Nghị quyết 23 năm 2026 khác với Nghị
quyết 36 năm 2004
Nghị quyết 36 đã đặt nền móng cho chính sách người Việt tại hải ngoại trước những chuyển biến mới thế giới. Nó đã nói đến các việc dưới đây, trích đoạn trong văn bản của nghị quyết:
- Người Việt ở nước ngoài là bộ
phận không tách rời của dân tộc;
- Thu hút trí thức, doanh nhân;
- Khuyến khích đầu tư;
- Bảo hộ công dân;
- Vận động cộng đồng;
- Tăng cường cán bộ chuyên trách
tại các cơ quan đại diện;
- Tuyên truyền chủ trương, chính
sách của Đảng và Nhà nước tới cộng đồng.
Như
vậy, Nghị quyết 23 không bắt đầu từ con số 0, mà bắt đầu từ kết quả sau
22 thi hành NQ 36! Cái mới là mức độ tham vọng và phạm vi chiến lược đã được
nâng lên “một tầm cao mới”. Bộ Ngoại giao cũng chính thức nói rằng Nghị quyết
23 là bước phát triển mới sau quá trình tổng kết hơn 20 năm thực hiện Nghị
quyết 36 và các văn bản liên quan.
1. Cái mới thứ nhất: Từ “kiều bào”
thành “nguồn lực chiến lược”
Đây
có lẽ là thay đổi lớn nhất. Trước đây, trọng tâm tương đối rõ ràng là vận
động kiều bào hướng về quê hương. Từ
nay, NQ23 chuyển sang … kiều bào là nguồn lực chiến lược của quốc
gia. Và Bộ Ngoại giao còn nhấn mạnh đến việc kiều bào là “cầu nối giữa
Việt Nam với thế giới.”
Điều
này có hai mặt, một mặt, Việt Nam muốn khai thác chất xám; khoa học kỹ thuật; nguồn
vốn; kinh nghiệm quản trị; quan hệ quốc tế; mạng lưới doanh nghiệp; khả năng
kết nối với các trung tâm công nghệ lớn trên thế giới. Đây là một chiến lược
rất bình thường của một quốc gia có những cộng đồng dân tộc (diaspora) lớn.
Nhưng mặt thứ hai, khi một cộng đồng được xác định là “nguồn lực chiến lược”
của quốc gia, Nhà nước sẽ có động cơ lớn hơn để xây dựng mạng lưới, nhận
diện nhân sự, kết nối, phân loại và huy động cộng đồng.
Chính ở đây mới xuất hiện câu hỏi TNR.
2. Cái mới thứ hai: Chuyển từ “vận
động” sang “xây dựng mạng lưới”
Đây
là điểm cần đặc biệt lưu ý. Nghị quyết 36 đã nói đến vận động và tiếp xúc cộng
đồng. Nhưng Nghị quyết 23 nhấn mạnh hơn đến đến những đối tượng chuyên biệt rõ
ràng: mạng lưới; hội đoàn; đội ngũ nòng cốt; thế hệ trẻ; trí thức; chuyên gia;
doanh nhân; cơ quan đại diện; kết nối trong nước và ngoài nước.
Bộ
Ngoại giao ngay sau khi nghị quyết được ban hành đã tổ chức hội nghị triển khai
và nhấn mạnh việc “phát huy mạnh mẽ hơn nữa vai trò của các Cơ quan đại diện
Việt Nam ở nước ngoài” và nhanh chóng cụ thể hóa nghị quyết thành chương
trình hành động. Đây là sự thay đổi từ tiếp cận cộng đồng - community outreach, sang một mô hình
gần hơn với sự tham gia của người hải ngoại có tổ chức - organized diaspora engagement. Từ đó,làm cho khả năng tác động đến cộng đồng lớn hơn.
3. Cái mới thứ ba: “Đội ngũ nòng
cốt”
Đây
là một cái mới mà cộng đồng Việt Nam ở Mỹ nên đặc biệt quan tâm. Nếu chỉ nói “hỗ
trợ cộng đồng” thì rất bình thường, nhưng nói:”“phát hiện, bồi dưỡng đội ngũ
nòng cốt, nhất là thế hệ trẻ”, thì
vấn đề sẽ bước sang một sắc thái tổ chức chính trị rõ hơn. Chúng
ta có thể hiểu rất tích cực là truy tìm những người trẻ có năng lực để làm cầu
nối văn hóa, khoa học, kinh tế Việt Nam - Hoa Kỳ. Điều đó cũng có nghĩa là có
thể hiểu theo hướng chính trị là … xây dựng một lớp nhân sự có khả năng truyền
đạt và bảo vệ quan điểm của Hà Nội trong cộng đồng diaspora của người Việt hải
ngoại.
Cả hai cách hiểu trên đều có thể xảy ra, và chỉ có thực tế
triển khai mới cho chúng ta biết cách hiểu nào là chính xác.
4. Cái mới thứ tư: Dữ liệu về người
Việt Nam ở nước ngoài
Đây
là điểm nhạy cảm nhất đứng về mặt an ninh. Nghị quyết 23 chủ trương xây
dựng, liên thông và vận hành cơ sở dữ liệu về người Việt Nam ở nước ngoài. (Chúng tôi vẫn chưa hiểu rõ chữ “liên thông”
ngầm có ý nghĩa gì? Theo Google, chữ liên thông được hiểu như:”Chữ liên
thông có nghĩa gốc là nối liền, thông suốt và gắn kết liên tục
với nhau giữa các bộ phận, hệ thống hoặc cấp học mà không bị gián đoạn. Từ này
được dùng phổ biến trong giáo dục, hành chính và toán học.”)
Đây là một bước tiến rất lớn về năng lực quản trị về mặt chính trị. Nếu cơ sở dữ liệu chỉ phục vụ khách hàng như: lãnh sự; hộ chiếu; quốc tịch; bảo hộ công dân; đầu tư; chuyên gia; doanh nghiệp … thì hoàn toàn bình thường.
Nhưng
hãy thử đặt câu hỏi, nếu cơ sở dữ liệu đó chứa thông tin chính trị
thì sao? Ví dụ: Ai là nhà hoạt động? Ai tham gia hội đoàn
nào? Ai chống chính quyền? Ai viết bài công kích Đảng? Ai tổ chức biểu tình chống Đảng? Ai tài trợ tổ
chức chống đối Đảng? Ai có quan hệ với ai ở trong nước? ... Khi đó, một cơ sở
dữ liệu hành chính có thể biến thành cơ sở dữ liệu tình báo/chính trị để
từ đó, Đảng có thể theo sát từng cá nhân “phản động”!
Đây
là lý do tại sao cách vận hành thực tế trong khi thi hang NQ23 quan
trọng hơn bản thân các câu chữ đề ra trong nghị quyết.
5. Cái mới thứ năm: “Bảo vệ Tổ quốc
từ sớm, từ xa”
Đây
là cụm từ có ý nghĩa an ninh rất rõ. Nó không còn đơn thuần là nhắm vào văn hóa
Việt Nam, đầu tư, từ thiện, khoa học, mà đưa cộng đồng ở nước ngoài vào không
gian bảo vệ an ninh quốc gia. Điều đó có thể hoàn toàn hợp lý nếu hiểu là người
Việt ở nước ngoài giúp quảng bá chủ quyền Việt Nam, chống thông tin sai lệch về
Việt Nam, đóng góp cho an ninh quốc gia.
Nhưng,
nếu từ góc nhìn Hoa Kỳ, câu hỏi sẽ là “Bảo vệ Tổ quốc từ xa” được thực hiện
trên đất Mỹ bằng phương thức nào? Nếu bằng diễn thuyết, vận động công khai,
viết báo, vận động hành lang hợp pháp thì không có vấn đề đặc biệt. Nhưng nếu
bằng cách theo dõi, đe dọa, cưỡng ép người Mỹ hoặc người Mỹ gốc Việt, thì đó là
Đàn áp xuyên quốc gia - TNR. FBI định nghĩa TNR chính là khi một chính
phủ nước ngoài vượt qua biên giới để “đe dọa, bịt miệng, cưỡng ép, quấy rối
hoặc gây hại” (intimidate, silence,
coerce, harass or harm) cộng đồng Việt di dân lớn (diaspora), hoặc cộng
đồng người Việt tị nạn tại tại Hoa Kỳ.
7. Cái mới thứ bảy: Đây là điểm nguy
hiểm nhất: “Quan điểm khác biệt” và “Quan điểm thù địch”
Đây chính
là “nút thắt” chính trị của Nghị quyết 23. Tuy nghị quyết có ngôn ngữ có
vẻ mở hơn trước, như việc lắng nghe cả những quan điểm khác biệt của người hải
ngoại, nhưng đồng thời vẫn duy trì khái niệm về “quan điểm sai trái, thù
địch”, và các hoạt động bị coi là “chống phá đất nước.”
Vấn đề không phải là Nhà nước có quyền chống hoạt động bạo lực hay gián điệp hay không, nhưng vấn đề là: Ai định nghĩa “chống phá” nếu việc phê bình chính sách Việt Nam sai trái hoàn toàn khác với vấn đề chống phá. Nhưng nếu NQ23 coi người Việt hải ngoại phê bình Đảng, cùng phản đối chính sách và biểu tình ôn hòa là “chống phá”, thì đây mới là một nguy cơ rất lớn, vì người Việt tại Hoa Kỳ có quyền tự do ngôn luận và
hội họp theo luật Hoa Kỳ.
Và
FBI nói rất rõ rằng TNR thường nhắm tới những người chỉ trích chính quyền
nước ngoài hoặc những cộng đồng người Việt bất đồng chính kiến hay lưu vong
– dissident or exile. Như vậy Nghị quyết 23 có phải “một kế hoạch đàn áp xuyên quốc gia - TNR”
không?
Đứng về mặt văn bản, chúng ta chưa
có đủ bằng cứ để kết luận NG23 là một chính sách đàn áp xuyên quốc gia của FBI,
nhưng chúng ta có thể nói, có một số công cụ xử dụng trong nghị quyết cho thấy
Việt Nam có thể sử dụng việc ảnh hưởng ngoại giao và thực hiện chiến dịch TNR
nếu bị lạm dụng. Và đây mới là điều cần theo dõi cung cách hành xử và áp dụng
của Việt Nam ở hải ngoại đối với người Việt nơi đây.
8.
Nhận xét của người viết
Nghị
quyết 23 muốn đạt được hai mục tiêu cùng lúc:
·
“Hòa hợp dân tộc – gác lại quá khứ –
hướng tới tương lai.”
·
“Đấu tranh trực diện với các quan
điểm sai trái, thù địch.”
Hai
mục tiêu này có thể cùng tồn tại, nhưng cho đến hiện tại sau 22 năm thực
hiện NQ36, Hà Nội hầu như thất bại trong mục tiêu đầu về hòa giải hòa hợp, may
ra, có vài “con nhạn lạc đàn” nối gót theo bước chân của đảng vì… vì cái “bả”
vinh hoa và vật chất.
Người
Việt hải ngoại có thể yêu nước Việt, nhưng không đồng ý với nhà cầm quyền hiện tại qua việc điều hành quốc gia
bằng chuyên chính vô sản. Và chắc chắn, đối với thế hệ trẻ Việt Nam, thế hệ Gen
Z ở Hoa Kỳ, họ sẽ phủ nhận hoàn toàn đường hướng điều hành quốc gia của Việt
Nam hiện tại.
FBI
không nói rằng mọi hoạt động áp đặt của chính phủ nước ngoài đối với cộng đồng
Việt hải ngoại đều là TNR, nhưng ngược lại, họ tập trung lưu ý vào hành vi
cưỡng ép, đe dọa, bịt tiếng nói hoặc gây hại của nhà cầm quyền Việt Nam đối
với người Mỹ gốc Việt tại Mỹ.
Rõ ràng là, nếu một
người Mỹ gốc Việt viết bài phản đối chính quyền Việt Nam, bị cơ quan hay người
đại diện Việt Nam theo dõi, và gia đình tại Việt Nam bị gây áp lực, và người đó
bị đe dọa phải ngừng hoạt động v.v… Câu chuyện đã chuyển sang TNR.
Và
nếu có hành vi cưỡng bức trên lãnh thổ Hoa Kỳ, FBI có lý do để xem đó là vấn đề
thực thi pháp luật của Mỹ.
Giả
sử một người Việt Mỹ nói: “Tôi chống chính quyền cộng sản Việt Nam.” Điều đó tự
nó không làm người ấy trở thành đối tượng an ninh của Hoa Kỳ. Ngược lại,
nếu một chính phủ nước ngoài cố tìm cách làm cho người đó im tiếng bằng các
biện pháp cưỡng ép trên lãnh thổ Mỹ, thì chính phủ Hoa Kỳ mới là bên có
quyền bảo vệ người đó.
FBI
nói rất rõ những người ở Hoa Kỳ được bảo vệ các quyền và tự do của họ, dù có bất
cứ quốc tịch nào, không bắt buộc phải có quốc tịch Mỹ; FBI khuyến khích báo
cáo các trường hợp nghi ngờ TNR. Điều này rất quan trọng đối với cộng đồng Việt
Nam. Không cần phải là công dân Hoa Kỳ mới được bảo vệ khỏi TNR trên đất Mỹ.
Nghị
quyết 23 sẽ được kiểm nghiệm không phải bằng lời hứa “lắng nghe quan điểm khác
biệt”, mà bằng cách Nhà nước Việt Nam đối xử với những người Việt ở nước ngoài có
quan điểm khác biệt như thế nào.
Và đó
chính là ranh giới giữa hòa hợp dân tộc và đàn áp xuyên quốc gia.
Mai Thanh Truyết
Con đường Việt
Nam
Houston – Tháng
8-2026
No comments:
Post a Comment