Sunday, April 21, 2019

Cảm Nghĩ Về Ngày 30 Tháng Tư - 2019



Cảm Nghĩ Về Ngày 30 Tháng Tư


Không biết tự lúc nào sau ngày 30 tháng tư năm 1975, mỗi năm vào dịp nầy lòng tôi lại thêm một lần chùng xuống sâu hơn. Trước khi về hưu vào năm 2012, công việc hàng ngày vẫn chu toàn 8 giờ để trả nợ áo cơm, một vài giờ cho dịch vụ tư vấn về môi trường của tôi, cũng như thì giờ cho các buổi phỏng vấn hay ngồi suy tư và viết bài hoặc đi đó đi đây…tôi đã cảm nhận được một nỗi niềm u uẩn nào đó trong tôi. Nhưng bây giờ, mặc dù đã giã từ nợ áo cơm, nhưng niềm u uẩn trên vẫn tiếp tục còn trong tôi ngày càng…dai dẳng hơn thêm.


Tại sao lại có hiện tượng như vậy trong tôi?

Có lẽ, vì tuổi đời ngày càng cao, và niềm hy vọng về một ngày mùa xuân nở hoa trên quê hương còn xa vời vợi…cho nên nỗi buồn của tôi càng thêm ray rứt và dường như còn điểm thêm đôi nét tuyệt vọng trong tâm tư ….. (?)

Bỏ qua những ngày tháng nghiệt ngã sau 30/4/1975 lúc còn lại ở Việt Nam trước khi vượt biên, phải thành thật mà nói, lúc đó tôi không có thì giờ để “buồn” như hôm nay, vì miếng cơm manh áo và mãi lo “tìm đường ra đi” (cứu thân) cho một gánh nặng gia đình với 4 đứa con dại…
Bỏ qua những năm đầu tiên sống đời tị nạn, tôi cũng chưa thực sự quan tâm gì mấy cũng như không có thì giờ để buồn…như nỗi buồn hôm nay vì một đời sống tạm dung nơi xứ người.
Nhưng chỉ trong vòng 25 năm trở lại đây, khi gia đình tương đối ổn định và sau khi bắt đầu bước vào con đường tranh đấu cho Việt Nam qua ngã môi trường, tôi mới thực sự cảm thấy buồn. Và mỗi năm nỗi buồn đó càng se sắc hơn, ngậm ngùi hơn và sâu đậm hơn.



Buồn để mà buồn một mình!

Không thể nào nói tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn được. Mà tôi hiểu và hiểu rất rõ nỗi buồn thực sự của tôi vì hai lý do: – Đất Nước còn điêu linh, – và Bà con mình vẫn còn chìm đắm trong nỗi nhục nhằn làm công dân hạng hai cho một chế độ phản dân tộc chưa từng thấy trong lịch sử Việt Nam.

Nhìn lại những ngày bắt đầu từ giữa tháng tư năm 75, có thể nói cả thành phố Sài Gòn đang lên cơn sốt. Nào là chạy đôn chạy đáo thăm dò tình hình…mặc dù biết rằng miền Nam đang trong cơn hấp hối, nhưng cũng mong tìm và hy vọng một phép lạ. Nào là, đối với những người có chút tiền, lo chạy đi đổi tiền, làm…áp phe, hay do là tin tức tìm đường ra đi.

Tin tức đồn đãi nhiều khi trái ngược nhau, tin vui lẫn với tin buồn.
Nhưng nỗi buồn của tôi thực sự buồn khi rời trụ sở USAID ở đường Lê Văn Duyệt sau khi làm “thủ tục”…ra đi. Cầm tấm thẻ vô tri có hình của một “ông giáo trẻ” đầy nhiệt huyết, mà khi về lại Việt Nam năm 1973, nguyện sẽ làm một cái gì cho thanh niên Việt Nam. Tôi không thiết ăn cơm chiều hôm đó. Nếu tôi nhớ không lầm, đó là ngày thứ tư 09/4/1975.
Tới thứ hai tuần sau đó vào khoảng tuần lễ thứ hai của tháng tư, lên Đại học Cao Đài Tây Ninh, tôi lại được mấy anh chàng “CIA” trẻ đóng trên đài phát tuyến ở đỉnh Núi Bà cho tôi biết rằng ngày mai, họ sẽ rút về Mỹ và khuyên tôi nên rời bỏ quê hương qua một giọng Bắc rất rành rọt. Suốt các buổi lên lớp sau đó, tôi nói như người mất hồn, một tâm trạng mà chính giờ phút viết lên dòng chữ nầy, tôi lại thêm một lần “phiêu diêu” nữa.

Đi?  hay Ở?
Hai chữ nầy ám ảnh mãi nơi tôi trong suốt thời gian còn lại cho đến ngày 30/4 năm đó.
Hình ảnh Ba tôi lẩn quẩn trong đầuHình ảnh một ông giáo già đã về hưu từ lâu, căm cụi viết thư cho con mình đi du học mỗi buổi sáng thứ năm trong tuần, để rồi, sang sáng thứ bảy đem thư ra Bưu diện gữi đi cho kịp chuyến máy bay Air France bay về Pháp, để cho con mình nhận được thư đúng ngày thứ hai. Việc nầy xảy ra đúng như in, không hề sai sót suốt hơn hai năm trời sau khi tôi du học bên Pháp cho đến khi Ba tôi mất. Ba tôi mất ngày Chủ nhựt và thứ hai sau đó tôi vẫn nhận được thư ba viết trước khi nhận được điện tín của anh tôi.

Còn Má tôi. Một người mẹ già gặp lại và sống với con chưa đầy hai năm…Mà cũng chính trong thời gian nầy, tôi luôn bận bịu với những “đam mê” cho cuộc sống, chuẩn bị cho con đường “công danh” của mình… thì làm sao tôi có thì giờ chăm sóc hay hỏi han đến mẹ già. Và mỗi khi nhìn lại mình, chính tôi cũng phải tự thú rằng mình cũng không có thì giờ để nghĩ đến mẹ mình nữa trong thời gian nầy. Tôi thật có lỗi với má tôi nhiều và nỗi ân hận vẫn còn ray rứt mãi trong tôi. Và giờ đây, khi viết những dòng chữ nầy, tôi chỉ còn biết mỗi đêm nhìn ảnh mẹ để sám hối.


Trở lại thời gian giữa tháng 4 năm xưa. Tâm trí tôi luôn bị ray rứt với tâm trang nửa Ở nửa Đi.

Đi không đành cũng vì mẹ già đơn côi.
Đi không đành cũng vì bầu nhiệt huyết của tuổi trẻ níu kéo lại để làm một “cái gì” cho quê hương.

Và đi cũng không đành vì một suy nghĩ non dại (mà chắc cũng có nhiểu người suy nghĩ như tôi), đó là “Mình có thể đối thoại với người cộng sản, vì trước khi họ là cộng sản, họ cũng là người Việt Nam với đầy đủ dân tộc tính; vì vậy mình có thể hợp tác được”.
Khi đã biết sai lầm thì đã muộn, tôi phải trả cái giá gần 8 năm trong nhà tù lớn Việt Nam dưới chế độ nầy. Biết là sai lầm trong giai đoạn đó, nhưng tôi không bao giờ hối hận vì quyết định trên. Vì sao? Vì chính cái sai lầm oan nghiệt nầy đã làm cho tôi hiểu được người cộng sản Bắc Việt như thế nào…và chính điều sau nầy làm cho tôi dứt khoát hơn là chúng ta, những người con Việt hiền hòa không thể nào sống chung với những người luôn mang não trạng chuyên chính vô sản và không có tình người.


Cái sai lầm nầy cũng giống như cái sai lầm của người thầy giáo Tạ Ký khi đi học tập về cùng ngồi uống rượu với Gs Tôn Thất Trung Nghĩa và tôi tại Chợ Đuổi nằm tại góc đường Lê Văn Duyệt và Trần Quý Cáp năm 1981 như sau:
Hai mươi năm mới biết chuyện xưa lầm.
Thì tuổi trẻ đã biến thành uất hận!”
Chiều thứ hai 28/4, khi một tên phi công (tôi không muốn nhắc tới tên nầy lên đây, vì làm sao tôi quên được tên những kẻ phản bội quê hương) dội bom dinh Độc Lập, và từ đó lịnh giới nghiêm 24/24 được ban hành. Tôi liền chạy lên nhà một người bạn vong niên trên cư xá giáo chức ở đường Tự Đức.

Tôi đã chứng kiến được gì và đã học được gì?

Xin ghi lại vài dòng để chiêm nghiệm nỗi đau thương, nhục nhằn của những đứa con Việt trước cảnh quốc phá gia vong. Đó là:

§  Hình ảnh một Trung tá TQLC chạy từ Đà Nẵng về nhà người anh cũng ở cùng cư xá, hình ảnh giọt nước mắt lưng tròng khi anh cổi chiếc áo trận và cắt từng nút áo cũng như hai bông mai bạc trên cầu vai. Anh nói với người anh qua giọt nước mắt và trong từng tiếng nấc “Anh xem như em đã chết ngày hôm nay”.
§  Hình ảnh từng đoàn trực thăng Mỹ chiếu đèn sáng rọi vào mặt chúng tôi trên sân thượng của cư xá trong lúc tháo chạy và chở người đi ra hạm đội.
§  Hình ảnh những người lính tôi không còn nhớ Dù hay Thủy Quân Lục Chiến tiếp tục chiến đấu ở cầu Phan Thanh Giản trên con đường đi ra Ngã tư Hàng Xanh. Tiếng súng bắt đầu ngay sau khi tướng Minh tuyên bố đầu hàng lúc 10 giờ 37 phút sáng 30/4. Và tiếng súng chỉ im lặng lúc xế trưa, có nghĩa là tất cả anh em binh sĩ đã chiến đấu cho đến quả lựu đạn cuối cùng.



Chuyện ĐI và Ở đã được tôi quyết định ở khúc quành định mệnh nầy, không khác chi khúc quành của nhân vật Thiệu (trong quyển tiểu thuyết “Dòng sông định mệnh” của nhà văn Doãn Quốc Sĩ), “phải” rời bỏ khúc quành của con sông Đuống đầy kỷ niệm tuổi thơ với Yến, người bạn thời trẻ thơ mà sau nầy trở thành…người tình muôn thuở cho đến cuối đời, cùng di cư vào Nam tìm tự do.

Qua ngày thứ năm 1/5, lệnh trên radio yêu cầu (bắt buộc thì đúng hơn) mọi công chức phải đến trình diện tại trụ sở làm việc của mình. Sáng đó, tại cư xá có mặt Ông Khoa trưởng, Ông Phó Khoa trưởng và một số giáo sư, tôi và một giảng nghiệm viên tình nguyện vào Trường Sư phạm xem tình hình.

Mọi sự có vẻ êm xuôi vì “họ” chưa có người vào tiếp quản, ngoài một số “cơ sở” địa phương thôi. Nhưng một hình ảnh khác làm bẽ bàng và làm đão lộn những suy nghĩ tốt đẹp trong tôi khi nhìn thấy một số đồng nghiệp của mình mới chỉ vừa cách đây một ngày, nay đã mang “băng đỏ cách mạng” từ cung cách hướng dẫn chỗ để xe, cho tới thái độ trong lúc nói chuyện. Đáng phỉ nhổ nhứt là những người nầy ngày nào thưa anh, xưng em với tôi, mà nay trở mặt dương dương tự đắc tự xưng tôi, tôi, anh, anh một cách trơ trẻn.

Có những chị giáo sư thước tha, dịu hiền trong khi lên lớp mà nay ngoài băng đỏ, thậm chí còn để lá cờ vàng ba sọc đỏ dưới chân bàn đạp ga xe nữa. Và hơn nữa, có giáo sư trong suốt thời gian chưa đầy hai năm ngắn ngũi của tôi, đã xem tôi như “thần tượng” mặc dù biết tôi đã lập gia đình rồi, thường xuyên đi ăn uống chung; thậm chí đã dám cùng tôi “nhậu thịt chó” nữa…Người đó bây giờ là một “công thần” của chế độ.

Làm sao tôi quên được lần đổi tiền đợt I ngày 22/9/1975, đổi 1đ tiền “chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam” tức tiền “ngân hàng Việt Nam” lấy 500 đ tiền Việt Nam Cộng Hòa hay “tiền Ngân hàng Quốc gia Việt Nam”. Người dân chỉ đổi được mỗi gia đình 100.000 đ mà thôi.

Làm sao tôi quên được lần đổi tiền đợt II ngày 3/5/1978, đổi 1 đ “tiền thống nhứt XHCN” tức tiền “ngân hàng nhà nước” lấy 1 đ tiền “ngân hàng Việt Nam” và mỗi gia đình chỉ được đổi 100 đ mà thôi.

Làm sao tôi quên được lần đổi tiền đợt III ngày 14/9/1985, đổi 1 đ tiền ngân hàng nhà nước cũ lấy 1đ tiền ngân hàng nhà nước mới (tiền thống nhứt Bắc Nam).

Làm sao tôi quên đượt lần đánh tư sản đợt I ngày 11/9/1975, cướp của và tịch thu nhà những người được cho là tư sản cùng bắt đi vùng kinh tế mới. Chiến địch nầy gọi là X1.
Làm sao tôi quên được lần đánh tư sản đợt II, tức chiến dịch X2, từ tháng 3/1978 tới cuối năm 1990 nhắm vào tư sản tiểu thương, những nhà tiểu thủ công nghệ, ước tính trên 14.000 gia đình tại Sài Gòn.
Làm sao tôi quên được lần đánh tư sản đợt III tức chiến dịch X3, song hành với chiến dịch X2 tại Sài Gòn nhằm mục đích trục xuất người củ ra khỏi nời ở và điền khuyết vào bằng gia đình cán bộ ngoài Bắc vào. Đây là một âm mưu thâm độc nhằm “Bắc kỳ hóa” thành phố Sài Gòn. Tính đến tháng 9/1989, ước tính có đến 950.000 người bị đuổi khỏi Sài Gòn, và có khoảng 150.000 gia đình cán bộ Bắc Việt được điền khuyết vào.

Làm sao tôi quên được những đợt học tập cải tạo, đáng kể nhứt là đợt cuối cùng vào tháng 6/1975, kêu gọi công quân cán chính tập trung mang theo lương thực cho một tháng…để rồi tất cả bị lường gạt và phải chịu lao động khổ sai từ một hai năm cho đến hơn 17 năm đối với những cán bộ hành chánh và quân đội cao cấp của Việt Nam Cộng hòa….

Trên đây, xin diễn lại bức tranh vân cẩu chập chùng những ý nghĩ lộn xộn trong những ngày quốc phá gia vong. Xin chia xẻ cùng bà con.

Đây không phải là lời tự thú hay than thở, hay nói về mình.
Nơi đây tôi chỉ muốn nói lên vài điều suy nghĩ của một người con Việt mà thôi.
Đó là:  Truyết ơi, đừng bao giờ mơ tưởng những cộng sản Bắc Việt là người Việt Nam.

Và để thoát khỏi ý nghĩ tiêu cực trong những ngày đau thương của Đất và Nước, tôi tự điều hướng cho chính mình cần phải hành xử trong tương lai như:


§  Đứng trước quá khứ, hãy ngả mũ. Đứng trước tương lai, hãy XẮN TAY ÁO (H.L.Mencken) và chúng ta phải tiếp tục giữ lửa Quê Hương trong lòng mãi mãi.


§  Lời ca của cố nhạc sĩ du ca Nguyễn Đức Quang đã kéo tôi về với thực tại, bài “Không phải là lúc”, bắt đầu bằng “Không phải là lúc ta ngồi đặt vấn đề”, để rồi kết thúc bằng một quyết tâm dứt khoát “…Làm việc đi không lo khen chê, làm việc đi hãy say và mê, cứ bắt tay gan lỳ, chúng ta giải quyết. Mình chậm chân đi sau người ta, mà ngồi đây nghĩ lo viễn vông, thắc mắc ngại ngùng biết khi nào mới làm xong!”

Và cũng chính vì mang quyết tâm trên mà tôi vẫn “Không đặt vấn đề với anh em, nhưng chắc chắn đứa con Việt nầy dứt khoát đặt vấn đề những người đang tàn phá Ðất và Nước của Ông Cha để lại.

Tôi ”đặt vấn đề” với người Cộng sản Bắc Việt, kẻ thù ở phương Bắc đang tiếp tay đóng vai trò “thái thú biết nói tiếng Việt” cho Trung Cộng thực thi “Ðại Họa Mất Nước” để hoàn tất công cuộc Bắc thuộc lần thứ V.
Nhưng tôi cũng không quên dứt khoát đặt vấn đề với những kẻ cuối đời vẫn còn bon chen danh lợi, bất kể cố ý hay vô tình, bị rơi vào cái bẫy lợi danh của Cộng sản, cái bẫy của “cây gậy và củ cà rốt” với cây gậy đập trên đầu mà củ cà rốt vẫn không cho ăn, cái bẫy của Cộng sản muốn mượn tay người Quốc gia “bôi đen” người Quốc gia chống Cộng, cái bẫy “gây rối cộng đồng”  do những tay ăn bã của cộng sản; những kẻ dễ đánh mất thân phận làm “người” của mình, bất kể đó là loại “người” gì; lắm khi đó là những con “ếch” muốn làm con “bò”, cho dầu “ếch” hay “bò”, “nhỏ” hay “lớn”, vẫn không phải là... “người”.







Xin ghi lại và góp phần vào những Ngày Buồn Tháng Tư của những người con đất Việt.
Nhắc lại Nỗi Buồn Tháng Tư nhằm mục đích không phải là ủy mỵ, than thở…mà là cùng khơi lại để Bà Con không quên những đọa đày dã man mà CSBV đã gây ra cho dân chúng miền Nam, cũng như để khẳng quyết một quyết tâm duy nhứt là xóa bỏ cơ chế chuyên chính vô sản của họ!  
 Thưa Bà con,

Thưa Bà con,
Đối với chuyện Nguyễn Phú Trọng bị đột quỵ trong những ngày gần đây, CSBV đã cử Nguyễn Thị Ngọc Thịnh giữ quyền Chủ tịch Nước và Nguyễn Khắc Vượng giữ quyền Tổng bí thư Đảng rồi. Như vậy kể như xong, nhưng chưa tuyên bố chính thức mà thôi. Chờ xem những tranh chấp, đấu đá tiếp theo. Hãy nhìn lại những diễn biến lịch sử sau đây:

- Ngày 1/7 dân chúng Algeria đứng lên chống độc tài Abdelaziz Bouteflica, bắt buộc ông ta từ chức sau 20 năm cầm quyền.
- Ngày 8/4 sau những biểu tình liên tục từ tháng 12/2018 của dân chúng, TT Sudan Omar al-Bashir phải ra đi sau 30 năm cầm quyền.
- Ngày 14/4 Chủ tịch NPTrọng bị đầu độc(?).  

Matin Luther King từng nói: "Trong thế giới này, chúng ta không chỉ xót xa vì những hành động và lời nói của người xấu mà còn cả vì sự im lặng đáng sợ của người tốt"…  

Sự kiện tăng thuế xăng 4 lần trong một tháng, tăng cước phí BOT khắp nơi.... là lý do chính đáng để những người con Việt và Tuổi Trẻ trong nước cùng vùng lên đòi lại quyền sống và quyền làm người theo Điều 3 của luật Quốc tế Nhân quyền “Mọi người đều có quyền sống, tự do và an toàn cá nhân.” Giai đoạn nầy là cơ hội ngàn vàng cho chúng ta, những người con Việt trong và ngoài nước …làm LỊCH SỬ.

Hãy hẹn ngày chúng ta về dựng lại cờ trên Cổ thành Quảng Trị!

Mai Thanh Truyết
Ni bun tháng tư 2016
Hiệu đính 2019




Thursday, April 18, 2019

Bài Tiễn Biệt Ba Dương Hiếu Nghĩa - Dương Ngọc Yến



Ngày 16.4.2019 
RichlandWashington


Dương Ngọc Yến đọc trước linh cửu tiễn biệt 
Cố Đại tá Dương Hiếu Nghĩa,
 - Pháp danh: Minh Lý
-  Pháp hiệu: Thích Không Như
   



Bài Tiễn Biệt Ba Dương Hiếu Nghĩa


Ba thương, con biết là linh hồn Ba còn ở đâu đây. Nên con xin thong thả trò chuyện với Ba một chút nhen, trước khi Ba bay lên Nước Trời. Con nói chuyện với Ba, mà có Mẹ, các anh chị em và con cháu nghe chung nhen.


Trước hết con mừng cho Ba thoát cái cảnh tuổi già sức yếu, 94 tuổi ở nhà già, "bốn bức tường vuông một chiếc giường". Ba đã xuất gia, mà cuối đời được sống gần gũi các con các cháu, có thêm chị Hai Cao túc trực chăm sóc. Ba thật là có phước! Con cầu xin cho Ba lên Nước Trời thật là bình an. Gặp lại ông nội bà nội, anh chị em, và bạn bè thân thương của Ba.

Ba thương,

Có một đêm, con trằn trọc tới sáng, không ngủ được. Bỗng nhiên 5 giờ sáng, Ba phone con, giọng nói thiệt là vui: "Trời ơi sướng quá! Ba mới đi bộ lang thang chơi ở ngoài đường nè! Trời lạnh quá, mà thích quá! What an adventure!". What an adventure! Quả thật, cuộc đời của Ba phiêu lưu ly kỳ! Rày đây mai đó, ngang dọc núi sông, với tinh thần lạc quan, "tri túc thường túc". Thấy đủ là đủ.

happy thoughts thì tinh thần mới sảng khoái, phải không Ba! Ba là một ông già có nhiều chuyện kể và lạc quan. Ba thích kể chuyện về đời binh nghiệp, về thời trai trẻ đi học quân sự ở Pháp ở Mỹ. Huấn luyện binh sĩ. Kể về đức tả quân
Lê Văn Duyệt. Kể chuyện 13 năm tù, với tinh thần thư dãn, không hận thù.

Ba rất thích kể chuyện và đọc sách. Cho nên con hay đọc sách cho Ba nghe qua đường dây telephone. Mình nối đường dây 3-chiều, đọc sách chung với các bạn đồng chí, chiến hữu, đạo hữu, thiền sinh, các ông già cao niên ở Spokane. Mình thư dãn nói chuyện mưa nắng hay thời sự. Đọc sách, kể chuyện, nghe nhạc tiền chiến, nói về các nhạc sĩ và những bài hát. Đủ thứ đề tài, như ăn uống đổi món.

Thích nhất là đọc sách với Mỹ Ngọc, chị Bạch Yến, chị Ngọc Nữ, Hồn Nhiên, anh Lâm Frank, bác Bành Thông, anh Minh Đức, anh Thanh Giàu, anh Vũ Quý Kỳ....Nhất là Cậu Tám, em của Đức Giám Mục Nguyễn Kim Điền đó, Ba nhớ không. 2 ông già nam kỳ, rất hạp khẩu, hay cười ha hả rất vui. Đề tài gì bàn tán cũng râm ran vui vẻ. Một ông theo đạo Công Giáo, một ông Phật Giáo.

Những lúc đó vui quá. Cái "Book Club" của mình đọc đủ thứ về chính trị, kiếm hiệp, thiền học, hay Phật học. Có một số bài viết favorite, mình đọc hoài. Có khi mình đọc Kinh Kim Cang với anh Lâm đạo sĩ, cháu bác Huệ Hòa. Sách về nam kỳ lục tỉnh, đời sống dân quê miệt vườn, câu cá, bắt cá, chài lưới trên sông Cửu Long. Sách "Cái Cười của Thánh Nhân".  Sách Thiền của thầy Thông Triệt. Đường Hy Vọng của Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận viết ở trong nhà tù. Hành Trình Vào Đời của Linh mục Trần Quý Thiện, bạn tù của Ba. Các bài viết của anh Trần Phong Vũ, của Lm Nguyễn Tầm Thường. Các bài viết vui vẻ của ông Trà Lũ.

Lẽ Sống của Radio Chân Lý Á Châu. Giai Thoại Làng Nho của Lãng Nhân. Các bài viết của anh Mai Thanh Truyết -- người đã lái xe đường tuyết đi thăm Ba dịp Tết. Sách về đạo Phật của bác Kim Khánh, bạn Ba. Thác Lũ Mưa Nguồn của chú Nguyễn Lý Tưởng. Tình Yêu Ngục Tù và Vượt Biển của Dương Phục Thanh Thủy. Lá Rừng của anh Minh Đức. Các giai phẩm Phù Sa Sông Cửu. 5 cuốn sách Ba dịch về 30 tháng 4, như Quê Mẹ Oan Khiên của Pierre D'Arcourt, Vietnam Qu'as Tu Fait de Tes Fils, Nước Việt Nam Bị Bức Tử. Sách của tướng Vanuxem......

Tụi con thích khều khều Ba kể chuyện giang hồ. Những chuyện thời kháng chiến cùng các bạn đồng chí chống Pháp, chống Nhật, chống Việt Cộng. Thời Ba còn là chàng thanh niên Thần Long lãng mạn thổi sáo vi vu bên sông ở Cù Lao An Thành…."Đêm Đông, ôi ta nhớ nhung đường về xa xăm... Đêm đông, ta mơ giấc mơ gia đình yêu thương".... Một chàng tráng sĩ xa nhà, nhớ thương gia đình.

Ba khoái nhất là kể chuyện về tỉnh Vĩnh Long, những công trình bình định xây dựng trong đó có Bảo Tháp Xá Lợi Miền Tây còn dang dở. Ba rất khoái nghe con đọc bài viết của chú Nguyễn Sanh Tiền. Ba cười ha hả, kể rằng ông đại tá Tỉnh Trưởng phải mặc quần tắm cụt ngủn, ở trần, nhảy plongeon xuống hồ, để chính thức khai trương một hồ tắm piscine lớn ở Vĩnh Long, đúng tiêu chuẩn quốc tế.

Ba ưa kể chuyện chi tiết. Thí dụ, hồi nhỏ Ba giúp bà Nội nấu xôi làm sao. Buổi sáng Ba dậy sớm, chụm cũi cho mẹ, đừng cho lửa tắt. Ngâm đậu xanh, đãi vỏ. Xôi lá dứa với nước dừa. Học trò Dương Hiếu Nghĩa bị ông nội bắt thức khuya dậy sớm học bài và trả bài cho ông nghe, dù ông không mấy hiểu tiếng Pháp.

Ba là con nhà nghèo, nên thương dân nghèo. Tâm niệm của Ba là "vì dân vì nước". Ba nói "dân như cha mẹ mình" (dân chi phụ mẫu). Tâm niệm của Ba là sống trong sạch, thanh liêm. Không ham tiền. Coi "tiền tài như phấn thổ, nhân nghĩa tựa thiên kim". Tiền bạc như bụi bặm, tình nghĩa mới là ngàn vàng.

Ba ghiền cái "cục nhạc" 70 năm âm nhạc Việt Nam do Radio Úc Châu thực hiện. Có lần Ba nghe bài hát "Saigon bây giờ trời mưa hay nắng?", cảm động quá, Ba bèn phone ngay cho con hỏi "làm gì đó bạn?" Rồi 2 cha con lại tâm sự đủ thứ chuyện. Con nhớ điệu cười ha hả của Ba. Có khi Ba than thở "buồn quá con ơi", "già rồi sao mà sống hoài", rồi chẳng bao lâu sau đó Ba lại hết buồn, lại cười ha hả. Có nhiều khi, cho đỡ buồn", Ba đòi nghe con Yến thông ngôn trên phone, theo dõi những câu chuyện ở văn phòng bác sĩ, tòa án, hay sở di trú, ở Mỹ hay ở Anh.

Tụi con rất thích nghe Ba kể chuyện. Trong hơn 20 năm qua, Ba có viết nhật ký, và có thâu băng một số bài viết để dành cho con cháu. Ba thông minh và siêng năng. Qua Mỹ là học computer liền, viết dồi dào, và dịch 5 cuốn sách Pháp. Khi ở nhà già, Ba cũng đòi phiên dịch những bài viết về y tế, bằng tiếng Pháp như: uống nước, tập thể dục, ăn uống lành mạnh... Già yếu rồi mà Ba còn đòi mua một bàn bureau nhỏ để "làm việc". Cái bàn nhỏ này đang nằm buồn hiu trong nhà con.

Nhiều khi con chảy nước mắt thương Ông Già. Con thấy các ông bà già ở Hội Cao Niên Spokane thương Ba -- nhất là anh Lâm anh Ty chị Châu. Các Sư, các cô bác ở Thiền Viện Tánh Không và ở 2 ngôi Chùa Pasco này thương Ba. Các chú bác đồng chí Đảng Đại Việt thương Ba. Các chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa thương Ba. Các ông bà ở Hội Ái Hữu Vĩnh Long Sa Đéc thương Ba. Có người đã thuộc lòng 2 câu đối đáp của Ba và Bác Tâm hồi cuối thập niên 60, sau Tết Mậu Thân:

                                 Nghĩ lành làm lành, vạn sự an lành
                             Gieo phúc gặt phúc, ngàn đời hạnh phúc

Đài tưởng niệm chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa ở thành phố Auburn Washington hiện nay có khắc tên Ba và câu: "Gieo phúc gặt phúc, ngàn đời hạnh phúc".


Cám ơn Ba đã hy sinh đời mình cho con cái. Cám ơn Ba giúp tụi con được học trường Tây. Cám ơn Ba giúp cả nhà mình di tản hồi năm 1975, giúp cho hơn 6500 đồng bào thoát khỏi phi trường Tân Sơn Nhất hồi 30-4, khỏi đau khổ vì cộng sản. Cám ơn Ba về những kiến thức và kinh nghiệm, tinh thần phục vụ tha nhân, lòng Yêu Nước, đạo đức, cách ứng xử ở đời, sự trung thành, tinh thần tận tụy gắng sức.

Ba thương,

Ba đã ra đi bình an ngày mồng 10 tháng 3 âm lịch, ngày Giỗ Tổ Hùng Vương, ngày Chúa Nhật Lễ Lá ngày 14/4/2019. Tối hôm đó, đi lễ nhà thờ Công Giáo, Palm Sunday, mùa Chúa Giê-Su chịu nạn, con buồn quá, nước mắt cứ chảy ra. Con cứ nghĩ tới 4 chữ "ngàn đời hạnh phúc" và "vui sống muôn đời". Kinh Hòa Bình của Thánh Phanxicô có câu "chính lúc chết đi, là khi vui sống muôn đời".

Mùa Phục Sinh, ngày Lễ Lá, giữa những bài thánh ca êm ái và những lời cầu nguyện chung của cộng đoàn, tụi con đã quỳ gối cầu nguyện cho Ba ở nhà thờ đại học Gonzaga. Con đã cầu nguyện lập đi lập lại: "xin cho Ba VUI SỐNG MUÔN ĐỜI". Xin cho Ba vui sống muôn đời, ở trên Nước Trời, ở cõi cao, ở
cõi vĩnh hằng. Xin cho Ba NGÀN ĐỜI HẠNH PHÚC ở miền cực lạc.

Thôi, Ba đi lên Nước Trời bình an nhen Ba!  Ba đã phiêu lưu 94 năm ở thế gian, sống một cuộc đời giúp ích, hy sinh, đầy ý nghĩa. Ba ra đi bình an nhen! Xin Ba nhớ lâu lâu quay trở lại trần gian, nâng đỡ, phù hộ cho Mẹ và các con các cháu của Ba nhen! Xin Ba giúp sức cách riêng cho gia đình tụi con nữa nhen!

Và xin Ba giúp sức cho người dân Việt Nam, giúp sức cho Việt Nam được "THANH BÌNH KHÔNG CỘNG SẢN"(*) nhen. Dạ con xin chào tiễn biệt Ba.

     Ngọc Yến

 
-------------------------------------------------------------------------------------------
(
*) Ba kể rằng Đức Tả Quân Lê Văn Duyệt hiển linh cho biết Việt Nam sẽ "thanh bình không cộng sản".

Tuesday, April 16, 2019



Tản Mạn Về Ái Lực


Vốn là một người học hóa học, làm những việc “mưu sinh” liên quan đến hóa học trong hơn 40 năm, rồi tiếp tục làm, viết, nói, “bắn” lên mạng lưới toàn cầu những câu chuyện về hóa học, liên quan đến hóa học…tất cả đều chuyển tải một ước nguyện của một người con Việt là mang lại cho Đất và Nước Việt Nam thân yêu một Môi Trường Sạch: Sạch từ đất, nước, không khí cũng như sạch trong cơ thể dân tộc được cấu tạo bằng những hóa chất căn bản…Carbon (C), Hydrogen (H), Oxygen (O), Nitrogen (N) tức C.H.O.N. và một số vi kim loại khác…
Hôm nay, người viết có ý muốn tản mạn về ÁI LỰC. Danh từ nầy được chuyển dịch từ chữ AFFINITY.
Theo định nghĩa, Ái lực là một thước đo sức hấp dẫn giữa một tiếp thể và phối tử của nó (Affinity is a measure of the strength of attraction between a receptor and its ligand).
Trong hóa học, có những kết nối như giữa hai nguyên tử Oxygen và Hydrogen trong phân từ nước H2O (H-O-H) bằng kết nối ( - ) kết hợp giữa một điện tử (electron) của Oxy và một của Hydro để tạo thành một nối  cộng hóa trị (covalent) hay một “couplet” (của hai electron). Nhìn hình minh họa, bạn thấy hai gạch đen chỉ sự liên kết “chặt chẽ” giữa nguyên tử Oxy và hai nguyên tử Hydro.
Cũng còn có một cách kết nối khác, trong hóa học gọi  là kết nối Van Der Vaals là sự kết nối giữa hai phân tử (molecule) giống nhau hay khác nhau, nhưng vẫn có thể liên kết với nhau thành một kết nối như hình minh họa phía dưới (hai hinh bầu dục) kế bên. Nếu chúng ta “nhân cách hóa” sự kết nồi nầy, người viết gọi là “Ái lực”. Cho đến hiện tại, trong lãnh vực chuyên môn về hóa học, sách vở vẫn ghi kết nối trên là “kết nối Van Der Vaals”, nhưng người viết rất thú vị khi “đặt tên” cho kết nối trên là “ái lực” ở những ngày đầu tiên khi về giảng dạy ở Đại học Sư phạm Sài Gòn trước 1975.
Và bài viết tản mạn hôm nay xin được nói về cái lực “ái lực”.
1-    Câu chuyện đụng xe
Chuyện kể trên xa lộ. Anh A đang lái xe trên xa lộ. Chị B cũng đang lái xe, chạy phía sau xe anh A. Không biết gì lý do gì, chị B tăng tốc độ (làm sao mà biết hay tiên liệu phản ứng của một người đàn bà?!) và hít xe anh A một cái rầm!
Hai người tấp xe vô lề đường, mở cửa xe và đi ra gặp nhau.
-       Xe chị đụng tôi từ phía sau, chi cho xin giấy bão hiểm xe của chị. Anh A nói
Với một nụ cười tươi tắn (nhưng hơi lẵng một chút xíu), chị B trả lời:
-       Chuyện đâu còn có đó thưa anh. Có lẽ chúng mình có duyên gặp nhau. Em có chai rượu, mời anh cùng uống để mừng duyên hội ngộ.
-       Không còn gì bằng. Anh tên …, còn em, quý danh là chi?
-       Em tên…. Mừng gặp anh.
Hai người vui vẻ lai rai. Khi chai rượu vơi đi, chị B lấy iphone số 10 vừa mới mua của Apple ngày phát hành đầu tiên hôm 4/11 vừa qua, ra bấm số.
-       Em làm gì vậy? A hỏi
-       Tôi gọi cảnh sát, vì anh uống rượu lái xe và thắng gấp cho nên tôi mới…hút “đít” xe anh!
Câu chuyện kết thúc bằng chiếc còng số 8 khóa tay anh A lại!!!
2-     Chúng ta thấy gì?
Câu chuyện có liên quan gì đến ái lực không?
Thưa có bạn ạ. Cả anh A và chị B đều có ái lực như mô tả “khoa học” ở phần trên. Ái lực của anh A là có “ái lực máu” từ thời Bình Xuyên còn mở số đề, số 35. Còn ái lực của chị B là “tính ưu việt của đàn bà” (xin lỗi quý phụ nữ) cũng như tài ứng biến…để đẩy ái lực máu của anh B vào…vòng lao lý, chuyển bại thành thắng.
Nếu chúng ta dịch chữ affinity là ái lực, điều nầy có nghĩa là:
·         Ái là yêu;
·         Và lực là sức mạnh.
Trong hóa học, kết nối ái lực (Van Der Vaals) là một kết nối không bền vững, chỉ xảy ra giữa hai phân từ có thể giống nhau hay khác nhau, nhưng không có được như kết nối bền vững trong ái lực “covalent” như trong thí dụ ở phân từ nước.
Như vậy, chúng ta thấy một kết nối chặt chẽ hay bền vững (stable) là kết nối cộng hóa trị và một kết nối “không bền vững” (unsustainable) là kết nối Van Der Vaals hay kết nối ái lực.
Kết nối chặt chẽ (tuy nhiên cũng tương đối) trong quan hệ giữa người nam và người nữ là “tờ giấy hôn thú”.
Còn kết nối “ái lực” thể hiện việc kết hợp giữ hai người nam, hay hai người nữ, hoặc giữa một người nam và một người nữ kết hợp “ngoài luồng”!
3-    Thế giới hôm nay
Nếu chúng ta bước sang câu chuyện đang diễn ra ở thủ đô Tây Đức cũ là Bonn, nơi diễn ra Hội nghị về Khí hậụ Toàn cầu COP23 (từ 6 đến 17/11/2017), chúng ta thấy gì nơi gần 200 đại biểu các quốc gia trên thế giới nhóm họp để…tiếp tục bàn về việc giải quyết sự “hâm nóng toàn cầu” (global warming), tên gọi trước kia, và bây giờ là sự biến đổi khí hậu (climate change). Danh xưng có đổi, nhưng có thể nói não trạng của các thành viên đi phó hội trước và sau vẫn …trước sau như “nhứt”, nghĩa là không thay đổi qua những lời hứa, ký kết, hạ quyết tâm như”:
·         Giảm việc tăng nhiệt độ bầu khí quyển từ nay (2015) cho đến năm 2100 là 20C, hay cố gắng xuống còn 1,50C;
·         Đóng góp 200 tỷ Mỹ kim từ đây đến năm 2020 để giúp các quốc gia giải quyết sự thay đổi khí hậu ở các nước đang phát triển;
·         Chấm dứt việc xử dụng năng lượng hóa thạch (tức việc dùng than đá làm ra năng lượng) ở năm 2050, và tăng việc xử dụng năng lượng tái tạo như gió, mặt trời, thủy triều v.v…;
·         Và nhiều nhiều nữa như trồng rừng, cải thiện nông nghiệp, kiểm soát chăn nuôi và chấm dứt việc xử dụng hóa chất độc hại…
Tất cả những kết nối trên đều là kết nối Van Der Vaals, kết nối ái lực hay nói “trắng ra” là “kết nối giả tạo” mặc dầu có ký thành văn bản, có “đóng mộc” cũng giống như bản hôn thú…có thể bị xé toạt lúc nào cũng được, chỉ cần một đối tác nào đó…muốn thay đổi như trường hợp TT Trump hồi tháng 6/2017, rút ra khỏi những ký kết ở COP21 ở Paris do TT Obama ký.
Và kết nối COP23 năm nay cũng là … Vũ Như Cẩn mà thôi.
Chúng ta cần một KẾT NỐI MỞ, một KẾT NỐI …VÔ TRỤ ở cõi Ta Bà nầy mới có khả năng giải quyết những vấn đề của quốc gia và thế giới.
Mỗi quốc gia, mỗi chúng ta cần diện bích thêm nữa để hy vọng … thấy được ánh sáng ở cuối đường hầm!
Mai Thanh Truyết
“X” sau mt tun quay cung vi COP21 và COP23
Houston - Tháng 11, 2017

Trích từ sách "TÔI" dự địng Ra Mắt vào Mùa Vu Lan 2019



Monday, April 8, 2019




Đôi Lời Nhắn Gởi - Ngày 30-4-2019

        Nhìn lại bối cảnh Việt Nam trước thiên kỷ thứ ba, chúng ta thấy rằng mặc dù có nhiều cố gắng trong việc giải quyết những vấn đề của đất nước, Việt Nam vẫn còn lúng túng trong những toan tính giải quyết cùng một lúc những nhu cầu của toàn quốc. Do đó, Việt Nam hiện đang đứng trước hai nhu cầu cấp bách của đất nước: nhu cầu phát triển công nghệ sản xuất để sinh tồn và nhu cầu giải quyết các phế phẩm để làm sạch môi trường do nhu cầu phát triển trên tạo ra.

Vấn đề là làm thế nào để có một cân bằng hài hòa cho hai nhu cầu trên. Nếu đặt trọng tâm vào nhu cầu phát triển và coi nhẹ nhu cầu giải quyết môi trường sẽ là một đại nạn cho Việt Nam trong một tương lai rất gần. Và nếu làm như thế, thế hệ con cháu chúng ta sẽ nguyền rủa chúng ta đã không những làm cạn kiệt tài nguyên của đất nước mà còn hủy hoại môi trường sống của thế hệ tương lai.
Nếu trái lại, đặt ưu tiên hàng đầu cho việc bảo vệ môi sinh và làm chậm mức phát triển thì sẽ không đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng của người dân và đất nước sẽ khó phát triển đúng đắn.
Những nhà dự phóng tương lai cho Việt Nam sẽ là những người thật sáng suốt, thực tâm yêu nước và có tầm nhìn nhân bản đứng trên mọi chủ thuyết và định chế chính quyền. Vì vậy, những người có trách nhiệm với Đất và Nước Việt Nam ngày hôm nay cần phải thấu hiểu và thấm nhuần một số căn bản trong việc thanh lọc nguồn ô nhiễm tại Tâm.
Lòng tham: Một phương pháp đề nghị để thanh lọc những Ô Nhiễm trong tâm hồn của con người là dẹp bỏ lòng THAM của con người. Đức Phật dạy rằng THÂN, MIỆNG, Ý của con người hằng ngày thường tạo ra mười ác nghiệp:
·         Ba nghiệp về thân là: Sát sanh, Trộm cắp, Tà dâm;
·         Bốn nghiệp về miệng là: Nói dối, Nói lời đâm thọc, Nói lưỡi hai chiều, Nói lời ác khẩu.
·         Ba nghiệp về Ý là:  Tham, Sân, Si.
Trong mười nghiệp trên, nghiệp THAM là một trong những nghiệp nặng, vì Tham thuộc về Ý, mà Ý luôn luôn sai sử con người tạo tác ra mọi việc. Người xưa thường nói "Túi tham không đáy". Vì tham con người có thể làm đủ mọi việc vô lương tâm để đem đồng tiền về nhét cho đầy túi tham của mình. Nhưng vì túi tham không đáy nên có bao nhiêu nhét vào cũng không đủ.
Thử hỏi các nhà Đại Tư Bản: "Mỗi ngày các ông kiếm ra hằng triệu Dollars, đủ rồi, hãy ngưng đi." Các ông ấy có ngưng không, hay kiếm được một triệu Dollars, các ông sẽ nghĩ cách làm sao mỗi ngày kiếm ra hai triệu Dollars bằng những phương pháp "Khoa Học(!)" hơn. Nhưng kiếm ra nhiều tiền để làm gì? Mỗi ngày các ông có ăn quá ba bữa cơm không? Mỗi đêm các ông có ngủ quá một chiếc giường không?
Những nhà nuôi súc vật để cung cấp thịt càng ngày càng chích những loại Hormone hoặc những loại thuốc kỳ quái vào cơ thể những con vật để cho nó tăng trọng nhanh. Chẳng cần biết hậu quả là những người tiêu thụ các loại thịt đó sẽ bị mang những chứng bệnh lạ lùng không thuốc chữa.
Những nhà làm phim ảnh, TV cũng vậy. Hằng ngày họ đầu độc con người, thanh thiếu niên bằng những loại phim dâm ô, kinh dị, những loại phim kích động lòng ham muốn đâm chém, bắn giết, đánh đấm lẫn nhau để làm trò vui. Họ làm ô nhiễm đầu óc trẻ em bằng những phim Hoạt Hình quái dị. Hằng ngày họ càng sáng tạo ra những con vật quỹ quái, dị thường rồi cho đi giết chóc tàn phá bằng những phương pháp "khoa học". Thử hỏi đầu óc thơ ngây, trong sạch của trẻ em hằng ngày bị ô nhiễm bởi những hình ảnh kỳ quái, những tư tưởng giết chóc như thế thì thế hệ trẻ em đó lớn lên sẽ làm gì? Không cần đợi lớn lên, ngay bây giờ chúng ta cũng đã từng thấy những trẻ em mang súng vào trường bắn giết đồng bạn y như trên phim ảnh, trên TV. Tất cả chỉ vì lòng tham không đáy của những nhà làm phim ảnh, làm TV.
Pháp sư Tịnh Không, một vị Pháp sư đạo cao đức trọng hiện ở Đài Loan, trong loạt bài giảng về kinh Đại Thừa Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Bình Đẳng Giác Kinh, Ngài nói : Không một cường quốc nào có thể đánh bại nước Hoa Kỳ. Nước Hoa Kỳ chỉ bị đánh bại bởi TV của chính nước họ mà thôi.
Biên kiến: Một nguyên nhân khác làm Ô Nhiễm tâm hồn của nhân loại là Biên Kiến. Theo Phật giáo Biên Kiến là sự chấp thủ vào một nhận thức của mình, và cho rằng chỉ có nhận thức của mình là đúng, là chân lý, còn những nhận thức của kẻ khác đều là sai lầm. Điều này chính những tín đồ của các Tôn Giáo cũng góp phần không nhỏ vào "biên kiến" ấy. Thiền sư Nhất Hạnh nói rõ vế vấn đề này trong quyển "Tương Lai Văn Hoá Việt Nam" như sau: "Chúng ta có quyền theo đạo Phật, đạo Lão, đạo Nho, đạo Cơ Đốc, đạo Cao Đài hoặc theo chủ nghĩa Mác Lê… Nhưng chúng ta không có quyền cho rằng chỉ có nếp sống ta mới có tính cách dân tộc, còn những tập đoàn khác là phi dân tộc, là phản động, là không yêu nước."
Đến thế kỷ thứ hai mươi mốt nầy, mà còn có những người nhân danh tôn giáo mình để bắn giết những người theo Tôn Giáo khác vì cho rằng chỉ có tôn giáo mình là đúng còn những ngươì theo tôn giáo khác là tà ma ngoại đạo!
Đến thế kỷ thứ hai mươi mốt này, mà còn có những người ôm mớ tín điều hết sức sai lầm của Karl Marx ở thế kỷ thứ 18, rồi tự xưng mình là "đỉnh cao trí tuệ loài người", để bắt mọi người phải theo cái suy nghĩ sai lầm của mình. Đã mù mà còn đòi dắt đường. Đó là Biên Kiến, một hình thức của ô nhiễm trong tâm hồn.
Thậm chí khi biết mình đã sai lầm, phải đổi hướng chạy theo những tiến bộ của nhân loại mà vẫn cố bám víu lấy biên kiến của mình rồi sáng tạo ra những từ ngữ què quặt. "Kinh-tế-thị-trường-theo định-hướng-xã-hội chủ-nghĩa" là một thí dụ. Ai cũng biết rằng "Kinh Tế Thị Trường" là một đường lối kinh tế theo chủ nghĩa Tư Bản (Kẻ thù của chủ nghĩa Cộng Sản); còn Xã hội chủ nghĩa là con đẻ của chủ nghĩa Cộng sản, chủ trương kinh tế tập trung).
Thế nhưng "dưới tấm bảng chỉ đường" của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa đất nước càng ngày càng lụn bại. Sau khi lên nắm chính quyền năm 1975, cường quyền đã đưa một đất nước đứng nhất nhì ở Đông Nam Á thành một trong những đất nước nghèo nhất thế giới (chỉ hơn một vài nước ở châu Phi). Để sửa đổi sai lầm đó, đám chóp bu CSBV cho thay đổi chính sách kinh tế thành Kinh Tế thị Trường. Nhưng để đở hỗ thẹn, hay để chống chế, nhà nước CS sáng tạo ra cụm từ "Kinh-tế-thị-trường-theo-định-hướng-xã-hội-chủ-nghĩa".
Hãy tưởng tượng đất nước Việt Nam như một cổ xe ngựa do hai con ngựa kéo với hai càng xe ở hai đầu. Con ngựa Xã Hội Chủ Nghĩa kéo đi về hướng Tây; con ngựa Kinh Tế Thị Trường kéo đi về hướng Đông. Kết quả cổ xe đó đi về hướng nào hay chỉ đứng lì một chỗ. Muốn cổ xe chạy được thì phải thí bớt một con ngựa. Thế là nhà nước CS cho giết chết con ngựa Xã Hội Chủ Nghĩa (nhưng không dám lên tiếng), vì trong mấy năm qua con ngựa này đã chứng tỏ không làm được việc. Giết chết nhưng không chịu mang xác con ngựa Xã Hội Chủ Nghĩa ra đem chôn. Vẫn đề con ngựa Kinh Tế Thị Trường ì ạch kéo cổ xe kèm theo cái xác chết của con ngựa Xã Hội Chủ Nghĩa ngay từ khi đổi mới năm 1986.
Đó là kết qủa sai lầm của Biên Kiến. Biết sai mà vẫn nắm chặt lấy chủ nghĩa của mình. Biên kiến là một yếu tố làm ô nhiễm tâm hồn. Muốn tẩy sạch ô nhiễm trong tâm phải dứt khoát dẹp bỏ biên kiến.
Luật Nhân quả: Luật nhân quả đối với đạo Phật rất quan trọng. Không có việc gì là không có nguyên nhân của nó. Lũ lụt, hạn hán là do đốn cây rừng, là do xây hồ thủy điện, là do xây dựng đê bao không đúng kỹ thuật... Tầng Ozone bị phá thủng là do con người thải những hóa chất độc hại lên không gian. Nước uống bị nhiễm độc là do con người thải ra sông, biển những chất phế thải ô uế của mình như phân, nước tiểu, độc tố hoá học của các xưởng kỹ nghệ. Không khí bị đầu độc là do khói từ xe hơi, từ các nhà máy sản xuất những mặt hàng cho con người hưởng thụ.
Ngoài ra, các nước Tư Bản giàu có hay tống khứ những hoá chất độc hại phế thải của họ đến các nước nghèo chậm tiến ở Á Phi. Họ tưởng rắng sẽ giải quyết được vấn đề ô nhiễm ở đất nước họ. Nhưng sự thật trái lại. Họ đã lầm, luật nhân quả cho biết rằng họ sẽ phải gánh chịu lấy những hậu qủa đó.
Thực tế cho thấy rằng sau khi những chất độc hại được đổ xuống vùng biển của các nước Á Phi thì cá tôm của những vùng đó bị nhiễm độc. Một số lớn cá tôm bị chết. Số còn lại bị nhiễm độc nặng, sẽ được ngư dân ở vùng đó đánh bắt và xuất cảng ngược lại vào các nước tiên tiến, và chính họ, những người đã đổ những chất độc hại xuống biển lại ăn những con cá tôm nhiễm độc đó. Gần đây những cơ quan như California Department of Health Services và những cơ quan tương tự đã đưa ra những khuyến cáo dân chúng đừng ăn những loại cá mà họ thấy rằng đã bị nhiễm độc. Rõ ràng là nhân nào quả nấy.
Để kết luận, vấn đề ô nhiễm đã được thế giới đặc biệt quan tâm trong thời gian gần đây. Những Hội nghị về giải quyết Ô Nhiễm môi sinh đã được Liên Hiệp Quốc tổ chức. Nhiều nhà khoa học trên thế giới ngày đêm dùi mài tìm những phương thức để giải quyết. Những nhà lãnh đạo Tôn giáo như Đức Đạt Lai Lạt Ma, đã kêu gọi nhân loại quan tâm đến vấn đề Ô Nhiễm. Các Ngài kêu gọi nhân loại để cứu độ MẸ ĐẤT vì quả tình trái đất này, hành tinh xanh này đã nuôi nấng ta như một bà Mẹ.
Xin được nêu lên những lời dạy của Đức Phật về nguyên nhân sâu xa của vấn đề ô nhiễm, đó là TÂM ô nhiễm của nhân loại. Muốn giải quyết vấn đề ô nhiễm nầy một cách rốt ráo không gì hơn là thanh lọc Tâm của con người.
         Bao lâu con người chưa nhận chân được giá trị của LUẬT NHÂN Quả,
         Bao lâu con người chưa gội rữa được lòng THAM vô tận,
         Bao lâu con người chưa gội rữa được những BIÊN KIẾN,
         Bao lâu con người chưa bỏ được lối sống ích kỹ, con người chưa có thể giải quyết được vấn đề Ô Nhiễm Môi Trường một cách rốt ráo.

             Hãy thanh tịnh Tâm để cứu độ Mẹ Đất.
Hãy thanh tịnh Tâm để cứu độ lấy hành tinh xanh của chúng ta.

Giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường là trách nhiệm chung của mọi người chúng ta chứ không phải là trách nhiệm riêng tư của những nhà khoa học, của những nhà lãnh đạo tôn giáo, hay của một đảng lãnh đạo.
Kỷ niệm mùa Quốc tang 2019


Wednesday, March 27, 2019

Toàn Cầu Hóa Ngôn Ngữ


Toàn Cầu Hóa Ngôn Ngữ

Danh từ toàn cầu hóa đã trở thành một từ quen thuộc trong ngôn ngữ của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Nói đến toàn cầu hóa, đa số đều liên tưởng đến sự toàn cầu hóa về kinh tế, chính trị, kỹ thuật, phát triển và môi sinh... Nhưng còn một yếu tố thiết nghĩ cần phải nhấn mạnh thêm trong lãnh vực văn hóa là vấn đề ngôn ngữ. Do đó, nội dung của bài viết nầy nói lên một vài mối quan tâm về sự toàn cầu hóa ngôn ngữ, hay đặc biệt hơn nữa, Anh ngữ trong hiện tại là một sinh ngữ quốc tế có khả năng áp đặt và ảnh hưởng lên văn hóa của các quốc gia trên toàn thế giới.

Việc xử dụng Anh ngữ trên thế giới

Trên thế giới, hiện có khoảng trên dưới 500 triệu người đang sử dụng tiếng Anh như là một quốc ngữ, và khoảng phân nửa dân số dùng Anh ngữ như là một ngôn ngữ thứ hai. Hiện tại, số lượng người đang học tiếng Anh tại các quốc gia tăng dần và theo dự báo sẽ có phân nửa nhân loại sẽ thông thạo tiếng Anh vào năm 2050. Sự áp dụng tiếng Anh vào chương trình giáo dục của các quốc gia đã trở thành một nhu cầu cần thiết trước tiến trình toàn cầu hoá ngày hôm nay.

Dù phải chấp nhận hay phủ nhận, Anh ngữ hoàn toàn đã được xem như một “linga franca” (ngôn ngữ giao tiếp) cho truyền thông toàn cầu. Câu “Anh ngữ là một sinh ngữ quốc tế” đã được Brian Paltridge phát biểu đầu tiên trong kỳ hội nghị về ngôn ngữ tại Đông Tây Học viện thuộc đại học Hawai năm 1978. Từ đó, có rất nhiều thảo luận đã được khơi mào về tính chất phức tạp trong việc xử dụng Anh ngữ như là một ngôn ngữ của thế giới.
Tính phức tạp nầy thể hiện trong cả hai phần lý thuyết và thực hành. Và cũng bắt nguồn từ đó, có rất nhiều bài viết trong các đại học lưu ý và cảnh báo về tính áp đặt của Anh ngữ. Dư luận quần chúng khắp nơi cũng bắt đầu lưu tâm đến vấn nạn nầy vì quan niệm rằng sự dung nạp Anh ngữ vào chính quốc có thể làm sói mòn các giá trị văn hoá của dân tộc bản địa.

Nói cho rốt ráo, việc sử dụng Anh ngữ đã tăng trưởng và dự phần trong hầu hết các lãnh vực như hội nghị, thương mãi, giáo dục, nghiên cứu, điện ảnh, âm nhạc, du lịch, và ngay cả trong các ngành đặc biệt như hàng không, hàng hải, tin học và truyền thông. Hiện tượng nầy đã xảy ra khắp toàn cầu từ các thành phố văn minh ở Âu châu cho tới các vùng thôn dã của các quốc gia ở Phi châu hay Á châu. Cho dù ở bất cứ nơi nào, cho dù có nhiều dị biệt về văn hóa, phong tục và tôn giáo, Anh ngữ cũng đã được sử dụng nhuần nhuyễn dưới hai dạng nói và viết để thông đạt đến các mục tiêu truyền thông. Tuy nhiên, nếu nhìn dưới một góc độ khác, nhiều người đã bắt đầu nghi ngờ sự tiện dụng của Anh ngữ sẽ trở thành một nhân tố tiêu cực trong tiến trình toàn cầu hóa của sinh ngữ nầy.

Kể từ các thế kỷ trước, và tương tự như các sinh ngữ thực dân như Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Anh ngữ cũng được sử dụng như một sinh ngữ chính ở các xứ thuộc địa. Học sinh ở những quốc gia không nói tiếng Anh, đã được cổ súy và khuyến khích học Anh ngữ song hành với các ngoại ngữ khác để được tiếp cận với văn minh và văn hóa Tây phương.

Việt Nam: Trong trường hợp Việt Nam, ảnh hưởng của văn hóa và ngôn ngữ Pháp rất quan trọng kể từ cuối thế kỷ 19. Vào giữa thế kỷ 20 có thể nói rằng hầu hết trí thức từ Bắc chí Nam đều xử dụng Pháp ngữ một cách rành rọt. Trong chương trình giáo dục trung học và đại học Việt Nam thời đó, Pháp ngữ là một ngôn ngữ chính dùng cho việc giảng dạy. Nhưng cho đến niên học năm 2000, trong kỳ thi tốt nghiệp trung học trên toàn quốc với tổng số 528.380 học sinh, chỉ còn 18.006 thí sinh chọn Pháp ngữ, trong khi đó có 471.585 thí sinh chọn Anh ngữ (và chỉ trên dưới 10 ngàn chọn Nga ngữ làm sinh ngữ chính). Nói tóm lại, Anh ngữ đã chiếm lĩnh toàn cầu trong hầu hết mọi lãnh vực trên hành tinh nầy.

Đối với Việt Nam, tâm lý chuộng Anh ngữ đã xâm nhập lên mọi sinh hoạt của người dân, đặc biệt nhất là ở các thành phố lớn. Hơn bao giờ hết, xã hội Việt Nam đã cho chúng ta thấy một hình ảnh rạch ròi nhất trong tinh thần chuộng Anh ngữ ngày hôm nay. Muốn đạt đến đỉnh cao địa vị kinh tế-chính trị-xã hội, ngoài tính “hồng hơn chuyên” người dân cần phải “thông thạo” Anh ngữ.

Hầu hết những cửa ngõ cho tương lai đều phải bắt đầu bằng Anh ngữ. Từ đó một số bản sắc dân tộc có thể lần lần biến mất do sự du nhập vào xã hội những “văn minh” Tây phương không phù hợp với tinh thần Việt Nam.

Thay lời kết

Để kết luận, dù chiếc huy chương nào cũng có hai mặt, nhưng thiết nghĩ cũng cần phải cân nhắc để có thể giữ thế thăng bằng cho xã hội. Nếu nhìn trên bình diện tích cực, hiện tượng toàn cầu hóa Anh ngữ đã giải quyết một phần nào vấn nạn nghèo đói ở một số quốc gia đang phát triển, làm cho đời sống của người dân ở các quốc gia nầy từng bước được nâng cao hơn về nhiều mặt.

Nhưng nếu nhìn về một khía cạnh khác, nếu chính quyền bản xứ không sáng suốt, tâm lý và dân trí người dân không được chuẩn bị và cân nhắc kỹ lưỡng thì việc tòan cầu hóa ngôn ngữ sẽ làm đão lộn cả hệ thống văn hóa-xã hội- kinh tế-chính trị của những quốc gia đang phát triển.

Việt Nam đã có truyền thống văn hóa lâu đời và bền vững. Nhưng lịch sử cũng đã chứng minh rằng, trong thời Pháp thuộc và trong chiến tranh gần đây xã hội-phong hóa Việt Nam đã bị ô nhiễm, đã có nhiều rạn nứt và xáo trộn không những vì hệ lụy của chiến tranh mà cũng vì tinh thần “vọng ngoại” trong đó Pháp ngữ ngày xưa và Anh ngữ ngày nay là một trong những thước đo giá trị trong nấc thang xã hội Việt Nam.

Sự xâm lăng của tiếng Anh đối với Việt Nam là một cơ hội và cũng là một nguy cơ có thể lấy mất bản chất dân tộc Việt. Tiếng Anh đồng nghĩa với sự tiến bộ, phát triển và tiếng Việt bị hiểu là lạc hậu, không thức thời theo suy nghĩ của một số không nhỏ người Việt ở hải ngoại cũng như ở quốc nội. Việc du nhập tiếng Anh vào Việt Nam là một con dao hai lưỡi. Biết sử dụng thì sẽ giúp cho đất nước tiến bộ rất nhiều, còn không sẽ mất bản sắc dân tộc như Phi Luật Tân. Qua quá trình hội nhập tiếng Anh trong vài thập niên gần đây, thiết nghĩ Việt Nam có nguy cơ trở thành Phi hơn là Nhật Bản. Một khi dân tộc bị đánh mất bản sắc của mình thì chỉ còn là con rối, chờ cho ngưới ta dựt giây mà thôi.

Ngôn ngữ quốc gia là hồn nước và phải cần được bảo vệ để tránh các áp đặt hay trấn áp như một số nhà ngôn ngữ học cảnh báo do sự toàn cầu hóa ngôn ngữ gây ra. Khái niệm về sự kiện nầy đã là một thực tế đang diển tiến trên toàn cầu. Do đó, muốn tránh khỏi sự cuốn hút của sức mạnh toàn cầu hóa trên, các quốc gia đang phát triển cần phải có một tầm nhìn dân tộc và nhân bản mới hy vọng bảo tồn được hồn nước cho dân tộc.

Nên nhờ rằng, dù Anh ngữ là một ngôn ngữ toàn cầu nhằm mục đích thông tin, trao đổi và đối thoại giữa các quốc gia đối tác trên thế giới. Nhưng điều đó không có nghĩa là chúng ta phải hội nhập và áp đặt hoàn toàn Anh ngữ trong giao dịch mà quên đi ngôn ngữ của chính quốc. Bỡi lẽ, ngôn ngữ chính quốc mới thực sự thể hiện được hồn nước và văn hoá dân tộc. Đó mới đích thực thể hiện tính đặc thù của từng quốc gia.

Đừng vì lợi nhuận trước mắt, đừng vì nhu cầu phát triển kinh tế cấp bách, và cũng đừng vì phải bảo vệ chiếc ghế quyền lực mà bỏ quên hồn nước thiêng liêng của dân tộc.

Mai Thanh Truyết
Trích t sách “TÔI” s xut bàn vào múa Vu Lan 2919