Monday, August 17, 2026

 

Nghị quyết 23 năm 2026 khác với Nghị quyết 36 năm 2004


Nghị quyết 36 đã đặt nền móng cho chính sách người Việt tại hải ngoại trước những chuyển biến mới thế giới. Nó đã nói đến các việc dưới đây, trích đoạn trong văn bản của nghị quyết:

  • Người Việt ở nước ngoài là bộ phận không tách rời của dân tộc;
  • Thu hút trí thức, doanh nhân;
  • Khuyến khích đầu tư;
  • Bảo hộ công dân;
  • Vận động cộng đồng;
  • Tăng cường cán bộ chuyên trách tại các cơ quan đại diện;
  • Tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước tới cộng đồng.

Như vậy, Nghị quyết 23 không bắt đầu từ con số 0, mà bắt đầu từ kết quả sau 22 thi hành NQ 36! Cái mới là mức độ tham vọng và phạm vi chiến lược đã được nâng lên “một tầm cao mới”. Bộ Ngoại giao cũng chính thức nói rằng Nghị quyết 23 là bước phát triển mới sau quá trình tổng kết hơn 20 năm thực hiện Nghị quyết 36 và các văn bản liên quan.

1. Cái mới thứ nhất: Từ “kiều bào” thành “nguồn lực chiến lược”

Đây có lẽ là thay đổi lớn nhất. Trước đây, trọng tâm tương đối rõ ràng là vận động kiều bào hướng về quê hương. Từ nay, NQ23 chuyển sang … kiều bào là nguồn lực chiến lược của quốc gia. Và Bộ Ngoại giao còn nhấn mạnh đến việc kiều bào là “cầu nối giữa Việt Nam với thế giới.”

Điều này có hai mặt, một mặt, Việt Nam muốn khai thác chất xám; khoa học kỹ thuật; nguồn vốn; kinh nghiệm quản trị; quan hệ quốc tế; mạng lưới doanh nghiệp; khả năng kết nối với các trung tâm công nghệ lớn trên thế giới. Đây là một chiến lược rất bình thường của một quốc gia có những cộng đồng dân tộc (diaspora) lớn.

Nhưng mặt thứ hai, khi một cộng đồng được xác định là “nguồn lực chiến lược” của quốc gia, Nhà nước sẽ có động cơ lớn hơn để xây dựng mạng lưới, nhận diện nhân sự, kết nối, phân loại và huy động cộng đồng.


Chính ở đây mới xuất hiện câu hỏi TNR.

2. Cái mới thứ hai: Chuyển từ “vận động” sang “xây dựng mạng lưới”

Đây là điểm cần đặc biệt lưu ý. Nghị quyết 36 đã nói đến vận động và tiếp xúc cộng đồng. Nhưng Nghị quyết 23 nhấn mạnh hơn đến đến những đối tượng chuyên biệt rõ ràng: mạng lưới; hội đoàn; đội ngũ nòng cốt; thế hệ trẻ; trí thức; chuyên gia; doanh nhân; cơ quan đại diện; kết nối trong nước và ngoài nước.

Bộ Ngoại giao ngay sau khi nghị quyết được ban hành đã tổ chức hội nghị triển khai và nhấn mạnh việc “phát huy mạnh mẽ hơn nữa vai trò của các Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài” và nhanh chóng cụ thể hóa nghị quyết thành chương trình hành động. Đây là sự thay đổi từ tiếp cận cộng đồng - community outreach, sang một mô hình gần hơn với sự tham gia của người hải ngoại có tổ chức - organized diaspora engagement. Từ đó,làm cho khả năng tác động đến cộng đồng lớn hơn.

3. Cái mới thứ ba: “Đội ngũ nòng cốt”

Đây là một cái mới mà cộng đồng Việt Nam ở Mỹ nên đặc biệt quan tâm. Nếu chỉ nói “hỗ trợ cộng đồng” thì rất bình thường, nhưng nói:”“phát hiện, bồi dưỡng đội ngũ nòng cốt, nhất là thế hệ trẻ”, thì vấn đề sẽ bước sang một sắc thái tổ chức chính trị rõ hơn. Chúng ta có thể hiểu rất tích cực là truy tìm những người trẻ có năng lực để làm cầu nối văn hóa, khoa học, kinh tế Việt Nam - Hoa Kỳ. Điều đó cũng có nghĩa là có thể hiểu theo hướng chính trị là … xây dựng một lớp nhân sự có khả năng truyền đạt và bảo vệ quan điểm của Hà Nội trong cộng đồng diaspora của người Việt hải ngoại.

Cả hai cách hiểu trên đều có thể xảy ra, và chỉ có thực tế triển khai mới cho chúng ta biết cách hiểu nào là chính xác.

4. Cái mới thứ tư: Dữ liệu về người Việt Nam ở nước ngoài

Đây là điểm nhạy cảm nhất đứng về mặt an ninh. Nghị quyết 23 chủ trương xây dựng, liên thông và vận hành cơ sở dữ liệu về người Việt Nam ở nước ngoài. (Chúng tôi vẫn chưa hiểu rõ chữ “liên thông” ngầm có ý nghĩa gì? Theo Google, chữ liên thông được hiểu như:”Chữ liên thông có nghĩa gốc là nối liền, thông suốt và gắn kết liên tục với nhau giữa các bộ phận, hệ thống hoặc cấp học mà không bị gián đoạn. Từ này được dùng phổ biến trong giáo dục, hành chính và toán học.”)


Đây là một bước tiến rất lớn về năng lực quản trị về mặt chính trị. Nếu cơ sở dữ liệu chỉ phục vụ khách hàng như: lãnh sự; hộ chiếu; quốc tịch; bảo hộ công dân; đầu tư; chuyên gia; doanh nghiệp … thì hoàn toàn bình thường.

Nhưng hãy thử đặt câu hỏi, nếu cơ sở dữ liệu đó chứa thông tin chính trị thì sao? Ví dụ: Ai là nhà hoạt động? Ai tham gia hội đoàn nào? Ai chống chính quyền? Ai viết bài công kích Đảng?  Ai tổ chức biểu tình chống Đảng? Ai tài trợ tổ chức chống đối Đảng? Ai có quan hệ với ai ở trong nước? ... Khi đó, một cơ sở dữ liệu hành chính có thể biến thành cơ sở dữ liệu tình báo/chính trị để từ đó, Đảng có thể theo sát từng cá nhân “phản động”!

Đây là lý do tại sao cách vận hành thực tế trong khi thi hang NQ23 quan trọng hơn bản thân các câu chữ đề ra trong nghị quyết.

5. Cái mới thứ năm: “Bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa”

Đây là cụm từ có ý nghĩa an ninh rất rõ. Nó không còn đơn thuần là nhắm vào văn hóa Việt Nam, đầu tư, từ thiện, khoa học, mà đưa cộng đồng ở nước ngoài vào không gian bảo vệ an ninh quốc gia. Điều đó có thể hoàn toàn hợp lý nếu hiểu là người Việt ở nước ngoài giúp quảng bá chủ quyền Việt Nam, chống thông tin sai lệch về Việt Nam, đóng góp cho an ninh quốc gia.

Nhưng, nếu từ góc nhìn Hoa Kỳ, câu hỏi sẽ là “Bảo vệ Tổ quốc từ xa” được thực hiện trên đất Mỹ bằng phương thức nào? Nếu bằng diễn thuyết, vận động công khai, viết báo, vận động hành lang hợp pháp thì không có vấn đề đặc biệt. Nhưng nếu bằng cách theo dõi, đe dọa, cưỡng ép người Mỹ hoặc người Mỹ gốc Việt, thì đó là Đàn áp xuyên quốc gia - TNR. FBI định nghĩa TNR chính là khi một chính phủ nước ngoài vượt qua biên giới để “đe dọa, bịt miệng, cưỡng ép, quấy rối hoặc gây hại” (intimidate, silence, coerce, harass or harm) cộng đồng Việt di dân lớn (diaspora), hoặc cộng đồng người Việt tị nạn tại tại Hoa Kỳ.

7. Cái mới thứ bảy: Đây là điểm nguy hiểm nhất: “Quan điểm khác biệt” và “Quan điểm thù địch”

Đây chính là “nút thắt” chính trị của Nghị quyết 23. Tuy nghị quyết có ngôn ngữ có vẻ mở hơn trước, như việc lắng nghe cả những quan điểm khác biệt của người hải ngoại, nhưng đồng thời vẫn duy trì khái niệm về “quan điểm sai trái, thù địch”, và các hoạt động bị coi là “chống phá đất nước.”

Vấn đề không phải là Nhà nước có quyền chống hoạt động bạo lực hay gián điệp hay không, nhưng vấn đề là: Ai định nghĩa “chống phá” nếu việc phê bình chính sách Việt Nam sai trái hoàn toàn khác với vấn đề chống phá. Nhưng nếu NQ23 coi người Việt hải ngoại phê bình Đảng, cùng phản đối chính sách và biểu tình ôn hòa là “chống phá”, thì đây mới là một nguy cơ rất lớn, vì người Việt tại Hoa Kỳ có quyền tự do ngôn luận và


hội họp theo luật Hoa Kỳ.

Và FBI nói rất rõ rằng TNR thường nhắm tới những người chỉ trích chính quyền nước ngoài hoặc những cộng đồng người Việt bất đồng chính kiến hay lưu vong – dissident or exile. Như vậy Nghị quyết 23 có phải “một kế hoạch đàn áp xuyên quốc gia - TNR” không?

Đứng về mặt văn bản, chúng ta chưa có đủ bằng cứ để kết luận NG23 là một chính sách đàn áp xuyên quốc gia của FBI, nhưng chúng ta có thể nói, có một số công cụ xử dụng trong nghị quyết cho thấy Việt Nam có thể sử dụng việc ảnh hưởng ngoại giao và thực hiện chiến dịch TNR nếu bị lạm dụng. Và đây mới là điều cần theo dõi cung cách hành xử và áp dụng của Việt Nam ở hải ngoại đối với người Việt nơi đây.

8. Nhận xét của người viết

Nghị quyết 23 muốn đạt được hai mục tiêu cùng lúc:

·         “Hòa hợp dân tộc – gác lại quá khứ – hướng tới tương lai.”

·         “Đấu tranh trực diện với các quan điểm sai trái, thù địch.”


Hai mục tiêu này có thể cùng tồn tại, nhưng cho đến hiện tại sau 22 năm thực hiện NQ36, Hà Nội hầu như thất bại trong mục tiêu đầu về hòa giải hòa hợp, may ra, có vài “con nhạn lạc đàn” nối gót theo bước chân của đảng vì… vì cái “bả” vinh hoa và vật chất.

Người Việt hải ngoại có thể yêu nước Việt, nhưng không đồng ý với nhà cầm  quyền hiện tại qua việc điều hành quốc gia bằng chuyên chính vô sản. Và chắc chắn, đối với thế hệ trẻ Việt Nam, thế hệ Gen Z ở Hoa Kỳ, họ sẽ phủ nhận hoàn toàn đường hướng điều hành quốc gia của Việt Nam hiện tại.

FBI không nói rằng mọi hoạt động áp đặt của chính phủ nước ngoài đối với cộng đồng Việt hải ngoại đều là TNR, nhưng ngược lại, họ tập trung lưu ý vào hành vi cưỡng ép, đe dọa, bịt tiếng nói hoặc gây hại của nhà cầm quyền Việt Nam đối với người Mỹ gốc Việt tại Mỹ.

Rõ ràng là, nếu một người Mỹ gốc Việt viết bài phản đối chính quyền Việt Nam, bị cơ quan hay người đại diện Việt Nam theo dõi, và gia đình tại Việt Nam bị gây áp lực, và người đó bị đe dọa phải ngừng hoạt động v.v… Câu chuyện đã chuyển sang TNR.

Và nếu có hành vi cưỡng bức trên lãnh thổ Hoa Kỳ, FBI có lý do để xem đó là vấn đề thực thi pháp luật của Mỹ.

Giả sử một người Việt Mỹ nói: “Tôi chống chính quyền cộng sản Việt Nam.” Điều đó tự nó không làm người ấy trở thành đối tượng an ninh của Hoa Kỳ. Ngược lại, nếu một chính phủ nước ngoài cố tìm cách làm cho người đó im tiếng bằng các biện pháp cưỡng ép trên lãnh thổ Mỹ, thì chính phủ Hoa Kỳ mới là bên có quyền bảo vệ người đó.

FBI nói rất rõ những người ở Hoa Kỳ được bảo vệ các quyền và tự do của họ, dù có bất cứ quốc tịch nào, không bắt buộc phải có quốc tịch Mỹ; FBI khuyến khích báo cáo các trường hợp nghi ngờ TNR. Điều này rất quan trọng đối với cộng đồng Việt Nam. Không cần phải là công dân Hoa Kỳ mới được bảo vệ khỏi TNR trên đất Mỹ.

Nghị quyết 23 sẽ được kiểm nghiệm không phải bằng lời hứa “lắng nghe quan điểm khác biệt”, mà bằng cách Nhà nước Việt Nam đối xử với những người Việt ở nước ngoài có quan điểm khác biệt như thế nào.

Và đó chính là ranh giới giữa hòa hợp dân tộc và đàn áp xuyên quốc gia.

Mai Thanh Truyết

Con đường Việt Nam

Houston – Tháng 8-2026

 

No comments:

Post a Comment