Saturday, April 16, 2022

 

Phát biểu nhân ngày Ra Mắt sách “Một góc nhìn về chiến tranh mậu dịch Mỹ - Trung và hệ quả đến Việt Nam” ngày 16/4/2022 tại Houston:

Tương lai Việt Nam dưới mắt các tác giả tác giả

Thưa Quý Vị,

Trước mắt Quý vị là quyển sách với tựa đề vừa nêu do ba tác giả Nguyễn Phi Hiệp, Nguyễn Bá Lộc và Nguyễn Văn Chữ, cùng đóng góp nội dung hết sức phong phú cho chuỗi biên khảo đan kẽ nhau giữa chủ đề Mỹ - Trung và Việt Nam chập chùng trong muôn trùng dây mơ rễ má qua cuộc chiến mậu dịch giữa hai đại cường.

Xin đi ngay vào vấn đề. Như đề tựa cuốn sách:”Một góc nhìn về chiến tranh mậu dịch Mỹ-Trung va hậu quả đến Việt Nam”, trong suốt 14 Chương đầu tiên, ba tác giả lần lượt phân tích từng chiến lược kinh tế của Trung Cộng, hướng đi của Hoa Kỳ; để rồi, từ đó suy ra nhiều hệ lụy ảnh hưởng đến Việt Nam qua cuộc thương chiến của hai đại cường.

Xin nhường phần trao đổi nầy giữa Quý vị và chủ tọa đoàn trong phần thảo luận. 

Riêng người viết trong phần phát biểu hôm nay xin được chia xẻ về “một vài lối rẽ có thể của Việt Nam và các vấn đề tiềm ần” mà tác giả ghi lại trong phần kết luận nhằm định hướng cho tương lai của Việt Nam.

Bây giờ xin được đi vào đề…

Thưa Quý vị,

Ngay trong Chương 7 “Tại sao bây giờ cuộc chiến (mậu dịch Mỹ - Trung) mới xảy ra”, ba tác giả đã hé ra ngay cho người đọc “luận đề” của quyển sách. Đó là:”Hầu như toàn bộ những dòng biên khảo nầy đặt trọng tâm vào cuộc thương chiến Mỹ-Trung và hệ quả đền Việt Nam...” Để rồi, đưa đến lối ra của Việt Nam trong phần kết luận, đúc kết những hệ quả và đề nghị  một…lối thoát cho quê hương.

Xin nói ngay, kết luận đó là:”Nếu tôi là anh thì tôi sẽ không đi đến Đó từ Đây”. Và Đó hay Đây, các tác giả đã lần lượt nêu ra trong hai Chương 15 và 16, để từ đó bỏ lững… để cho người đọc quyền lựa chọn cái Đó và cái Đây theo cảm quan của mình. Đây chính là lối trình bày kết luận “đóng” và “mở” rất thú vị và độc đáo của các tác giả!

Có những câu hỏi mở như:

·       Tại sao chủ nghĩa Tư bản – kinh tế thị trường thất bại?

·       Tạo ra khoảng cách giàu nghèo ngày càng cách xa ra…

·       Tại sao chủ nghĩa Xã hội – kinh tế chỉ huy thất bại?  Thành hình do bóc lột, độc quyền, chiếm đoạt nhằm đào tạo một lớp tư bản mới.

·       Một Chủ nghĩa dung hòa trong tương lai, một trật tự chính trị - kinh tế - văn hóa mới nhằm ổn định trật tự xã hội rất cần thiết cho tương lai toàn cầu.

·       Việt Nam hiện đang nằm trong thế chiến lược của tòan cầu hóa và nằm trong gọng kềm Tư bản – Xã hội cần phải vượt thoát, cần chuyển hóa chủ nghĩa xã hội theo định hướng kinh tế thị trường thành một chủ nghĩa dân tộc qua những nét văn hoá đặc thù của dân tộc.

Đó chính là những câu hỏi tương đối khó trả lời về vị trí Việt Nam giữa hai gọng kềm Mỹ - Trung. Việt Nam một quốc gia mảnh mai hình chữ S nằm trên hải lộ Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương qua nhiều thế kỷ đã thu hút sự chú ý của các cường quốc đang tranh giành ảnh hưởng kinh tế và chính trị trong khu vực. Đường bờ biển dài khoảng 3.400 km tất nhiên là một tiếp nối cho tuyến đường vận chuyển hàng hóa trên biển nhộn nhịp nhất thế giới. Đó là Việt Nam, có chung đường biên giới trên đất liền dài 1.281 km với Trung Cộng qua chin tỉnh địa đầu. Quốc gia sau nầy là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam, với thương mại hàng hóa song phương đạt 117,6 tỷ đô la trong 11 tháng năm 2020, theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế. Khi ngành sản xuất phát triển, nhập cảng từ TC, tăng 50% từ năm 2014 đến năm 2019. Đối lại, Hoa Kỳ là thị trường xuất cảng hàng hóa đơn lẻ lớn nhất của Việt Nam, với doanh thu 49 tỷ đô la trong chín tháng tính đến tháng 11, 2020.

         Thặng dư thương mại ngày càng tăng với Hoa Kỳ khiến Việt Nam phải chịu các loại thuế quan mà chính quyền Trump đã áp đặt lên TC.

         Dòng chảy trùng lặp của các sản phẩm xuất xứ từ TC như nhôm và gỗ dán, được chuyển hướng về phía nam qua biên giới và dán nhãn giả "Sản xuất tại Việt Nam" để tránh thuế của Hoa Kỳ, đang tiếp tục căng thẳng quan hệ của Hà Nội với Washington.

         Ngược lại, cán cân thương mại âm so với TC khiến cho Việt Nam ngày càng thâm thụt ngân sách quốc gia và ngày càng lệ thuộc vào TC nhiều hơn nữa, nhứt là nguyên vật liệu sản xuất.

Từ những câu hỏi mở trên nảy sinh ra thêm vài câu hỏi được đặt ra là:

·       Việt Nam ngày nay có phải là nước cộng sản hay không?

Trả lời rằng: Có và Không. Không là vì Việt Nam đã mở cửa và giao thương với thế giới bên ngoài. Và Có là vì tất cả các cơ quan của chính phủ Việt Nam đều do Đảng Cộng sản kiểm soát. Hầu hết những người được chính phủ bổ nhiệm là thành viên của đảng.

·       Mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Cộng hiện nay như thế nào?

Ngày nay, TC là thị trường nhập khẩu lớn nhất và thị trường xuất khẩu lớn thứ hai của Việt Nam, trong khi Việt Nam là đối tác thương mại lớn nhất của TC trong ASEAN và là đối tác thương mại lớn thứ 8 nói chung. Thương mại hai chiều đạt 106,7 tỷ USD vào năm 2018, gấp 3.300 lần so với năm 1991.

·       Việt Nam có thích Hoa Kỳ không?

Theo Trung tâm Nghiên cứu Pew, một cuộc khảo sát vào năm 2015, 40 năm sau khi Chiến tranh Việt Nam kết thúc, cho thấy 76% người Việt Nam có quan điểm “thuận lợi” về Hoa Kỳ, con số này thậm chí còn cao hơn 89% ở “những người có học vấn cao hơn. Đó là một trong những tỷ lệ phần trăm cao nhất so với bất kỳ quốc gia nào được đưa vào cuộc thăm dò.

Vì vậy, quả thật Việt Nam đang ở giữa hai ngã đường.

Khả năng đi dây kinh tế của Việt Nam giữa các đối cực như TC và Tây phương trong quá khư đã đưa đất nước từ nghèo đói sau chiến tranh đến thành công qua kinh tế toàn cầu. Việc mở nhà máy của Intel Corp., LG Electronics Inc., Samsung Inc. v.v… và các công ty đa quốc gia khác đã biến quốc gia này trở thành một trung tâm sản xuất quan trọng, giúp tạo ra một tầng lớp trung lưu gia tăng.

Hiện tại, quan hệ TC - Việt Nam đang xấu đi do các hành động khiêu khích của Bắc Kinh, và Hà Nội đã có chỉ dấu báo hiệu một sự thay đổi liên minh với Mỹ có thể xảy ra. Mặc dù vậy, Việt Nam có thực sự đi theo và kết ước với liên minh mới được hay không, còn phụ thuộc vào kết quả của Đại hội Đảng thứ XIII sẽ diễn ra vào ngày 25/1/2021 đến 2/2/2021 tới đây (sách viết xong trước khi ĐH Đảng xảy ra).  Và sự dằn co nầy khiến cho Việt Nam hiện đang bị một sức ép rất lớn và bị cuốn hút vào cuộc chiến giữa hai đại cường.

Mặt khác, Hà Nội vẫn giữ thái độ dè chừng với TC, vì cũng phải xem xét sự thất bại về ngoại giao và kinh tế của việc liên kết chặt chẽ hơn với Washington. Việt Nam đã từng duy trì mối liên kết kinh tế gắn bó với TC trong một thời gian dài, cho nên, việc xoay trục qua hướng Mỹ có thể làm cho các nhà đầu tư TC sợ hãi và rút lui khỏi Việt Nam!

·       Và quan trọng hơn cả, Việt Nam vẫn còn nghi ngờ việc Hoa Kỳ sẽ đến giúp để bảo vệ Việt Nam nếu một cuộc xung đột lớn nổ ra ở Biển Đông hay không?

·       Có thêm một câu hỏi nữa là người Mỹ và chánh phủ Hoa Kỳ nghĩ gì về Việt Nam và vị trí chiến lược của Việt Nam ở Thái Bình Dương?

Câu hỏi sau cùng được GS Nguyễn Chữ đã trả lời như sau qua nhận xét về suy nghĩ của TT Nixon năm 1967, như sau:” Trong quá trình giải thích quan điểm của mình, “với tư cách là một công dân” Mỹ, ông Richard M. Nixon đã đưa ra các nhận định sau đây:

·       Thứ nhất, có dấu hiệu cho thấy sự hoài nghi của tất cả các chủ thuyết hay giáo điều cũ vì chúng đã trói buộc nhiều tư duy và chính phủ; do đó, các chính quyền không cộng sản tại Á Châu đang tìm giải pháp có thể giải quyết vấn đề thay vì giải pháp phù hợp với các chủ thuyết hay giáo điều định trước. Và hầu hết các chính quyền này nhận thức một nguy hiểm chung và biết nguồn góc của nó là từ Bắc Kinh.

·       Thứ hai, một trong các hành động nổi bật nhất ngay sau đệ nhị thế chiến là các đế quốc đã trả độc lập cho các thuộc địa và các khẩu hiệu mà các quốc gia mới được độc lập dùng để đổ lỗi cho các đế quốc cho những khó khăn và trở ngại của quốc gia đã không còn được giới trẻ chấp nhận như thế hệ cha ông của họ trong những ngày tháng sau đó. Bởi vì họ không biết hay gặp một “đế quốc” nào trong cuộc đời của họ, cho nên các khẩu hiệu này không thuyết phục được họ, và giới trẻ còn cho đây là một luận cứ chạy tội hay trốn trách nhiệm đối với những khó khăn hiện tại trong xã hội. Do đó, nếu không hài lòng với những gì họ cảm nhận, họ sẽ quy trách nhiệm cho các lãnh đạo hiện thời.

·       Thứ ba, “con người,” trong ý nghĩa rộng nhất là “dân tộc”, đã trở thành tập thể để được phục vụ chứ không phải để xử dụng.

·       Thứ tư, không phải cơ cấu của tất cả chính quyền không cộng sản tại Á Châu, được tổ chức theo, hay phù hợp hoặc thích nghi với thể chế dân chủ lập pháp với ba quyền phân định, thật ra thì họ rất khác biệt với thể chế này. Hơn nữa, Mỹ phải hiểu rằng hệ thống chính trị vô cùng phức tạp và vô cùng tiến bộ mà phương Tây phải mất nhiều thế kỷ để triển khai và hoàn chỉnh có thể không là một thể chế tối ưu cho các quốc gia, với văn hóa và truyền thống rất khác biệt, và đang ở giai đoạn phôi thai trong quá trình phát triển của họ. Ông Nixon cho rằng vấn đề quan trọng ở đây là các chính phủ đang thực thi những chính sách theo kế hoạch, có ý thức, và cân nhắc để mang đến tự do, giàu mạnh; gia tăng sự chọn lựa, và bao gồm nhiều cá nhân và tổ chức vào quá trình điều hành quốc gia.

          Và sau cùng, Ông và Mao Trạch Đông, đưa đến Thông cáo chung Thượng Hải      (the Shanghai Communiqué) đã được công bố vào  ngày 28 tháng 2 năm 1972 tại       Thượng Hải”. Sau đó, Nixon thậm chí còn đề cập đến Ấn Độ là một thành viên có          thể của một liên minh khu vực chống TC. Rõ ràng là vào năm 1972, TT Nixon đã    hình dung được chiến lược bao vây TC bằng trục Ấn Độ - Thái Bình Dương     ngày          hôm nay, 2021.

Và suy nghĩ về điều trên, GS Nguyễn Chữ kết luận:” Trên địa bàn quốc tế, khi Hoa Kỳ tạo dựng một trật tự thế giới mới đã giúp các nền kinh tế của đồng minh trở nên thịnh vượng và ổn định, Hoa Kỳ cũng vô tình gia tăng khả năng để đồng minh thành kẻ “phá đám (spoilers)” khi Hoa Kỳ  trừng phạt Trung Cộng trong các cuộc tranh giành bá quyền. Liên minh châu Âu và Trung Cộng vừa kết thúc các cuộc đàm phán về Hiệp định toàn diện về đầu tư (The Comprehensive Agreement on Investments - CAI), sau bảy năm đàm phán. Dù CAI không là một hiệp thương tự do mậu dịch nhưng là hành vi của kẻ phá đám. Ý (Italy) mở rộng vòng tay sằn sàng hợp tác với Trung Cộng trong chương trình BRI, vào tháng 3 năm 2019, là một thí dụ khác.”

Thấy được quan điểm của Hoa Kỳ, thử hỏi, Việt Nam với một tâm cảm như trên, liệu có hành động theo ngôn ngữ cứng rắn mà các nhà chiến lược quốc phòng đưa ra hay không?

Thưa Quý vị,

Trong suốt 76 năm qua ở Bắc Việt và 46 năm ở Nam Việt, CSBV đã cai trị đất nước và dân tộc Việt bằng sức mạnh, bằng đàn áp, bằng bóp nghẹt sức sống của người dân, xóa bỏ căn tính căn bản của tộc Việt là ‘gia đình’; vì vậy, họ thất bại và bị cả dân tộc ruồng bỏ, bất hợp tác.

Từ những thất bại trong việc tạo dựng hay cai trị một quốc gia liệt kê trên cho chúng ta thấy rõ rằng:

Việc cai trị một dân tộc bằng sức mạnh, bằng vũ lực, đi ngược lại “bản sắc dân tộc, văn hóa dân tộc” của quốc gia bị cai trị, chắc chắn sẽ đi đến thất bại mà thôi!

Vì vậy:

Trong trường hợp Việt Nam qua sự cai trị của người “Tàu” trong suốt chiều dài lịch sử, có một yếu tố lớn khác tác động đến việc kiến tạo căn tính quốc gia là “chứng lãng quên lịch sử” - “historical amnesia”. Sở dĩ, dân tộc Việt còn tồn tại cho đến ngày nay vì vẫn còn nhớ ‘hoài’ ngàn năm nô lệ từ một “tội ác lịch sử” – original crime do người “Tàu” gây nên, vì vậy mới tồn tại được!

Qua những suy nghĩ trên, việc chọn lựa hướng đi cho tương lai Việt Nam không thể bỏ qua yếu tố căn tính dân tộc nầy.

Chúng ta cần nên nhớ, hơn bao giờ hết, người Việt Nam, dù ở hài ngoại hay trong quốc nội, cần phải trực diện với một thực tế tàn nhẫn và phũ phàng: Trung Cộng, với mộng bá quyền sẽ không bao giờ rời bàn tay nhám nhúa khỏi Việt Nam. Ngoài ra, Mỹ cũng như bất cứ đồng minh nào luôn luôn đặt quyền lợi của họ lên trên hết, Việt Nam phải cảnh tỉnh. Và đồng minh thì chỉ là giai đoạn, nên phải thấy lúc nào ta cần đồng minh nào và dung hòa quyền lợi của đồng minh nào cần cho đất nước và dân tộc.

Chỉ còn con đường duy nhứt là tự chủ và độc lập dân tộc và trở về với căn tính dân tộc.

Và, muốn trở về với căn tính dân tộc, cần phải định hình lại cho Việt Nam mà chúng ta thấy bàn bạc trong suốt quyển sách mà ba tác giả trình bày xuyên suốt trong phần kết luận như sau:”Tất cả những cải sửa cần thiết cho Việt Nam có thể tiếp tục hội nhập vào cộng đồng thế giới và phát triển kinh tế đều tùy thuộc tuyệt đối vào khả năn bài trừ tham nhũng mà tham nhũng là kết quả tất nhiên của độc quyền chính trị và chính sách công sản. Trong khi đó tôn trọng nhân quyền, bao gồm công đoàn độc lập và các quyền căn bản khác của con người đòi hỏi bởi hai hiệp thương thuộc thế hệ mới mà Việt Nam đã ký kết : CPTPP và EU-VFTA. Khó khăn trong hai lãnh vực nầy mang tính di truyền hay DNA của chủ nghĩa cộng sản nên sẽ vô cùng khó khăn cho chính phủ và đảng CSVN với chính sách công hữu đất, để thực thi và tuân thủ mà không thay đổi DNA của chính quyền và đảng cộng sản”… Để rồi sau cùng đưa đến kết luận là Việt Nam cần phải định hình quốc gia qua: - Chính sách giáo dục, -  Định hình thể chế, - Chính sách ngoại giao.”

Sau cùng các tác giả gợi ý cho Việt Nam về khái niệm Phần Lan hóa, mô tả hiện tượng xảy ra khi một quốc gia nhỏ, do sống kề cận với một láng giềng lớn và hung hăng là Nga Sô, cho nên chấp nhận giảm chủ quyền của mình, đặc biệt là trong chính sách đối ngoại để duy trì độc lập một cách tương đối. Nhưng thử hỏi, trong hiện tình thời sự hôm nay, qua cuộc chiến giữa Nga Sô và Ukraine đang diễn ra, hiệu ứng Phần Lan có còn là một thực tế nữa hay không khi chánh phủ Phần Lan đang xin vào Liên hiệp Âu châu – EU để được bảo vệ?

Thưa Quý vị,

Qua suốt 16 Chương, cuối cùng các tác giả tin tưởng tuyệt đối rằng:”Khi cơ hội cho tái định hình Việt Nam đến, chỉ có dân tộc Việt Nam mới thực sự hiểu được khát vọng của người Việt Nam và có quyền quyết định vận mạng quốc gia; và, cũng chính dân tộc Việt Nam sẽ được hưởng hay gánh chịu hậu quả, ngay cả khi bị đổ máu vì các chọn lựa của mình”.

Hy vọng những suy nghĩ và tâm huyết của ba tác giả Nguyễn Văn Chữ, Nguyễn Phi Hiệp và Nguyễn Bá Lộc được những người cộng sản Việt Nam tiếp nhận và suy gẫm ngõ hầu mở ra một sinh lộ cho Việt Nam trong tương lai.

Muốn làm được vậy, CSBV cần phải:

* Chối bỏ tâm thức nô lệ Tàu đã in sâu trong trí não của người CS BV.

Một khi vết tích của luồng tư tưởng trên được xóa sạch, người CSBV có thể từ đó nhận thức được “bản lai diện mục” của một dân tộc nhân hậu, ôn nhu trước mọi tình huống, cư xử với nhau với tình đồng loại, đồng chủng, không phân biệt “chỉ có sĩ phu Bắc Hà mới biết lý luận” như tuyên bố của NP Trọng.

Có được như vậy, con đường tự chủ và độc lập dân tộc sẽ hé mở báo hiệu một tương lai rực rỡ cho dân tộc Việt như dưới triều đại Đinh Lê Lý Trần.

Hỡi những người cộng sản Việt.

Chủ nghĩa cộng sản không tưởng đã cáo chung rồi.

Chỉ còn con đường duy nhứt phải chọn là:”Việt Nam trong gọng kềm Tư bản – Xã hội chủ nghĩa ngày hôm nay cần phải vượt thoát, cần xóa bỏ chủ nghĩa xã hội theo định hướng kinh tế thị trường thành một chủ nghĩa dân tộc qua những nét văn hoá, phong tục đặc thù, và trở về với căn tính dân tộc nguyên thủy của con dân Việt tộc”.

Cám ơn Quý vị đã lắng nghe.

Mai Thanh Truyết

Houston 16/4/2022



Wednesday, April 13, 2022

 

Tình thần Ollin

 Never again would I aspire to seek power and authority through the donning of a lurid yellow raincoat - Tôi sẽ không bao giờ khao khát tìm kiếm quyền lực và uy quyền thông qua việc hiến tặng một chiếc áo mưa màu vàng hoa mỹ.

 ***

Chữ Ollin được phát âm là “All-in”. Đó là một biểu hiện của một chiều sâu bao la truyền tải sự chuyển động mạnh ngay cùng một thời điểm. Xuất phát từ ngôn ngữ Nahuatl cổ đại, Ollin có nguồn gốc từ chữ "yollotl", có nghĩa là trái tim và chữ "yolistli", nghĩa là cuộc sống.  Vì vậy, rốt ráo lại:


Ollin có nghĩa là di chuyển và hành động ngay từ

bây giờ với tất cả trái tim của bạn.

 

Cuộc sống vốn là khách quan. Để có thể sống thảnh thơi, yên bình, bạn nên chấp nhận cuộc sống như nó vốn là thế. Căng thẳng, lo âu, và thất vọng là một phần tất yếu của cuộc sống, nhưng đừng để chúng kiểm soát cuộc sống của bạn. Chấp nhận những khía cạnh gian nan của cuộc sống, tin tưởng vào chính bản thân sẽ giúp bạn thêm mạnh mẽ đối diện với mọi vấn đề một cách kiên cường nhất.

1-    Kevin Hall

Qua tác phẩm “Discovering your purpose through the power of words” hay “Khám phá mục đích của bạn thông qua sức mạnh của ngôn từ”, Kevin Hall đã mang vào sách với một từ “Aspire – Khao khát”, và chính từ nầy đã được diễn giảng ra bao từ khác trong trọn cuốn sách trên.

KEVIN HALL là một nhà tư vấn kinh doanh, diễn giả và huấn luyện viên rất được nhiều cơ quan ngưỡng mộ và săn tìm. Ông là một đối tác trong Franklin Quest, nhà sản xuất của Franklin Day Planner. Là Phó chủ tịch bán hàng và đào tạo, ông đã giúp thúc đẩy sự tăng trưởng trên toàn thế giới của Franklin.

Ông đã được công nhận như người có cung cách tiếp cận đột phá của mình để khám phá những ý nghĩa bí mật giấu kín trong các từ ngữ thông dụng.

2-    Nội dung cuốn sách

 

Ngay khi tôi (tác giả) phá vỡ nền tảng mới trong sự phát triển của con người hơn hai mươi năm trước bằng cách khám phá những thói quen tạo nên một cuộc sống có ý nghĩa và hiệu quả, Kevin Hall đang phá vỡ nền tảng mới bằng cách khám phá và tiết lộ ý định và ý nghĩa thực sự của những từ ngữ tạo nên những thói quen đó.

Từ ngữ có sức mạnh và là một sức mạnh đáng kinh ngạc! Tôi có thể chờ đợi để xem phản ứng của thế giới đối với ngôn từ “Aspire”!

Khả năng của Kevin Hall để mở chiếc khóa khả năng tiềm ẩn của con người là rất hiếm và vô cùng có giá trị. Trong Aspire, Ông tiết lộ một mô hình hoàn toàn mới cho sự phát triển và phát triển cá nhân, đó là sự năng động và thay đổi cuộc sống.

Một khi bạn chọn cuốn sách này, bạn sẽ thấy khó để đặt xuống. Các lớp ví dụ và nguyên tắc bên trong một từ ngữ có thể chứng minh sự thay đổi cuộc sống. Không chỉ là một sự tham gia hấp dẫn vào từ nguyên thủy, Aspire có sức mạnh để giúp các cá nhân hay nhóm tập trung vào mục đích thực sự của họ và đạt được những khát vọng tốt nhất và cao nhất.

Kevin Hall cho chúng ta thấy sức mạnh đáng kinh ngạc của những từ ngữ từ các công cụ mà chúng ta có thể xử dụng để hình thành  suy nghĩ và niềm tin mới, giúp chúng ta thay đổi và kiến tạo ra một sản phẩm vật chất hay tinh thần tốt hơn cho bản thân và nhân loại.

Cuốn sách này mang đến nguồn sáng cho sức mạnh của ngôn ngữ để không chỉ thông báo mà còn nhận ra tiềm năng của một cuộc sống được sống trọn vẹn. Và những tiết lộ trong Aspire là những công cụ cần thiết để hỗ trợ mọi bước đi trong cuộc sống - The revelations in Aspire are necessary tools to aid every passage of life.

Một chuyên gia được công nhận vì đã phát hiện ra ý nghĩa bí mật ẩn chứa của của một ngôn từ, và Kevin Hall là người tìm ra những ẩn chứa ấy và chia xẻ cùng tất cả chúng ta. Trong Aspire! ông hướng dẫn người đọc hiểu ý nghĩa của mỗi từ theo nghĩa thuần túy nhất của chúng và khơi mở tầm quan trọng của chúng khi con người khai triển một từ vựng mới.

Như Stephen R. Covey đã làm sáng tỏ một cách tuyệt vời trong lời nói đầu của mình, "cuốn sách được viết thành thạo này sẽ giúp bạn hiểu rằng các từ có một sức mạnh vốn có, một lực có khả năng thắp sáng những con đường và chân trời mới:

·       Nếu được sử dụng chính xác và tích cực, từ ngữ là khối xây dựng đầu tiên cho sự thành công và hòa bình tiềm ẩn;

·       Nếu được sử dụng không chính xác và tiêu cực, chúng có khả năng làm suy yếu ngay cả những ý định tốt nhất”.

Bằng cách tập trung vào mười một từ - mỗi từ một chương - Khát vọng! cho thấy làm thế nào để xử dụng những từ này như các nền tảng xây dựng để thành công và hòa bình tiềm ẩn.

1. Aspire - Khát vọng - Khám phá mục đích của bạn thông qua sức mạnh của ngôn từ.

2. Genshai - Bạn không bao giờ nên đối xử với một người theo cách khiến họ trở nên nhỏ bé bao gồm cả chính bạn. (Xem lại bài Genshai trên blog hay FB của người viết).

3. Pathfinder - Từ này có nguồn gốc Ấn-Âu, nhà lãnh đạo về nguyên thủy có nghĩa là tìm đường (pathfinder). Các nhà lãnh đạo đọc ra các dấu hiệu và manh mối, và họ chỉ đường đi.

4. Namaste - Tôi tôn vinh nơi bạn ở, nơi toàn bộ vũ trụ hiện hữu. Tôi tôn vinh vị trí trong bạn, của ánh sáng, tình yêu, sự thật, hòa bình và trí tuệ.

5. Passion - Đam mê – Từ niềm đau khổ lẫn ước muốn nhằm đạt được mục tiêu. Những điều tuyệt vời chỉ đạt được thông qua đam mê theo sau là hành động. Có thể có rất nhiều người mới bắt đầu nhưng chỉ những người đam mê mới đạt được mục tiêu của họ.

6. Sapere Vedere - Biết cách nhìn thấy. Chỉ bắt đầu một hành trình nếu bạn có thể thấy đường đi cho đến khi kết thúc rõ ràng. Tạo một hình ảnh rõ ràng về kết quả cuối cùng rồi tiếp theo sẽ chuyển hóa thành tích của sự thành công trên.

7. Humility and Success - Khiêm tốn và Thành công có liên quan. Khiêm tốn xuất phát từ tiếng Latin Humus - có nghĩa là đất màu mỡ. Trong tiếng Latin Succeder có nghĩa là đi lên. Từ giữa “cede - nhượng" xuất phát từ chữ hạt giống (seed). Điều này có nghĩa là, khi bạn gieo một hạt giống (những gì bạn muốn trở thành) trong mùn (humus - khiêm tốn) (đất màu mỡ - fertile soil) sự thành công sẽ đạt được.        

8. Inspire – Truyền cảm hứng. Hít thở cuộc sống vào một người mà bạn gặp (Breathe life into one whom you meet).

9. Empathy - Đồng cảm. Đi trên con đường của người khác. Để có sự đồng cảm, người ta cần tích cực lắng nghe và quan sát. Chỉ khi chúng ta mở cửa lòng cho người khác bước vào, chúng ta mới có thể đồng cảm và bước đi trên cùng một con đường của người khác.

10. Coach – Huấn luyện viên. Đưa một người từ nơi anh ta đến nơi anh ta dự định đi.

11. Ollin - Di chuyển và hành động với tất cả trái tim của bạn.

  3- Hãy lắng nghe điều này

Bắt nguồn từ người Hy Lạp, Enthusiasm - Nhiệt tình có nghĩa là Thượng Đế hoặc quà tặng của Thượng Đế tiềm ẩn bên trong (God and God’s gifts within). Nhiệt tình là nhiên liệu của hạnh phúc và chân phúc (happiness and bliss). Bạn chỉ cần hiểu những từ đó đến từ đâu và từ đó, có thể mở mắt chúng ta nhằm mục đích hiểu sâu hơn và đi đến một kết ước (commitment) mới để sống tốt đẹp hơn?

Aspire là một cuốn sách phi hư cấu (non-fiction) được chia thành mười một chương khác nhau, mỗi chương tập trung vào một từ khác nhau (thực sự là từ ngữ) và cách thực hành từ đó có thể thực sự thay đổi cuộc sống của bạn tốt hơn. Những từ mà tất cả chúng ta nghe và biết như đam mê, khiêm tốn và truyền cảm hứng… Và những từ mà tất cả chúng ta không biết rõ như ollin và sapere vedere. Mỗi chương bao gồm một số loại câu chuyện hoặc giai thoại trong đó Hall giải thích cách ông học được ý nghĩa thực sự của từng từ ngữ này.

Còn về phần chúng ta, mỗi người đọc trong một âm hưởng và tâm cảnh khác nhau, nhìn vấn đề dưới những lăng kính khác nhau. Tuy nhiên, dù dưới một góc độ nào, 11 từ ngữ trên cũng như cung cách diễn giảng của Kevin Hall đã gợi ý cho chúng ta những suy tư lắng đọng hơn, sâu thẩm hơn về ý nghĩa của mỗi từ ngữ trên.

Cho dù nếu có mang một định kiến cá biệt nào đi nữa, hy vọng tinh thần Ollin và Aspire cũng vẫn còn lắng đọng trong tâm tư của mỗi chúng ta để cùng định hướng về một thế giới an bình và cảm thông với nhau hơn, nhứt là trong giai đoạn thế giới đang biến động vì cuốc chiến xâm lăng Ukraine của Nga Sô đang diễn ra.

 

Mai Thanh Truyết

Goog Friday 2022














 


 


 

 

 

 

 

 

 


Tuesday, April 12, 2022

 

Sự Hâm Nóng Toàn Cầu

Hiện tượng Duy Lý, Duy Tâm, và Duy Ngã

 

Hiện tượng Hâm nóng toàn cầu đã được toàn thế giới cùng đặt vấn đề qua Hội nghị Thượng đỉnh Rio de Janeiro, Ba Tây vào năm 1992. Nhưng mãi đến năm 1997, Nghị định thư Kyoto mới được các quốc gia đồng ý trên nguyên tắc là cần phải giảm thiểu từ 5 đến 10% mức phát thải khí carbonic CO2 so với định mức phát thải của năm 1990 cho từng quốc gia cho đến năm 2012. Các quốc gia đang phát triển như Trung Cộng, Ấn Độ, Ba Tây, Nam Dương v.v…đều được miễn trừ đối với nghị định thư nầy.

Theo quy định, quốc hội của các quốc gia cần phải chấp thuận các điều luật trong Nghị định thư (NĐT) trước khi NĐT được chánh thức trở thành luật. Hoa Kỳ, với sự phân công chịu trách nhiệm của 27% tổng số lượng khí phát thải toàn cầu, không đồng ý với quyết định của NĐT Kyoto, cho nên không ký cũng như quy trách sự bất công qua việc miễn trừ 2 quốc gia Trung Cộng, với mức phát thải CO2 thời bấy giờ (1997) là 12%, và Ấn Độ (8%) trên tổng lượng CO2 phát thải trên thế giới.

Úc Châu cũng phản đối không chịu ký, nhưng sau cùng vào năm 2004, chấp nhận quy định của NĐT Kyoto, và nghị định nầy có được trên 50% quốc gia chịu trách nhiệm chấp thuận. Do đó, vào tháng giêng năm 2005, NĐT Kyoto đã biến thành luật.

Nhưng, năm 2012 đã gần kề, chỉ có một vài quốc gia áp dụng và thi hành luật trên như Anh và Đức…Pháp có cố gắng giảm thiểu nhưng vẫn không đạt được mức yêu cầu.

Có thể nói, Nghị định thư và Luật Kyoto đã thất bại vì cho đến năm 2009, TC đã phát thải hàng năm là 6,6 tỷ tấn CO2 (2008), đứng trên Hoa Kỳ với 6,3 tỷ (2008), và Ấn Độ đứng hàng thứ tư với 1,4 tỷ. TQ và Ấn Độ là hai quốc gia được miễn áp dụng Luật Kyoto. (xin đọc các bài viết liên quan đến sự hâm nóng toàn cầu trên blog maithanhtruyet.blogspot1.com).

Các quốc gia trên thế giới đã nhận rõ tính cách không hợp lý của Luật Kyoto cho nên đã chuẩn bị nhiều cuộc họp từ nhiều năm qua, như cuộc họp thượng đỉnh thu hẹp ở Bali, Nam Dương năm 2007, chuẩn bị cho Thượng Đỉnh Copenhagen vừa diễn ra từ 6 đến 18/12/2009 ở Đan Mạch vừa qua với mục đích hy vọng đưa ra những quy định mới áp dụng sau khi Luật Kyoto chấm dứt năm 2012 để áp dụng cho đến năm 2020. Và cuối cùng thượng đỉnh COP26 (11/2021) lại dự kiến cho năm 2050!

Và, hiện nay (2020), TC phát thải carbonic hơn 16 tỷ tấn so với Hoa Kỳ 12 tỷ tấn. Trong lúc đó, TC chỉ sản xuất 17% tổng sản phẩm toàn cầu và Hoa Kỳ, 22%!

Ngay trong Thượng đỉnh COP26 tại Glasgow, Anh tháng 11 năm ngoái, TC lại tuyên bố tiếp tục khai thác năng lượng hóa thạch (than đá và dầu hỏa) cho đến năm 2020.

Đó chính là một nghịch lý cho mọi quyết định giảm thiểu sự phát thải khí carbonic trên thế giới trong thương đỉnh COP26 vừa qua!

Đến đây người viết chỉ muốn nói về Thượng đỉnh Khí hầu, dù bắt đầu từ năm 1992 cho đến nay, tất cả chỉ là một sự “Bắt đầu lại mà thôi - On recommence par le commencement”.

Trước một vấn nạn chung của toàn cầu, chúng ta học được những bài học gì qua cung cách hành xử của những quốc gia trên thế giới, từ các đại cường đến những nước nhược tiểu, từ cung cách phát biểu của các quốc gia Tây phương đến thái độ ứng xử của những nước cộng sản như TC và Việt Nam qua diễn biến và phản ứng ở những Thượng đỉnh vừa qua.

Hầu hết các quốc gia tham dự Thượng đỉnh đều đồng ý với nhận định của các khoa học gia là cần phải giảm thiểu mức phát thải CO2 cho đến năm 2100 của mỗi quốc gia từ 20 đến 40% so với định mức phát thải năm 1990, nếu không nhiệt độ trên thế giới có thể tăng lên 20C gây ra nhiều thảm họa cho các quốc gia có độ cao thấp hơn so với mặt biển như Việt Nam, Bangladesh, vùng New Orleans (Hoa Kỳ) v.v…

Nhưng văn bản ký kết ở các Thượng đỉnh chỉ là một bản văn mơ hồ, không đưa ra một quy định rõ ràng nào cả, ngoài một số quy định chung chung về việc khuyến cáo các quốc gia cố gắng tự tiết giảm trên và giúp đở các quốc gia đang phát triển (TC vẫn được xem như là một quốc gia đang phát triển trong các thượng đỉnh(?)) trong việc cắt giảm khí CO2 của họ.

Các điểm bất đồng chính yếu vẫn là:

·       Mức quy định cắt giảm phát thải của các nước phát triển kỹ nghệ;

·       Trợ giúp các quốc gia đang phát triển trong việc hạn chế việc phát thải CO2;

·       Biện pháp kiểm soát việc thi hành cắt giảm.

Chính ba bất đồng căn bản trên đã làm cho Thượng đỉnh đi đến bế tắc. Chỉ có một đồng thuận duy nhứt là Thượng đỉnh sẽ tiếp tục nhóm họp và thảo luận tiếp  sau Thượng đỉnh 2021 tại Glasgow.

Duyệt xét về nguyên nhân nào đưa đến sự bất đồng giữa các quốc gia về việc phân chia tỷ lệ phát thải cho mỗi nước, qua tiến trình tranh luận ở các Thượng đỉnh vừa qua, TC và Hoa Kỳ là hai quốc gia gây ra nhiểu tranh cãi nhứt. Và cả hai đã vô tình hay hữu ý vận động “tranh thủ bè phái” về phía mình: Hoa Kỳ với nhóm G8, và TC với nhóm quốc gia G77 gồm những quốc gia Á châu, Trung và Nam Mỹ Châu, cùng Phi Châu. Một nhóm đứng trung dung chờ xem cuộc “tranh thương hổ đấu” giữa TC và Hoa Kỳ là Nhật Bản, đại diện cho nhóm G27 gồm những quốc gia “chờ” không nằm trong hai nhóm đầu.

Có thể nói, ba khuynh hướng trên thể hiện ba hướng suy nghĩ về duy tâm, duy lý, và duy ngã, đề tựa cho bài viết về Sự biến đổi khí hậu nầy.

1-    Hướng Duy lý

Trước hết, các quốc gia Tây phương thường có khuynh hướng duy lý, nghĩa là nhận xét, suy luận, phân tách…mọi vấn đề qua các dữ kiện đã được chứng nghiệm. Từ cung cách duy lý đó, áp dụng vào tình hình thực tế từng quốc gia một, đôi khi không thể hiện hết được kết quả suy luận của vấn đề, nhứt là vấn đề có liên quan đến con người như sự hâm nóng toàn cầu.

Hoa Kỳ có thể nói là đại diện cho nhóm G7, đã phủ nhận việc phân chia trách nhiệm trong việc phát thải khí carbonic với lập luận là cần phải xét lại vấn đề tạo ra tỷ lệ sản phẩm vật chất so với cùng một phát thải. Mặc dù phát thải ít hơn TC, nhưng Hoa Kỳ đã tạo ra 22% sản phẩm cho thế giới trong lúc đó, TC chỉ sản xuất 17%. Do đó TC phải chịu trách nhiệm trong việc tiết giảm CO2 nhiều hơn HK đứng về mặt sản phẩm sản xuất.

Thêm nữa, người Hoa kỳ với tình thần cá nhân chủ nghĩa, do đó trong tâm thức của mỗi người dân thường không có tầm nhìn rộng trong sinh hoạt hàng ngày. Họ chỉ biết hưởng thụ những gì đất nước Hoa Kỳ cung cấp cho họ như điện, nước, năng lượng. mà không nghĩ đến nguy cơ cạn kiệt năng lượng và nguồn nước trên thế giới. Điển hình là phương tiện chuyên chở công cộng để giảm thiểu việc phát thải khí carbonic không được phát triển trên đất nước nầy. Cũng như việc phí phạm nguồn nước tiêu dùng quả thật không thể chấp nhận được. Trung bình một người Mỹ xài từ 700 đến 1000 lít nước mỗi ngày tùy theo vùng, trong lúc đó một người Pháp xử dụng dưới 100 lít/ngày và còn rất nhiều nơi không có được 1 lít cho sinh hoạt hàng ngày như Phi Châu!

Như đã nói ở phần trên, vấn đề hâm nóng toàn cầu (từ ngữ dùng đầu tiên trong Thượng đỉnh Rio de Janeiro trước khi đổi sang “Sự biến đổi khí hậu” kể từ sau Thượng đỉnh  Paris COP21 năm 2015). đã được trên 100 nguyên thủ quốc  gia chính thức nêu lên và đồng thuận là cần phải có một giải pháp toàn diện từ năm 1992.

Những đồng thuận căn bản như:

·       Trích 0,7% ngân sách quốc gia của những nước giàu để viện trợ cho các quốc gia đang phát triển;

·       Chuyển đổi công nghệ mới và sạch cùng cung cấp kỹ thuật để giúp họ giải quyết vần đề môi trường v.v… 

Nhưng tất cả những kết ước trên đều không được tuân thủ vì nhiều lý do liên quan đến kinh tế quốc gia và chính trị…Chính vì thế mà tình trạng hâm nóng toàn cầu ngày càng trầm trọng thêm và tỷ lệ phóng thích khí carbonic vào không khí của các quốc gia đang phát triển cao hơn các quốc gia đã phát triển. 

2-    Hướng duy ngã

Mặc dù phân loại nhóm G77 do TC đại diện không có tính cách tuyệt đối, nhưng TC đã kéo theo một số quốc gia cực đoan vùng Nam Mỹ và Phi Châu cùng Á Châu. Họ đặt tinh thần quốc gia cực đoan và suy nghĩ theo cung cách duy ngã, do đó, mọi vấn đề chung của thế giới đều đi đến chỗ bế tắc như trường họp ở mọi Thượng đỉnh Copenhagen vừa qua.

TC đã lấy một lý do hết sức ấu trĩ là phải chia lượng khí carbonic phát thải trên dân số của quốc gia. Nếu tính như thế thì TC phát thải ít hơn nhiều so với Hoa Kỳ. Cách tính nầy hoàn toàn không hợp lý. Cũng như khi bàn về vấn đề kiểm soát mức khí thải của mỗi quốc gia do một ủy ban quốc tế kiểm soát, TC không đồng ý và cho rằng làm như thế là “xâm phạm chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ của TC” (trong lúc đó, đánh bắt, tịch thu tàu đánh cá Việt Nam trong hải phận Việt Nam thì không xâm phạm chủ quyền quốc gia!).

Những phát biểu trên đã làm tăng thêm tính cực đoan của Venezuela, Sudan và Tuvalu.

Sudan cho rằng bản đúc kết chung chỉ là những bản văn có giá trị Holocaust cho Phi Châu. Trong lúc đó, đại diện Venezuela còn đi xa hơn nữa là tố cáo Copenhagen Accord chỉ là hình thức do Hoa Kỳ chủ động nhằm chống lại Liên Hiệp Quốc. Tổng thống Chavez tuy không tham dự Thượng đỉnh, cũng tuyên bố…Đó là một sự gian trá đối với nhân dân thế giới.

3-    Hướng duy tâm

Thông thường, theo tinh thần và suy nghĩ chung trên thế giới, người Á Châu chuyên về hướng nội, nghĩa là suy nghiệm nhiều về nội tâm. Nhưng ngày hôm nay, điều nầy có thể đúng với một số quốc gia còn giữ nguồn cội gốc, và không còn áp dụng với một số quốc gia khác đang đeo đuổi một chính sách quản lý đất nước cực đoan và độc tài, điển hình là TC, Việt Nam và Miến Điện.

Nước Nhật có nền kinh tế thịnh vượng đứng thứ hai hay thứ ba tùy theo cách tính chỉ sau Hoa Kỳ, nhưng chỉ phát thải 1,3 tỷ CO2 năm 2008 (gần 5 lần ít hơn so với TC). Điều nầy chứng tỏ rằng người Nhật đã phát triển quốc gia theo đúng tiến trình phát triển bền vững ứng hợp với Nghị trình-21 về việc bảo vệ môi trường sống, tăng trưởng quốc gia và tăng phúc lợi cho người dân.

Chile, một quốc gia sản xuất đồng (copper) lớn nhứt trên thế giới, mang về cho ngân sách quốc gia gần phân nửa tổng sản lượng quốc gia. Nhưng lãnh đạo Chile đã biết tự chế và hạn chế mức sản xuất để bảo vệ môi trường và tài nguyên khoáng sản và phải điều chỉnh ngân sách quốc gia để thích ứng với việc thiếu hụt trên.

Indonesia, sau khi nhận định là cần phải cải cách nông nghiệp bằng cách huấn luyện nông dân về cách trồng lúa, xử dụng thuốc trừ sâu rầy, và phân bón cũng như nâng chính sách nầy lên tầm quốc gia. Chỉ sau 3 năm thực hiện, chính sách đã đem lại lợi ích là mức sản xuất lúa tăng thêm và giảm được hàng tỷ Mỹ kim do việc nhập cảng phân bón và truốc trừ sâu rầy. Nhưng thành quả to lớn nhứt mà Nam Dương đã đạt được là bảo vệ môi trường sống của xứ nầy.

Còn cung cách phát triển của Ấn Độ, không chạy theo cung cách ăn xổi ở thì của TC như sản xuất hàng tiêu dùng nhứt thời theo kiểu “mì ăn liền”, chứ không theo hướng phát triển kinh tế theo kinh điển của Clarke là giảm thiểu lượng nông dân, nâng tỷ lệ nhân công công nghiệp, và sau cùng tăng trưởng dịch vụ. Làm như thế Ấn Độ đã phát triển một cách đều đặn, tuy chậm chạp nhưng bền vững, không gây nguy hại cho môi trường nhiều.

Bốn quốc gia vừa kể trên đã theo hướng phát triển lấy tâm lành làm chuẩn, do đó vừa phát triển quốc gia vừa mang thêm phúc lợi cho người dân và vừa kiểm soát được mức phải thải carbonic, một vấn nạn chung của thế giới.

4-    Kết Luận

Qua những nhận xét và lý giải kể trên, vấn đề phân công và phân nhiệm cùng việc quy định các lề luật để giảm thiểu sự hâm nóng tòan cầu qua việc tiết giảm phát thải khí carbonic là một việc làm thiên nan vạn nan nếu không nói là không thể nào giải quyết được.

Thế giới ngày hôm nay là một thế giới đa cực, trong đó có nhiều quốc cổ súy tinh thần dân tộc cực đoan gây ra nhiều xáo trộn cho toàn cầu. Nếu các quốc gia trên áp dụng đúng những chương trình do Liên Hiệp Quốc đề ra mà chính họ đã thảo luận và ký kết, thế giới sẽ sống hài hòa theo tinh thần trách nhiệm chung của cộng đồng thế giới.

Rất tiếc, điều nầy không xảy ra.

Trở qua các Thượng đỉnh từ trước đến nay, Trung Cộng:

·       Một mặt xưng hùm xưng bá, chứng tỏ ta đây là một cường quốc, có mặt thường trực trong Hội đồng Bảo an LHQ, có quyền phủ quyết, có quyền can dự vào mọi chuyện xảy ra trên thế giới.

·       Nhưng trong một mặt khác, về việc bảo vệ môi trường chung, vẫn “năn nỉ” thế giới để được xếp vào các quốc gia đang phát triển để được “trợ cấp” trong việc nâng cấp công nghệ và tiết giảm phát thải khí carbonic. Hai cung cách ứng xử nầy đã làm cho thế giới khinh rẻ!

Trung Cộng có biết chăng, chính họ đã làm cho môi trường sống của người Tàu ngày càng xấu đi, và có thể nói người nông dân Trung hoa, ngày càng nghèo hơn, và điều kiện sinh tồn ngày càng xấu đi. Phát triển của TC hoàn toàn đi ngược lại với tiến trình toàn cầu hóa ngày hôm nay.

Trở qua Việt Nam, đi phó họp Thượng đỉnh là để thu thập, rút tỉa kinh nghiệm hầu áp dụng cho việc phát triển đất nước. Nhưng ngược lại, Việt Nam đã làm một việc cũng xấu hổ như TC đã làm, thể hiện cung cách “cái bang” trước thế giới bằng cách mang hai “nông dân” vùng Đồng bằng sông Cửu Long, nạn nhân (?) của sự hâm nóng toàn cầu ngõ hầu đánh động lương tâm thế giới để ….xin tiền, ở Thượng đỉnh Copenhague năm nào! (Giống như mang những người tàn tật và gán cho là nạn nhân của chất độc màu da cam đi trình diễn khắp nơi cùng nhằm mục đích xin tiền năm 2004 ỡ Mỹ).

Trong lúc đó, ở bình diện khác, Viêt Nam tự xưng nào là đỉnh cao trí tuệ, nào là thay trời làm mưa, nào là Việt Nam và Cuba canh giữ hòa bình thế giới, nào là “tôi vừa động viên ông Obama, vừa phân hóa nội bộ họ…”.

Không biết ở Việt Nam ngày nay, có còn ai đi bán “cái liêm sỉ” để cải thiện cuộc sống đói nghèo hay không?

Vấn đề hâm nóng toàn cầu là trách nhiệm của MỖI người, MỖI quốc gia; do đó tất cả phải cùng chung lưng đâu cật để giải quyết vấn đề trong chiều hướng toàn cầu hóa. Mọi khuynh hướng dân tộc cực đoan, chủ nghĩa bá quyền cần phải chuyển thể, nhường cho lòng bác ái, tương thân tương trợ nẩy mầm để được xứng đáng làm một “công dân thế giới”.

Phát triển quốc gia cần phải phát triển trong trách nhiệm toàn cầu chứ không phát triển theo kiểu “tư bản đang dảy chết”, cũng không phải phát triển nửa mùa như “phát triển tư bản theo định hướng xã hội chủ nghĩa” …mà cả bộ chính trị của Đảng CSBV cũng không thể giải thích chính sách phát triển trên như thế nào nữa!

Mai Thanh Truyết

Mùa Lễ Lá 2022



Wednesday, April 6, 2022

 

Trong kỳ Họp Mặt Dân Chủ 2019 Kỳ 18 – Houston, diễn giả GS Nguyễn Văn Chữ có thuyết trình để tài:

Một Góc Nhìn về Chiến Tranh Mậu Dịch  Mỹ - Trung và

Hệ Quả Đến Việt Nam

Và dưới đây là phần đúc kết của người chuyển.

Ngày 16/7 sắp đến, đề tài nầy đã được các tác giả: Nguyễn Chữ, Nguyễn Phi Hiệp, và Nguyễn Bá Lộc viết thành một sách biên khảo với cùng đề tựa.

Buổi Ra Mắt sẽ diễn ra tại Houston Đặ biệt, BRM sẽ có mở Zoom để Quý Vị có thể vào theo dõi và đóng góp.

Thêm nữa Paltalk Diễn đàn Tiếng Nói Tự Do Của Người Dân Việt cũng sẽ mở ra trực tiếp để Quý Vị tham dự.

Xin xem địa điểm và giờ giấc trong Thiệp Mời.

***

Phần trình bày:

Diễn giả chỉ được phép phát biểu trong vòng 30 phút cho một đề tài rộng lớn bao quanh vấn đề toàn cầu có thể ảnh hưởng đến nhiều quốc gia liên quan đến, do đó, trong phần đúc kết, người viết xin tóm lược ngắn gọn lại bài thuyết trình của diễn Giả dài …56.000 chữ!

1-    Trước hết, tác giả giới thiệu về đất nước củng lịch sử Trung Cộng, đặc biệt dưới thời “cai trị” của Mao Trạch Đông từ 1949 đến 1976.

2-    Từ đó chuyển qua quá trình thiết lập liên hệ Mỹ - Trung, những nguyên do đưa đến mối liên hệ nầy, cũng như vai trò và quan điểm của TT Nixon trong giai đoạn nầy. Có thể nói, tác giả đã phân tích rất chi tiết và “chính sách Nixon” và gợi ý rằng có thể câu chuyện Việt Nam ngày nay là do kết quả của…học thuyết Nixon.

3-    Tây phương và nhất là Hoa Kỳ đã nhận định thiếu chính xác về chiến lược phát triển của TC trong đó 9 giáo điều mà TC áp dụng để qua mắt, che đậy…kế hoạch bành trướng chủ nghĩa bá quyền của TC, nhứt là dưới thời của Đặng Tiểu Bình.

4-    Chính sách kinh tế của TC cũng đã được phân tích chi tiết qua các tiểu mục giản dị nhưng thể hiện trọn vẹn ý tưởng và phân tích của tác giả như: - Nền kinh tế sông ngòi, - Nền kinh tế trang điểm, - Ngụy trang bị lộ, - Vấn đề nhân dụng và dân số, - Không sẵn sàng cho thử thách, - Khả năng phát triển khoa học và Kỹ thuật của TC.

5-    Hệ quả của sự phát triển không đồng bộ trên của TC đưa đến tình trạng ngày hôm nay qua tính độc bá quyền ảnh hưởng lên nền tự do mậu dịch trên thế giới. Để từ đó nảy sinh ra nhiều thử thách mới cho TC qua chính sách bá quyền nêu trên. Nguy cơ chiến tranh quân sự cùng với kinh tế luôn song hành bên nhau tạo ra sự căng thẳng cho toàn cầu.

6-    Sau cùng, diễn giả đưa đến cái nhìn về Việt Nam đã và đang “bị liên hệ” và vấn đề Việt Nam “cần” Mỹ hơn là “thân” Hoa Kỳ…  Và Ông kết luận:” Tất cả những cải sửa cần thiết cho Việt Nam có thể tiếp tục hội nhập vào cộng đồng thế giới và phát triển kinh tế đều tùy thuộc tuyệt đối vào khả năn bài trừ tham nhũng mà tham nhũng là kết quả tất nhiên của độc quyền chính trị và chính sách công sản. Trong khi đó tôn trọng nhân quyền, bao gồm công đoàn độc lập và các quyền căn bản khác của con người đòi hỏi bởi hai hiệp thương thuộc thế hệ mới mà Việt Nam đã ký kết : CPTPP và EU-VFTA. Khó khăn trong hai lãnh vực nầy mang tính di truyền hay DNA của chủ nghĩa cộng sản nên sẽ vô cùng khó khăn cho chính phủ và đảng CSVN với chính sách công hữu đất, để thực thi và tuân thủ mà không thay đổi DNA của chính quyền và đảng cộng sản”… Để rồi sau cùng đưa đến kết luận là Việt Nam cần phải định hình quốc gia qua: - Chính sách giáo dục, -  Định hình thể chế, - Chính sách ngoại giao.”

Cuối cùng diễn giả “lững lờ” nhắc lại lời của Cụ Lý Đông A rằng…” Nếu ai đó trong những người Việt của chúng ta có cơ hội kiến tạo lại quê hương Việt Nam trong tương lai …cần nhớ đến lời Cụ “Thật tại là tiêu chuẩn của chân lý”. (Chính người đúc kết vẫn chưa nghiệm được ý nghĩa cùa lời nhắn!?)

Phần Hỏi – Đáp

Hỏi 1: Trong trường hợp, Đảng Dân chủ dành lại danh vị Tổng thống, một TT Dân chủ có chiến lược gì khác với chính sách TT Trump đeo đuổi hiện tại?

Đáp 1: Dù TT Trump có thất cử, chính sách đối với TC của Đảng Dân chủ vẫn như vậy. Đảng DC và CH tranh chấp nhau, đối kháng với nhau trong những vấn đề quốc kế dân sinh của người dân trong nước. Về đối ngoại nhứt là ngoại giao và chiến lược chính trị…không sẽ khác gì nhiều…

Hỏi 2: Trong chiến tranh mậu dịch hiện nay, phần thắng ngả về phía nào? Hoa Kỳ hay Trung Cộng?

Đáp 2: Hiện tại, TC không thể thắng được Mỹ trong chiến tranh mậu dịch, nhưng TC sẽ tìm cách giữ cho sóng gió lặng im, ngồi chờ thời, để rồi mai phục một cuộc chiến mới trong tương lai…

Hỏi 3: Hiện tai, TT làm hay muốn đánh sụp TC làm cho dân chúng HK phải trả một giá cao có thể làm cho kinh tế Mỹ suy trầm không?

Đáp 3: Thương chiến không tạo ra kẻ thắng người bại, chỉ làm đôi bên thiệt hại nặng nhẹ khác nhau mà thôi. TC rất cần những sản phẩm nhập cảng trong công nghệ và dịch vụ để đẩy mạnh sản xuất. Sự khiếm khuyết do thuế má cao, do các Cty ngoại quốc rút khỏi TC sẽ làm cho kế hoạch phát triển của TC sẽ trì trệ lại. Còn HK chỉ bị thiệt hại nhỏ trong việc xuất cảng nông sản mà thôi…

Hỏi 4: Bây giờ, nhiều quốc gia trên thế giới đều có vũ khí nguyên tử thuộc cả nhiều phìa: tư bản, cộng sản, các quốc gia Hồi quốc, Ấn Độ…có thể có thế chiến thứ Ba trước tình thế hiện tại không?

Đáp 4: Không!

Hỏi 5: Trong thương chiến Mỹ - TC ảnh hưởng như thế nào đối với Eu hay Nga. Âu Châu lợi gì?

Đáp 5: Âu châu có lợi trong việc buôn bán vũ khí. Có lợi trong việc được mua một số mặt hàng cao cấp mà Mỹ không bán cho TC.

Hỏi 6: Nếu Mỹ thắng, Việt Nam được lợi gì? Nếu TC thắng VN bất lợi gì?

Đáp 6: Nếu Mỹ thắng, Việt Nam bị thiệt hại vì ảnh hưởng của cuộc thương chiến ảnh hưởng đến việc xuất cảng và nhập cảng của VN. Nhưng nếu TC thắng, Việt Nam sẽ là một tỉnh mới phía Nam của TC.

Người đúc kết (Điều hợp viên): Mai Thanh Truyết

Houston 15/9/2019