Con đường Gs Nguyễn Ngọc Huy, Anh Ba đi
Phần VI – Đảng
Tân Đại Việt là một think tank qua GS NNH?
Tiền đề cho bài viết, nếu đặt Đảng Tân Đại Việt trong tương
quan với các thinktank chính trị hiện
đại ở Hoa Kỳ như Brookings, Heritage…, chúng ta sẽ thấy một điểm rất thú
vị: Tân Đại Việt “giống think tank về mặt trí tuệ”, nhưng
“khác think tank về mặt quyền lực và cấu trúc thể chế”. So sánh hai
think tank Mỹ và Tân ĐV, có nhiều điểm khác nhau căn bản được lần lượt trinh
bày đười đây:
1- Mục tiêu: “tạo
đảng để nắm quyền” vs “tạo chính sách để ảnh hưởng quyền lực”
Với Tân Đại Việt là một đảng chính
trị thực thụ, tức nhiên mục tiêu cuối cùng là tham gia, định hình hoặc
giành quyền lực quốc gia; do đó, tư tưởng và quan điểm chính trị luôn luôn kết
nối trực tiếp với công cuộc vận động chính trị. Trong lúc đó, thinktank Mỹ (ví dụ Brookings Institution,
Heritage Foundation) chỉ là một nhóm “suy nghĩ về chính trị” không nhắm
mục đích tranh cử để nắm lấy quyền bính, không trực tiếp giành quyền lực, và
mục tiêu đích thực là gây ảnh hưởng lên chính sách công của quốc gia.
Tóm
lại, sự khác biệt cốt lõi giữa Đảng Tân Đại Việt – một “diễn viên chính trị - political actor” và
Thinktank Mỹ - một “người ảnh hưởng chính sách - policy influencer”
là một bên đang tranh đấu để vào chính trường và một bên chuyển tải những chính
sách chính trị cho những nhà quản lý đát nước.
2- Về cung cách tiếp
cận quyền lực
Tân Đại Việt đã và đang đi theo con đường đảng phái, xây dựng cán bộ chính trị, đào tạo
người tham gia hệ thống chính trị nhằm mục đích… nắm chính quyền. Còn Thinktank vẫn tiếp tục đi qua việc
nghiên cứu học thuật, chính trị, và xã hội, làm cố vấn cho chính phủ. Hay nói
một cách khác, Tân Đại Việt muốn đi vào
nhà nước, còn Thinktank muốn đi
vào các chính sách hay quyết định của chính phủ.
3- Về cấu trúc tổ
chức
Tân Đại Việt mang tính “đảng trí thức”, có kỷ luật chính trị, và có hệ
thống lãnh đạo nội bộ tương đối thống nhứt khi GS Huy còn hiện tiền. Tất cả, phụ
thuộc mạnh vào trung tâm tư tưởng của Nguyễn Ngọc Huy. Ngược lại, Thinktank đặt nền tảng trên cung cách tổ
chức phi đảng phái (đa số) với nhân sự linh hoạt, dựa vào các chuyên gia, học
giả, nghiên cứu viên, và không có “kỷ luật đảng” theo nghĩa chính trị. Thành
phần “ra, vào” Thinktank hoàn toàn không có sự gò ép nào cả, cá nhân được mời
vào, và khi “cảm thấy” không còn thích hợp với thinktank nữa, họ rời khỏi, hoàn
toàn không có sự xung đột hay bất hòa nào cả!
3- Về mối liên quan
với chính quyền
Tân Đại Việt trong hoàn cảnh Việt Nam Cộng Hòa, đôi khi có lúc đối lập,
có lúc tham gia chính trường. Tất cả mọi giao tiếp giữa đàng và nhà cầm quyền
đều mang tính “chính trị cạnh tranh” hơn là “chính trị đối đầu cực đoan”. Đối
lại, Thinktank Mỹ làm việc trực
tiếp với Quốc hội, Tòa Bạch Ốc, các Ban Bộ Ngành, và hoàn toàn không cạnh tranh
quyền lực chính trị. Think tank là một “bộ não bên
ngoài nhà nước”, còn Tân Đại Việt là một “tổ chức muốn trở thành một phần của chính
phủ”.
4- Về bản
chất của một sản phẩm chính trị
Tân Đại Việt là một đảng có cương lĩnh chính trị, có chính sách đào tạo cán bộ, có định
hướng quốc gia rõ ràng, cũng như việc xây dựng một hệ tư tưởng dân chủ quốc gia
nghiêm chỉnh. Trong lúc đó, Thinktank
chỉ là một nhóm chuyên viên nghiên cứu chuyên sâu, tập họp lại để nặn ra những
báo cáo, kiến nghị về chính sách quốc gia, đề nghị cải sửa luật lệ hay các
chính sách cải cách kinh tế v.v…
Tóm lại, Tân Đại Việt
sản xuất “ý thức hệ và nhân sự”, còn Thinktank sản xuất “chính sách kỹ thuật và
kinh tế.
5- Về tính bền vững thể chế
Đối với Thinktank Mỹ, họ có thể tồn tại hàng chục đến hàng trăm năm, vì không phụ thuộc vào
một cá nhân, có hệ thống tài trợ, đại học, chính phủ hỗ trợ gián tiếp, và việc
thay thế lãnh đạo vẫn hoạt động bình thường vả diễn ra theo một chu kỳ nhất
định do Nhóm quyết định. Còn đối với Tân
Đại Việt, họ phụ thuộc nhiều vào “trục tư tưởng trung tâm”, thiếu hệ
thống tài chính và có một thể chế ổn định như Mỹ, và luôn sống trong một môi
trường chính trị không ổn định như chiến tranh, lưu vong v.v…
Vì
vậy sau khi GS Nguyễn Ngọc Huy qua đời, hệ thống mất “bộ não trung tâm”, từ đó,
khó tự tái tạo lại như lúc ban đầu.
6- Kết luận
Chúng
ta có thể tóm gọn, Tân
Đại Việt là “một đảng chính trị có tính thinktank”,
trong khi Thinktank Mỹ là “một thinktank nhưng không phải là đảng chính trị”. Trường hợp nầy cho thấy một quy tắc bất
thành văn là khi một tổ chức càng tiến gần đến “trí thức hóa chính trị”, nếu
không có căn bản vững chắc về thể chế xã hội vững mạnh, thường càng phụ thuộc
vào cá nhân sáng lập. Ngược lại, nếu có một thể chế mạnh như Mỹ, việc trí thức
hóa như các Nhóm Thinktank giúp thể chế bền vững hơn và có thể tồn tại hàng trăm
năm. Trong trường hợp Việt Nam cả trong thời chiến hay hậu chiến hiện tại, đều
thể hiện một thể chế yếu đầy biến động, việc trí thức hóa cán bộ dễ trở thành hệ
thống phụ thuộc cá nhân.
Về GS Nguyễn Ngọc Huy, ngay cả khi tình hình quân sự ngày càng bất lợi, GS Huy vẫn nhấn mạnh rằng sự phát triển của Việt Nam về lâu dài phải
dựa trên sự hòa giải dân tộc, phát triển giáo dục, nâng cao dân trí, xây dựng
thể chế dân chủ, và hội nhập vào thế giới. Đó là những chủ đề ông
tiếp tục nghiên cứu và viết sau năm 1975.
Nhìn từ góc độ lịch sử, có thể thấy vai trò của GS Nguyễn
Ngọc Huy có cả thành công lẫn giới hạn.
·
Thành công của ông là xây dựng được một hệ thống tư tưởng khá hoàn
chỉnh về quốc gia, dân chủ và pháp quyền, có ảnh hưởng trong giới trí thức và
một số thành hhần phong trào quốc gia.
·
Giới hạn là những tư tưởng đó không chuyển hóa thành sức mạnh chính
trị đủ lớn trong tình trạng chiến tranh. Tân Đại Việt không trở thành một lực
lượng có ảnh hưởng quyết định đến chính sách của Việt Nam Cộng Hòa, và cũng
không đủ khả năng cạnh tranh với các trung tâm quyền lực quân sự hoặc hành pháp
lúc bấy giờ.
Vì
vậy, nhiều nhà nghiên cứu xem GS Nguyễn Ngọc Huy trước hết là một nhà tư tưởng chính trị hơn là một nhà lãnh đạo quyền lực. Di sản của ông nằm chánh yếu ở các công trình nghiên cứu về dân chủ,
hiến pháp, chủ nghĩa dân tộc và nhà nước pháp quyền, hơn là ở những thành tựu
tổ chức hay điều hành một đảng chính trị trong thực tiễn. Thực ra,
đây là một nhận xét khá phổ biến trong giới nghiên cứu về lịch sử chính trị
Việt Nam cận đại. Nhiều người cho rằng Nguyễn Ngọc Huy nổi bật với vai trò "thinktank", nhà chiến lược tư
tưởng, nhà hoạch định chính sách hơn là một lãnh tụ chính trị theo nghĩa huy động và điều hành quyền lực.
Trong
khi nhiều chính khách thời chiến tập trung vào các quyết định quân sự và ngoại
giao ngắn hạn, GS Huy đặt câu hỏi dài hạn như: Việt Nam cần một thể chế như thế nào
sau chiến tranh? Làm sao xây dựng một nền dân chủ ổn định? Vai trò của hiến
pháp là gì? Làm thế nào để phát triển nguồn nhân lực?
Đó là
những câu hỏi về việc xây dựng một thể chế, vốn là trọng tâm của nghiên cứu
chính sách. Tuy nhiên, ông không chỉ là một thinktank. Nếu
chỉ gọi GS Huy là "thinktank" thì cũng chưa phản ảnh đầy đủ. Vì Ông
còn là lãnh đạo của Đảng Tân Đại Việt, là người xây dựng đường lối chính trị
cho đảng, là người đào tạo cán bộ, và là người đại diện đảng trong nhiều diễn
đàn quốc tế. Nói cách khác, ông không chỉ nghiên cứu mà còn tham gia đời sống
chính trị. Tuy nhiên, trọng tâm đóng góp của Ông
vẫn nghiêng về tư tưởng và chiến lược
hơn là điều hành quyền lực.
Nếu
so sánh với mô hình hiện đại, có thể ví von Ông với:
- Henry Kissinger trước khi vào chính quyền chánh yếu là một học giả và
cố vấn chiến lược.
- Zbigniew Brzezinski nổi bật với vai trò hoạch định chiến lược hơn là lãnh
đạo một đảng.
- Samuel P. Huntington ảnh hưởng lớn đến việc hoạch định chính sách dù không
phải là một chính khách.
Qua những suy nghĩ trên chúng ta ghi nhận GS Huy đã để lại
cho hậu thế một di sản tinh thần rất lớn. Nhưng vẫn còn một di sản vật chất mà
GS Nguyễn Ngọc Huy, trong suốt cuộc đời không rời bỏ, không biết còn mấy ai
nghĩ đến. Đó là:
·
Hơn 5.000 sách và tài liệu của GS để lại;
·
Chiếc đồng hồ Rado, vật bất ly thân của GS.
Hai di sản trên hiện giờ đang ở đâu? Do ai nắm giữ?
Rất mong sẽ có câu trả lời trong tương lai….
Xem Phần VII- Quan niệm về Đảng Chính trị
Mai
Thanh Truyết
Tháng
Tưởng niệm GS Nguyễn Ngọc Huy
Houston
– 2-7-2026
No comments:
Post a Comment