soát chính trị.
Trong trường hợp Ai Cập, từ năm 1952 đến nay, quân đội lật đổ chế độ quân chủ, từ đó luôn kiểm soát chính quyền, dù có bầu cử nhưng quyền lực thực sự vẫn thuộc về quân đội.
Còn Thái Lan qua nhiều lần đảo chính, mỗi khi chính quyền dân sự yếu kém, quân đội lại can thiệp và cầm quyền, tạo ra chu kỳ "quân sự - dân sự - quân sự".
Tóm lại, nếu chánh quyền quân đội/công an kiểm soát đất nước quá lâu, từ 10 năm trở đi… kịch bản này sẽ dẫn quốc gia đến việc mất dân chủ lâu dài, không khác gì một chế độ độc tài mới dù không còn mang tên chuyên chính vô sản nữa.
4- Dự đoán cho Việt Nam từ 3-5 năm là hợp lý
Nếu giả sử có một biến động chính trị lớn, quân đội và công an có thể cần 3-5 năm để giữ ổn định trong trường hợp Việt Nam hiện tại. Nhóm nầy có nhiệm vụ viết lại hiến pháp, xác định hệ thống chính trị mới. Để rồi, từ đó khuyến khích việc xây dựng và tập hợp các đảng phái dân sự để có sự lựa chọn cho cử tri. Nếu không thể/không muốn tổ chức bầu cử, và nếu thời kỳ quân quản kéo dài trên 10 năm, chắc chắn sẽ có nguy cơ quân đội không chịu trao trả quyền lực cho dân sự.
Vì vậy, nếu có cuộc chuyển đổi diễn ra ở Việt Nam, quân đội và công an nên giữ vai trò "bảo đảm ổn định" trong 3-5 năm, sau đó tổ chức bầu cử và trả lại quyền quản lý cho dân sự để tránh đi vào vết xe đổ của Myanmar hay Thái Lan.
5- Xác suất chuyển đổi ở Việt Nam ước tính được bao nhiêu %?
Xác suất một cuộc chuyển đổi quyền lực có kiểm soát ở Việt Nam, trong đó quân đội và công an giữ quyền tạm thời rồi chuyển giao cho dân sự, có thể ước tính dựa trên các yếu tố lịch sử, chính trị và xã hội. Dưới đây là phân tích xác suất cho từng giai đoạn tùy theo thời gian chuyển giao quyền quản lý quốc gia cho dân sự
Chuyển giao nhanh từ 1 đến 2 năm: Trong trường hợp Việt Nam, xác suất ước tính từ 10-20%, với điều kiện nếu quân đội và công an chỉ tạm thời duy trì trật tự rồi tổ chức bầu cử nhanh, xã hội ổn định, không có xung đột lớn, và các nhóm lãnh đạo mới đủ khả năng điều hành đất nước ngay lập tức. Sở dĩ xác suất chuyển giao thấp là vì hiện tại Việt Nam chưa có một lực lượng chính trị dân sự mạnh để tiếp nhận quyền lực ngay vì CSBV đã kiểm soát chính trị toàn thề đất nước. Mọi sinh hoạt chính trị, đảng phái đều bị cấm hay bị triệt tiêu hoàn toàn nếu nhà cầm quyền phát hiện được.
Trên thực tế và trong điều kiện Việt Nam hiện tại, không cho phép một cuộc chuyển đổi quá nhanh, nguy cơ rơi vào hỗn loạn hoặc quyền lực rơi vào tay các nhóm không có kinh nghiệm quản lý hay được dựng lên từ những thế lực quốc tế. Xác suất xảy ra cũng vào khoảng từ 10 đến 20%.
Ý thức dân chủ, nhân quyền của tiểu trẻ việt hiện nay tuy được nâng cao và tương đối phổ quát, nhưng trước sự kiểm soát và hình phạt gắt gao nếu bị phát hiện làm cho tuổi trẻ khó kết hợp và tổ chức thành đoàn thể được.
Quân đội giữ quyền trung hạn từ 3 đến 5 năm rồi chuyển giao: Điều nầy có xác suất từ 40 đến 50% nếu có vài điều kiện dưới đây như quân đội và công an giữ vai trò ổn định xã hội, sau đó tổ chức cải cách và chuyển giao dần dần không làm mất đi sự ổ định xã hội. Thành lập ban tu chỉnh hay viết lại hiến pháp cho hợp với hệ thống chính trị mới và ứng hợp với việc hội nhập vào cộng đồng thế giới. Trong giai đoạn nầy, Ban/Hội đồng Quân quản vừa chuẩn bị chuyển giao cho dân sự, vừa điều hành quốc gia cả về chính trị, quân sự, an ninh lãnh thổ.
Sau cùng, các nhóm lãnh đạo dân sự có thời gian để phát triển trước khi tiếp quản quyền quản lý quốc gia từ quân đội.
Khả năng chuyển giao quyền lực trong điều kiện trên có xác suất cao là vì mô hình này đã từng áp dụng thành công ở nhiều nước như Chile, Hàn Quốc, trong đó, quân đội có thể đóng vai trò trung gian, giúp quá trình chuyển đổi diễn ra an toàn, bảo đảm quyền lợi cho nhóm cầm quyền hiện tại, tránh xung đột, và trấn an sẽ không có những cuộc thanh trừng hay tắm máu sau đó!
Quân đội giữ quyền 10+ năm hay vĩnh viễn có xác suất từ 30 đến 40%
Nếu không có sự đồng thuận về chuyển đổi, quân đội quyết định nắm quyền lâu dài. Từ đó, xã hội sẽ rơi vào tình trạng quân phiệt bất ổn hoặc có mâu thuẫn với/giữa các nhóm chính trị. Chính điều nầy sẽ khiến cho quân đội và công an thiết lập một mô hình mới, nhưng vẫn duy trì kiểm soát chặt chẽ. Đây chính là mô hình của số nước trong khu vực như Myanmar, Thái Lan ngày nay. Quân đội có thể không muốn rời bỏ quyền lực nếu thấy lợi ích và bản thân của mình bị đe dọa nếu có chuyển đổi.
Theo nhận định của người viết, dự báo hợp lý và lý tưởng nhứt trong điều kiện chính trị, quân sự, và sự phân tán cũng như đấu đá nội bộ của đảng CSBV, nếu có bất cứ một biến động chính trị nào, quân đội và công an có thể giữ quyền 3-5 năm rồi chuyển giao dần dần cho chánh phủ dân sự.
6- Sau cùng vai trò của người dân trong giai đoạn chuyển giao sẽ như thế nào?
Trong giai đoạn chuyển giao quyền lực, vai trò của người dân sẽ rất quan trọng vì họ là yếu tố quyết định tốc độ, mức độ thành công và hướng đi của quá trình chuyển đổi nầy. Có thể nói điều kiện tiên quyết cần phải có là giữ ổn định xã hội, tránh rơi vào hỗn loạn. Vì, khi một chế độ cũ sụp đổ, nếu người dân hoảng loạn, bạo loạn hoặc chia rẽ, đất nước sẽ rơi vào hỗn loạn. Điển hình trong quá khứ như Iraq (2003), sau khi chế độ Saddam Hussein bị lật đổ, không có sự đồng thuận trong xã hội vì khác biệt giai tầng, thức bậc trong xã hội, vì khác biệt tôn giáo … dẫn đến nội chiến. Tại Libya (2011), người dân chia rẽ theo phe phái, cuối cùng không có chính quyền ổn định.
Vì vậy, vai trò của người dân rất quan trọng như không tham gia vào các hoạt động cực đoan như đập phá, trả thù chính trị, tích cực hợp tác với lực lượng an ninh để duy trì trật tự, và nhứt là không lan truyền tin giả, kích động thù hận trên mạng xã hội, truyền thông đại chúng.
Cần thúc đẩy đối thoại thay vì đối đầu: Nếu người dân bị chia rẽ về ý thức hệ, xung đột có thể bùng phát trở lại ngay sau khi chuyển đổi. Nếu có sự đồng thuận của đa số người dân, cuộc cách mạng có xác suất thành công rất cao. Trong buổi giao thời, người dân cần phải chấp nhận sự khác biệt về quan điểm, không cực đoan hóa vấn đề chính trị, tham gia đối thoại ôn hòa giữa các nhóm khác nhau để tìm giải pháp chung, và nhứt là ủng hộ các giải pháp trung dung, tránh để đất nước rơi vào tình trạng "bên thắng bên thua".
Bài học từ Nam Phi sau khi chế độ Apartheid sụp đổ, Nelson Mandela kêu gọi hòa hợp dân tộc, nhờ đó Nam Phi tránh được nội chiến và xã hội tiếp tục tiến bước trên con đường phát triển thông thoáng.
Giám sát và gây áp lực để đảm bảo chuyển giao diễn ra đúng lộ trình như đã vạch sẵn. Nếu không có sức ép từ người dân, quân đội hoặc lực lượng cầm quyền có thể kéo dài quá trình chuyển giao hoặc độc quyền hóa quyền lực. Như ở Myanmar là một điển hình. Quân đội hứa chuyển giao cho dân sự nhưng sau đó lại đảo chính, quay về chế độ độc tài quân phiệt nhiều lần bằng vũ lực.
Vai trò của người dân trong trướng hợp nầy cần đòi hỏi sự minh bạch trong quá trình chuyển giao quyền lực, trực tiếp tham gia các phong trào xã hội ôn hòa để bảo đảm không có sự lạm quyền. Người cần ủng hộ các tổ chức dân sự, giúp xây dựng một chính quyền dân chủ. Thí dụ tốt như ở Chile, sau khi chế độ độc tài quân sự sụp đổ, người dân đã gây sức ép để có một cuộc trưng cầu dân ý công bằng, đảm bảo quyền lực không rơi vào tay một nhóm lợi ích.
Người dân tham gia vào các tổ chức chính trị, xã hội để định hướng đất nước
Một chính quyền mới muốn hoạt động tốt cần có lực lượng dân sự có năng lực quản lý. Nếu người dân chỉ đứng ngoài quan sát, đất nước có thể bị kiểm soát bởi một nhóm nhỏ có lợi ích riêng.
Vì vậy, vai trò của người dân là cần phải tham gia vào các tổ chức chính trị mới, đóng góp ý tưởng và giám sát chính sách, tham gia hội đồng địa phương, hiệp hội xã hội để định hình tương lai đất nước, tránh suy nghĩ thụ động xem đó là chuyện của người khác, của các nhóm chính trị, không nhứt thiết phải tham gia.
Trường hợp Ba Lan chẳng hạn, khi chế độ Cộng sản sụp đổ, phong trào Công đoàn “Solidarity” đóng vai trò lớn trong việc xây dựng một nền dân chủ bền vững với sự tập hợp đông đảo dân chúng ngày từ đầu..
Tóm lại, người dân là yếu tố quyết định thành công hay thất bại trong mỗi lần lột xác của đất nước. Nếu người dân hành động có trách nhiệm, quá trình chuyển đổi sẽ diễn ra suôn sẻ. Nếu người dân bị kích động, chia rẽ, đất nước có thể rơi vào bất ổn hoặc nội chiến.
Nếu người dân hành động khôn ngoan, Việt Nam có thể học theo mô hình chuyển đổi thành công của Hàn Quốc, Đài Loan, Chile… thay vì rơi vào tình trạng như Myanmar hay Libya.
7- Thay lời kết
Người viết vừa trang trải một giấc mơ về một câu chuyện giả tưởng “Giả sử Cộng sản Việt Nam hoàn toàn sụp đổ, chuyện gì sẽ xảy ra ngay sau đó?” trong đó tưởng tượng ra nhiều giả thiết có thể xảy ra cho Việt Nam tùy theo điều kiện khách quan và chủ quan của đất nước. Và ước vọng của người viết (hy vọng cũng là ước vọng của người dân) là nếu có chuyển đổi xảy ra thì nên xảy ra trong ôn hòa, không bạo động. Và diễn biến của cuộc chuyển đổi sẽ được giới hạn trong vòng từ 3 đến 5 năm.
Qua hình bên cạnh, hình ảnh hàng triệu người dân Estonia (Bắc Âu) tay nắm tay tới tận biên giới Nga để tỏ sự đoàn kết và sức mạnh dân tộc của một quốc gia với vài triệu dân dám đối đầu với 160 triệu con gấu Nga, khiến cho người viết càng tin tưởng câu chuyện giả tưởng trên đây sẽ thành … sự thật!
Nếu được như vậy, đây sẽ là một cuộc Cách Mạng Nhung mang dân tộc xích lại gần nhau trong nghĩa tình Một Mẹ Trăm Con của tiền nhân.
Như hiện nay, dù đã 50 năm thống nhứt toàn cõi từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mau, nhưng niềm đau dân tộc vẫn còn dai dẳng. Tuy không còn dòng Sông Bến Hải ngăn đôi bờ địa lý, nhưng dân tộc thực sự đã bị phân liệt, không phân liệt vì vùng miền Bắc – Trung – Nam, mà bị phân liệt vì… hận thù chủ nghĩa từ một chủ nghĩa không tưởng ngoại lai vận vào!
Bài học lịch sử của dân tộc Đức ngày nay qua việc giựt xập bức tường Bá Linh để không còn Đông Đức và Tây Đức nữa chính là nhờ ý chí thống nhứt của toàn dân tạo dựng lại một quốc gia Đức - Germany. Chính người dân Đức tự họ đập tan bức tường ô nhục Berlin, chứ không phải bị phía nào xâm lăng vì bạo lực cả. Phía Đông, người dân đập phá một mảng tường, phía Tây, người dây Tây Đúc chuẩn bị thực phẩm, nước uống, quần áo chào đón đồng bào ruột thịt. Đây chính là một bài học lớn cho những người con Việt còn nặng nợ với quê hương trong và ngoài nước.
Sợi dây chia cắt tuy vô hình nhưng đã cách chia Nam Bắc hàng 50 năm qua!
Hởi tất cả những người con Việt, phải chăng đã đến lúc cần phải khơi dậy tình tự dân tộc trong cơn chuyển đổi sắp tới của Việt Nam.
Mong lắm thay!
Mai Thanh Truyết
Giấc mơ cuối đời - 2025
Khi đảng CS tự xóa bỏ chình mình
Wednesday, March 5, 2025
Câu chuyện giả tưởng:
”Giả sử Cộng sản Việt nam hoàn toàn sụp đổ,
chuyện gì sẽ xảy ra ngay sau đó?” Phần I
Lời người viết: Đây là một câu chuyện giả tưởng không căn cứ và bất cứ sự kiện nào cả. Tất cả hoàn toàn do trí tưởng tượng của người viết. Có nhiều yếu tố có thể ảnh hưởng đến diễn biến tiếp theo sau sự kiện đó. Nếu giả sử chính quyền Cộng sản Việt Nam sụp đổ hoàn toàn, chuyện gì sẽ xảy ra cho Việt Nam?
Ngay sau khi Đảng Cộng sản Bắc Việt tan rã
1. Khoảng trống quyền lực và bất ổn tạm thời
Khi một nhà cầm quyền sụp đổ, đặc biệt là một hệ thống có tổ chức chặt chẽ như Đảng Cộng sản Việt Nam, khoảng trống quyền lực có thể dẫn đến bất ổn trong ngắn hạn.
Các nhóm chính trị đối lập, lực lượng quân đội, các nhóm lợi ích trong đảng còn lại, và các tổ chức xã hội dân sự có thể tranh giành ảnh hưởng để thiết lập một chính quyền mới.
Các cuộc biểu tình, đình công, hoặc thậm chí xung đột vũ trang có thể xảy ra nếu không có sự chuyển tiếp quyền lực có trật tự do nhiều thành phần trong xã hội tạm thời đứng ra “quản lý” xã hội.
2. Vai trò của quân đội và lực lượng công an
Dù muốn dù không, một khi Bộ Chính trị và Ủy ban Trung ương đảng, cơ quan đầu não của đảng “bị” giải tán, Quân đội Việt Nam có thể can thiệp để duy trì trật tự, hoặc thậm chí tiếp quản chính quyền trong một thời gian ngắn.
Một chính quyền quân sự tạm thời có thể được thành lập trước khi chuyển giao sang một thể chế mới.
Nếu không có sự thống nhất trong quân đội và công an (một lực lượng đối trọng và ngang hang với quân đội hiện tại), sẽ có nguy cơ chia rẽ và đấu đá nội bộ.
Quan trọng hơn cả là trong tình trạng nội bộ của đảng CSBV, TBT Tô Lâm, người đã nắm công an với số lượng nhân sự “kín và hở” trên 1 triệu người, do đó hiện là một lực lượng mạnh nhứt nước, có thể trong trường hợp giả định trên sẽ gồm thâu tất cả về một mối, và trở thành độc tài như Putin sau khi Yeltsin giải tán đảng cộng sản Nga. Đây là một kịch bản có xác suất lớn nhứt hiện nay.
3. Ảnh hưởng của các lực lượng chính trị khác
Các tổ chức chính trị lưu vong có thể tìm cách quay về Việt Nam để tham gia tái thiết chính quyền. Nhưng thực tế nhìn lại hiện trạng ở ngoại quốc, Những tổ chức nào có thể “được” nêu danh. Các đảng phái quốc gia có từ thời thập niên 40 của thế kỷ trước: Việt Nam Quốc Dân Đảng, Đại Việt, cũng như các đảng phái mờ mờ ảo ảo, cùng nhiều chánh phủ lâm thời, chánh phủ quốc gia, chánh phù VNCH tương lai, Đệ Tam CH v.v…cũng chỉ là những lá bài ảo mà thôi. Hoàn toàn không ảnh hưởng gì cả!
Các đảng phái dân chủ hoặc phong trào tự do trong nước có thể trỗi dậy. Nói như vậy là để liệt kê trong suốt chuỗi luận lý, thật sự trong nước chắc cũng không khá hơn hải ngoại sau 50 nằm dưới sức ép và sự kiểm soát của cường quyền.
Chỉ còn các nhóm lợi ích kinh tế trong và ngoài nước có thể tác động đến tiến trình chuyển đổi chính trị. Nhưng các nhóm nầy là những ai? Họ là những tài phiệt ở hải ngoại, những “ông chạy cờ” cho Mỹ. Và ở trong nước, các nhóm lợi ích kinh tế dực vào quyền lực của các lãnh tụ lớn để khuynh đảo thị trường, gây thanh thế, chiếm hữu đất đai và tài sản dân tộc. Họ có thể tác động đến tiến trình chuyển đổi chính trị của Việt Nam, nhưng chỉ có thể đóng góp vai trò phụ trợ mà thôi.
4. Hệ lụy kinh tế
Thị trường có thể rơi vào tình trạng hỗn loạn do sự bất ổn chính trị ngay sau đó. Việc kiểm soát thị trường từ giai đoạn sản xuất, phân phối và tiêu thụ sẽ bị xáo trộn tạo cơ hội đầu cơ tích trữ của đám hoạt đầu. Từ đó, sẽ làm xáo trộn xã hội có thể đi đến hỗn loạn quốc gia.
Các nhà đầu tư nước ngoài có thể rút vốn, dời cơ sở sản xuất gây ảnh hưởng bất lợi cho xã hội và đời sống kinh tế của người dân. Qua kinh nghiệm, xác suất nầy có thể có tỷ lệ rất cao.
Nếu có cải cách nhanh chóng theo hướng thị trường tự do, nền kinh tế có thể phục hồi và phát triển mạnh hơn. Nhưng điều nầy hoàn toàn không tưởng.
5. Ảnh hưởng của các cường quốc
Trung Cộng có thể tìm cách duy trì ảnh hưởng của mình tại Việt Nam, có thể thông qua kinh tế hoặc thậm chí hỗ trợ các nhóm chính trị thân Bắc Kinh. Đây là một quốc gia có tầm ảnh hưởng lên Việt Nam nhiều nhứt. TC sẽ mau chân chuẩn bị những “con gà” nhằm tham gia/áp đặt vào chánh quyền mới.
Mỹ và phương Tây có thể thúc đẩy quá trình dân chủ hóa và cung cấp hỗ trợ tài chính và đứng ngoài với tư thế “wait and see”. Mỹ và Tây phương lúc nào cũng đi chậm và đi sau TC. Vì mang tinh thần dân chủ, Tây phương luôn có thái độ dè dặt “không tham dự vào nội bộ chính trị” của nước khác, cho nên không biết cướp thời cơ/chụp giựt như TC.
Còn Nga, dù sao cũng là đàn anh của CSBV một thời, cũng muốn tạo ra nhóm ảnh hưởng từ các đảng viên CSBV cũ thân Nga.
Và các nước láng giềng như Thái Lan, Campuchia, và Lào có thể theo dõi sát sao tình hình để điều chỉnh chính sách ngoại giao của họ cho thích hợp với chính quyền mới. Dù sao các quốc gia kể trên vẫn còn kính nể Việt Nam một phần nào, nhứt là Lào.
6. Hướng đi “mới” của Việt Nam
Nếu quá trình chuyển đổi diễn ra trong hòa bình, Việt Nam có thể tiến tới một nền dân chủ đa đảng hoặc một chính phủ hỗn hợp có sự tham gia của nhiều phe phái sẽ được thiết lập trong hòa bình ngay sau đó. Xác suất xảy ra: 0%!
Nếu xung đột nội bộ kéo dài, Việt Nam có thể rơi vào tình trạng mất ổn định, thậm chí là chia rẽ vùng miền. Kinh nghiệm Việt Nam Cộng hòa sau khi Đệ I CH bị xóa sổ, Quân đội và các Nhóm chính trị dân sự dằn co làm cho đất nước rơi vào hỗn loạn chính trị. Xác suất xảy ra: 100%.
Một số mô hình có thể xảy ra:
- Dân chủ kiểu phương Tây (giống Đài Loan hoặc Hàn Quốc sau khi chuyển đổi từ chế độ độc tài).
- Chế độ chuyên quyền mới (một nhóm lãnh đạo khác lên nắm quyền nhưng vẫn duy trì quyền lực tập trung như trường hợp Miến Điện, Nga).
- Liên minh chính trị hỗn hợp (các đảng phái mới cùng chia sẻ quyền lực trong tinh thần quốc gia trên hết). Xin ghi ra đây thôi, thật sự giả thiết nầy chỉ là … lý thuyết. Nhắc lại câu chuyện “Giỏ cua” của người Việt không có nắp đậy…vì con cua nào trồi lên cũng bị các con cua phía dưới … kéo xuống!
Không có một kịch bản đơn độc và đơn giản nào cho sự kiện này, vì nó sẽ phụ thuộc vào cách thức chính quyền sụp đổ trong trật tự hay hỗn loạn, yên ẳng hay bạo động…và ai là người kiểm soát quyền lực sau đó, và phản ứng của người dân cũng như các thế lực bên ngoài.
Một sự thay đổi lớn như vậy có thể mang lại cơ hội nhưng cũng tiềm ẩn rất nhiều rủi ro.
Nếu Quân đội và công an ổn định trật tự
Có thể nào họ lại dàn dựng lại một loại
chế độ xã hội chủ nghĩa khác hay không?
Giả thiết nầy có thể xảy ra hay không? Một loại độc tài kiều “Putin”, nghĩa là chỉ thay đổi toàn bộ nhân sự lãnh đạo đảng mà thôi và dưới danh nghĩa “Độc tài Công an trị”,
Trả lời:
Có, kịch bản này hoàn toàn có thể xảy ra, và trên thực tế, nó đã từng diễn ra ở một số quốc gia hậu cộng sản. Nếu quân đội và công an duy trì được sự ổn định và nắm quyền kiểm soát, họ có thể dàn dựng một hệ thống mới mang danh nghĩa khác nhưng thực chất vẫn giữ nguyên nhiều yếu tố của chế độ xã hội chủ nghĩa trước đó.
Dưới đây là một số viễn cảnh khả thi:
1. Giữ lại hệ thống, chỉ thay đổi lãnh đạo
Trong trường hợp này, chính quyền mới có thể tuyên bố "cải tổ", loại bỏ những nhân vật lãnh đạo cũ bị cho là tham nhũng, yếu kém, bất lực, hoặc mất uy tín với “nhân dân”.
Đảng Cộng sản Bắc Việt có thể bị giải tán trên danh nghĩa, nhưng các nhóm lãnh đạo mới (chủ yếu từ quân đội, công an hoặc giới tinh hoa chính trị cũ) vẫn giữ quyền lực.
Họ có thể lập ra một "đảng mới" có tên mới, hoặc một liên minh chính trị thay thế nhưng vẫn hoạt động theo mô hình cũ. Rượu mới nhưng vẫn bình cũ.
2. Chuyển đổi theo mô hình "độc đảng mềm"
Chính quyền có thể cho phép một số cải cách dân chủ hình thức, chẳng hạn như thành lập thêm một số đảng đối lập nhưng bị kiểm soát chặt chẽ. Giống y như thời HCM cướp chánh quyền Trần Trọng Kim xong, cho thành lập đảng Dân chủ làm cò mồi, nhưng thực chất lãnh đạo của đảng cũng la2tha2nh phần chủ chốt của đảng cộng sản.
Đây là mô hình đã từng xuất hiện ở Nga thời hậu Xô Viết, nơi đảng cầm quyền thay đổi hình thức nhưng vẫn giữ quyền lực thông qua cơ chế kiểm soát báo chí, bầu cử và chính sách kinh tế. Putin là một điển hình…
Trung Cộng hiện tại cũng duy trì một hệ thống xã hội chủ nghĩa nhưng đã chuyển sang nền kinh tế thị trường “theo định hướng xhcn”, tức là một loại kinh tế chỉ huy.. Việt Nam có thể theo hướng này nhưng với một bộ máy chính trị ít ý thức hệ hơn, tuy nhiên vẫn cố rập khuôn theo TC!
3. Mô hình "độc tài quân sự kiểu mới"
Quân đội có thể thành lập một chính quyền quân sự lâm thời, goi là chế độ “quân quản” như ở miền Nam ngay sau ngày 30/4/1975. Nhưng sau đó xây dựng một thể chế chính trị mới nhưng vẫn tập trung tất cả quyền lực vào tay CSBV.
Nhóm quân phiệt nầy có thể sử dụng các khẩu hiệu dân tộc chủ nghĩa thay vì xã hội chủ nghĩa để duy trì sự chính danh hầu xóa tan xhch độc tài độc đoán đã qua dù họ cũng đã từng là những lãnh đạo và lãnh tụ.
Một số quốc gia như Myanmar đã từng thực hiện mô hình này khi quân đội nắm quyền và chỉ tổ chức các cuộc bầu cử có kiểm soát. Kết quả là độc tài vẫn là độc tài
4. Chuyển đổi sang chế độ "tư bản thân hữu"
Nếu chính quyền quân đội hoặc một nhóm lãnh đạo mới nắm quyền, họ có thể chọn hướng cải cách kinh tế mạnh mẽ dưới sự kiểm soát của họ nhưng được nới lỏng hơn, tuy nhiên, việc kiểm soát chính trị vẫn được siết chặt như cũ.
Mô hình này có thể giống Trung Cộng hoặc Nga, nơi các nhóm lợi ích kinh tế mới (thường là các cựu quan chức hoặc quân đội) thao túng nền kinh tế và chính trị của hai quốc gia nầy.
Việt Nam có thể trở thành một quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển nhưng chính trị vẫn tập trung vào tay một nhóm quyền lực nhất định tập trung hơn, khác hẳn tập thể lãnh đạo như Bộ chính trị đảng CS như trước kia nữa.
5. Khả năng xảy ra kịch bản Quân đội - Công an
Kịch bản này có khả năng xảy ra nếu dưới nhiều góc độ và trường hợp có thể xảy ra:
Quân đội và công an thống nhất trong hành động, tránh được chia rẽ nội bộ. Xã hội trong điều kiện nầy sẽ ít bị xáo trộn chính trị hơn. Họ sẽ kiểm soát được tình hình chính trị và kinh tế mà không để xảy ra hỗn loạn xã hội và gây hoang mang trong dân chúng. Nhóm lãnh đạo mới có đủ kỹ năng và sự linh hoạt để tái cấu trúc hệ thống nhà nước mà vẫn duy trì quyền lực.
Người dân không có đủ tổ chức hoặc phong trào mạnh nào có khả năng tập hợp trong điều kiện nầy để thúc đẩy một hệ thống dân chủ thực sự.
Tóm lại, nếu quân đội và công an ổn định tình hình sau sự kiện sụp đổ, họ hoàn toàn có thể tạo ra một mô hình "xã hội chủ nghĩa kiểu mới", trong đó quyền lực vẫn nằm trong tay một nhóm nhỏ thay vì mở ra một nền dân chủ thực sự. Đây là một chiến lược mà một số quốc gia hậu cộng sản đã áp dụng để tránh hỗn loạn nhưng vẫn giữ quyền lực trong tay giới tinh hoa chính trị cũ. Và có lẽ, Tô Lâm hiện nay cũng đang cố thực hiện kịch bản nầy cho Việt Nam trong những ngày sắp đến.
Có thể gọi "giả sử" trên lá cách mạng nhung không?
Người viết xin trả lời ngay là giả thiết trên không hoàn toàn giống với một cuộc cách mạng nhung - Velvet Revolution, mặc dù có một số điểm tương đồng.
Tại sao?
Cách mạng nhung thường dẫn đến dân chủ thực sự: Trong lịch sử, các cuộc cách mạng nhung (như ở Tiệp Khắc năm 1989) thường do các phong trào dân sự, trí thức và quần chúng lãnh đạo, dẫn đến sự sụp đổ của chế độ cũ và thay thế hoàn toàn bằng một hệ thống đa đảng, dân chủ thực sự. Trong giả sử trên, quân đội và công an vẫn kiểm soát tình hình và có thể chỉ thay đổi nhân sự lãnh đạo mà không thực sự chuyển sang chế độ dân chủ đa nguyên.
Không có sự chuyển giao quyền lực thực sự: Nếu quân đội và công an chỉ thay đổi một nhóm lãnh đạo nhưng vẫn duy trì mô hình cai trị tập trung, thì đó chỉ là một cuộc thay đổi nội bộ trong hệ thống chứ không phải một cuộc cách mạng nhung.Cách mạng nhung thường dẫn đến bỏ điều 4 hiến pháp (độc quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản) và cho phép các đảng phái đối lập hoạt động tự do. Nếu điều này không xảy ra, thì đó chưa thể gọi là cách mạng nhung. Cách mạng nhung thường là phi bạo lực và do người dân chủ động. Nếu sự thay đổi được thúc đẩy từ nội bộ quân đội/công an chứ không phải từ phong trào quần chúng, thì nó có thể giống một cuộc đảo chính nội bộ hơn là một cuộc cách mạng nhung. Trong các cuộc cách mạng nhung điển hình, người dân và các phong trào đối lập đóng vai trò trung tâm, chứ không phải là quân đội hay công an.
Vậy gọi là cách mạng gì?
Nếu có sự thay đổi lãnh đạo nhưng giữ nguyên hệ thống chính trị, thì nó có thể được gọi là một cuộc thanh trừng nội bộ hoặc chuyển đổi chính trị có kiểm soát.
Nếu quân đội nắm quyền và tự tái cấu trúc hệ thống, nó có thể được xem là một cuộc đảo chính mềm hoặc chuyển đổi theo mô hình độc tài quân phiệt mới.
Nếu có cải cách chính trị sâu rộng nhưng vẫn dưới sự kiểm soát của một nhóm quyền lực, thì nó có thể là một cuộc cải tổ từ trên xuống nhưng không đổ máu (giống cách Trung Cộng từng thực hiện dưới Đặng Tiểu Bình).
Qua trên, Việt Nam có cần "chuyển đổi" để
đẩy mạnh phát triển hơn không?
Tùy theo nhiều góc nhìn khác nhau:
Nếu mục tiêu là phát triển kinh tế mạnh hơn, Việt Nam đã có sự chuyển đổi đáng kể từ nền kinh tế kế hoạch hóa sang kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa từ năm 1986 với Đổi Mới. Tuy nhiên, mô hình nầy vẫn có hạn chế như tham nhũng và lợi ích nhóm cản trở sự minh bạch và cạnh tranh lành mạnh. Doanh nghiệp nhà nước kém hiệu quả, làm giảm năng suất kinh tế. Hệ thống pháp lý chưa hoàn thiện, làm hạn chế đầu tư và sáng tạo. Ba nhận định trên giải thích được việc phát triển chậm và làm trì trệ việc nâng Việt Nam thành Rồng suốt 40 năm qua!
Vì vậy,
Nếu còn giữ nguyên hệ thống chính trị nhưng thực hiện cải cách thể chế mạnh và thông thoáng hơn (giống TC thời Đặng Tiểu Bình) thì có thể giúp Việt Nam tăng trưởng nhanh hơn mà không cần thay đổi mô hình toàn diện.
Nếu chuyển sang nền kinh tế tự do hơn, hạn chế quyền lực nhà nước trong kinh doanh, thì Việt Nam có thể đi theo hướng của Hàn Quốc hoặc Đài Loan sau những năm 1980.
Hướng đi đúng đắn của Việt Nam
Hiện tại, Việt Nam đang có bất bình đẳng kinh tế gia tăng, đặc biệt giữa thành thị và nông thôn. Ngoài ra, môi trường bị khai thác quá mức, giáo dục và y tế chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển dài hạn, Xã hội có nhiều vấn đề về lao động, an sinh xã hội và phẩm chất cuộc sống của người dân.
Vì vậy phải cần:
- Cải cách thể chế để giảm độc quyền và tăng sự giám sát của người dân.
- Cần các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân và sáng tạo thay vì chỉ tập trung vào doanh nghiệp nhà nước.
- Cần chuyển đổi theo hướng minh bạch hơn, nhưng không nhất thiết phải thay đổi chế độ chính trị ngay lập tức.
Việt Nam đang ở thế phải cạnh tranh với các nước mạnh như Hàn Quốc, Trung Cộng, Thái Lan, Malaysia. Để không bị tụt hậu, Việt Nam cần một hệ thống pháp luật công bằng và minh bạch hơn. Mở cửa hơn với đầu tư nước ngoài và công nghệ cao. Giảm bớt kiểm soát nhà nước với doanh nghiệp tư nhân.
Việt Nam cần chuyển đổi để phát triển mạnh hơn, nhưng mức độ chuyển đổi có thể khác nhau:
Nếu chỉ muốn tăng trưởng kinh tế nhanh hơn, cần cải cách kinh tế theo hướng thị trường nhiều hơn.
Nếu muốn phát triển bền vững hơn, cần cải cách thể chế để minh bạch hơn.
Nếu muốn phát triển toàn diện như Hàn Quốc hay Đài Loan, có thể cần thay đổicả hệ thống chính trị.
Làm sao tránh được hỗn loạn và bất ổn xã hội trong quá trình chuyển đổi?
Tránh hỗn loạn và bất ổn xã hội trong quá trình chuyển đổi là một thách thức lớn. Để thành công, cần một chiến lược từng bước, ổn định và kiểm soát tốt. Dưới đây là một số yếu tố quan trọng để bảo đảm tiến trình này diễn ra suôn sẻ:
Chuyển đổi dần dần thay vì đột ngột.
Qua bài học từ Đông Âu sau khi Liên Xô sụp đổ, nhiều nước Đông Âu rơi vào khủng hoảng kinh tế do chuyển đổi quá nhanh trong việc tư nhân hóa. Ngược lại, Trung Cộng và Việt Nam áp dụng mô hình “cải cách nhưng giữ ổn định” sau những năm 1990, giúp tăng trưởng mạnh mà không gây sốc hệ thống. Như:
Cải cách từ từ, bắt đầu từ kinh tế, sau đó mới đến chính trị mềm mỏng dần.
• Giữ nguyên một số thể chế quan trọng (như quân đội, hành chính) để tránh khoảng trống quyền lực.
• Không vội vã thay đổi toàn bộ lãnh đạo, mà thay dần theo lộ trình và khuynh hướng mở của lớp lãnh đạo trẻ hấp thụ phần nào văn hóa Tây phương.
• Bảo đảm sự đồng thuận của các nhóm quyền lực vì nếu nhóm cầm quyền cảm thấy bị đe dọa hoàn toàn, họ có thể chống lại sự thay đổi bằng bạo lực.
• Trường hợp Miến Điện (Myanmar), quân đội đã đảo chính vì lo ngại mất quyền lực khi dân chủ hóa quá nhanh. Cho nên thất bại, cho đến bây giờ đất nước nầy vẫn còn nằm trong khủng hoảng chính trị nội bộ, xã hội bị xáo trộn hoàn toàn.
• Ở Nam Phi, Nelson Mandela đàm phán với chế độ Apartheid thay vì đối đầu trực tiếp, giúp chuyển đổi diễn ra trong hòa bình.Thỏa thuận với các nhóm quyền lực để họ không cản trở quá trình cải cách.
• Đảm bảo lợi ích nhất định cho giới lãnh đạo cũ, giúp họ yên tâm tham gia quá trình chuyển đổi thay vì chống lại nó. Điều nầy sẽ làm cho họ … yên tâm đi xuống!
• Duy trì vai trò của quân đội và công an, nhưng đặt họ dưới sự giám sát dân sự dần dần qua các hội đồng dân sự.
Bảo đảm kinh tế ổn định trong tiến trình chuyển đổi.
Nến nền kinh tế suy thoái có thể dẫn đến thất nghiệp, lạm phát và bất ổn xã hội. Duy trì ổn định tài chính và tiền tệ, tránh sốc nền kinh tế. Mở cửa kinh tế dần dần, không tư nhân hóa quá nhanh. Đầu tư vào an sinh xã hội, tránh để người dân rơi vào cảnh nghèo đói khi chuyển đổi.
Đảm bảo truyền thông minh bạch, tránh tin giả và kích động
Nhiều cuộc cách mạng thất bại vì thông tin bị bóp méo, gây ra hiểu lầm và xung đột. Ở Ukraine, mâu thuẫn giữa các vùng miền bị truyền thông kích động, dẫn đến nội chiến kéo dài. Và đây cũng là một trong những nguyên nhân đưa đến việc Nga huy động võ lực ngày 24/2/2022. Ở Tiệp Khắc, truyền thông đóng vai trò tích cực trong cách mạng nhung, giúp quá trình chuyển đổi diễn ra hòa bình. Do đó, truyền thông cần được kiểm soát tốt tránh loan tin giả và tuyên truyền thù hận. Tạo ra một môi trường truyền thông cởi mở nhưng có trách nhiệm. Khuyến khích đối thoại thay vì đối đầu.
Xây dựng một lộ đồ chuyển đổi rõ ràng
Nếu không có kế hoạch rõ ràng, dễ rơi vào hỗn loạn. Ở Iraq, sau khi chính quyền Saddam Hussein bị lật đổ, vì không có kế hoạch tái thiết rõ ràng, cho nên dẫn đến nội chiến kéo dài. Ở Chile, sau khi chế độ độc tài của Pinochet sụp đổ, có một kế hoạch rõ ràng giúp đất nước chuyển sang dân chủ một cách trật tự và tương đối bền vững.
Vì vậy,
Cần định rõ từng giai đoạn chuyển đổi: giai đoạn Một (cải cách kinh tế), giai đoạn Hai (mở rộng dân chủ), giai đoạn Ba (ổn định chính trị lâu dài) nhằm bảo đảm sự đồng thuận giữa các bên liên quan, không để xảy ra mâu thuẫn lớn. Cũng cần nên có một nhóm lãnh đạo đủ năng lực để dẫn dắt quá trình chuyển đổi.
Chuyển đổi Việt Nam cần phải được kiểm soát nghiêm chỉnh
Chuyển đổi có thể là cơ hội, nhưng phải có chiến lược thông minh để tránh hỗn loạn. Việt Nam hoàn toàn có thể chuyển đổi để phát triển mạnh hơn, nhưng cần làm từ từ, có lộ trình rõ ràng, và bảo đảm ổn định xã hội. Quan trọng nhất là không để xảy ra khoảng trống quyền lực và tránh đối đầu gay gắt giữa các phe phái. Nếu làm tốt các việc trên, Việt Nam có thể chuyển đổi thành công như Hàn Quốc hoặc Đài Loan, thay vì rơi vào bất ổn như Miến Điện, Ukraine hay Iraq.
Mai Thanh Truyết
Houston 3-2025
Subscribe to:
Posts (Atom)