Con đường GS Nguyễn Ngọc Huy, Anh Ba đi
Phần III – Thời
Đệ II Cộng Hòa - Lãnh đạo Đảng Tân Đại Việt
GS Nguyễn Ngọc Huy được nhiều nhà nghiên cứu đánh giá là nhà lý luận hàng đầu của Đảng Tân Đại Việt, hơn là một chính khách độc lập theo nghĩa truyền thống. Vai trò lãnh đạo của ông nổi bật ở việc xây dựng tư tưởng, đào tạo cán bộ và định hướng chiến lược lâu dài, thay vì tổ chức đấu tranh vũ trang hay trực tiếp nắm giữ các chức vụ hành pháp.
Sau
khi hiệp định Geneve chia đôi lãnh thổ, VNCH được thành lập, hình thành một thể
chế chính trị của một quốc gia toàn vẹn chủ quyền và độc lập. Từ đó, các đoàn
thể chính trị ở miền Nam có điều kiện tham gia việc nước và một bối cảnh chính
trị mới xuất hiện. Và cũng từ đó một số đoàn thể chính trị mới thực sự công
khai hoạt động. GS Nguyễn Ngọc Huy, một trong những sáng lập viên Tân Đại Việt
từ căn bản Xứ bộ Nam kỳ đã góp công khai triển luận thuyết chủ nghĩa Dân Tộc Sanh
Tồn, đưa lên lý luận xu hướng biến cải vào năm 1964. Từ đó, thuyết dân tộc sinh
tồn biến cải ra đời. Điều nầy không có nghĩa là Đại
Việt đã tách rời, mà đây chỉ là một giai đọan mở theo tầm nhìn mới, thích hợp
với một số đảng viên, cũng như chưa đạt được tính thuyết phục đối với nhiều
đảng viên khác.
Trở
lại chủ thuyết DTST biến cải, GS Huy đã nhận định qua luật tiến hóa của Darwin
để thấy rằng sức mạnh của con người chưa phải là một yếu tố then chốt để đưa
đến thắng lợi sau cùng. Cũng cần phải có nhiều yếu tố của môi trường chung
quanh mới quyết định sự thắng lợi toàn vẹn. Do đó GS Huy đưa ra xu hướng biến
cải tức khả năng thích nghi tùy theo hoàn cảnh, lúc tiến, lúc lùi để ứng phó
với những thuận lợi cùng bất lợi. Để rồi, sau cùng, tranh thủ phần thắng lợi
trước mọi tình huống dù là bất lợi cho đòan thể của mình. Khái niệm sinh tồn
trong giai đoạn nầy được hiểu theo nghĩa của sự tiến hóa và tiến bộ của loài
người.
Trên
đây là một chuyển hướng lớn về luận thuyết của Đại Việt. Tên
tuổi của GS Huy sẽ nằm trong danh sách những người khai sáng và tiếp nối truyền
thống Đại Việt. GS Huy còn đưa ra một số điều kiện cho sự sinh
tồn trong luận thuyết biến cải cùng hai hình thức tranh đấu dựa theo hai nguyên
tắc đối nội và đối ngoại. Đó là hai hình thức tranh đấu bên ngoài và tranh đấu
với chính nôị tâm của mình. Từ suy nghĩ trên, công cuộc
tranh đấu của GS Huy thể hiện hình thức tranh đấu dưới dạng ôn hòa hay bạo động
tuỳ theo trường hợp và diễn biến của hòan cảnh chính trị của quốc gia trong
thời điểm trên.
Từ
việc soi sáng những khả năng tranh đấu, GS Huy đã khai triển thêm thành ba bước
khác nhau hay ba luật để rồi căn cứ theo đó mà hành xử tuỳ theo tình huống đang
xảy ra. Đó là luật sức mạnh, luật biến cải và luật hợp quần và
giáo dục.
·
Về luật sức mạnh:
Đứng trước thế phân cực mới trên thế
giới, quả thật sức mạnh ngày hôm nay không còn căn cứ theo khả năng quân sự
nữa, mà khả năng kinh tế mới là thước đo quyền lực tòan cầu.
·
Luật biến cải cũng được GS giải thích là khả năng thích nghi theo hòan
cảnh và điều kiện trong tình trạng xã hội lúc bấy giờ. Trước tình thế mới ngày
hôm nay, cần phải vận dụng trí óc để thẩm định tình hình ngõ hầu biến cải mọi
hợp tác quốc gia phải dựa theo quan điểm đồng thuận, và thế đôi bên cùng có lợi
(win-win situation) khỏi bị lệ thuộc vào bất cứ quốc gia nào mà vẫn giữ được
tính chất độc lập dân tộc.
·
Luật thứ ba về hợp
quần và giáo dục: Đây là một yếu tố nhập môn sơ đẳng
đã được giảng dạy từ những ngày đầu tiên của trẻ con miền Nam trong chương
trình giáo dục tiểu học qua những câu chuyện ngụ ngôn trong sách quốc văn giáo
khoa thư. Nhưng để thực hiện và áp dụng luật trên không phải dễ. Nhìn lại chính
chúng ta hiện tại, qua bao nhiêu hệ phái của Đại Việt thực sự đã làm suy yếu
tiềm lực lớn lao của một Đảng có quá trình tranh đấu lâu dài và một thời đã
được sự ngưỡng mộ và ủng hộ của đại khối dân tộc Việt Nam.
Kể từ
ngày thành lập đảng Đại Việt cho đến ngày nay, thế giới đã hoàn toàn biến đổi,
đi từ một thế giới với những quốc gia khép kín đến hình thái một thế giới mở
như ngày hôm nay. Tiến trình toàn cầu hóa hẳn nhiên là một tiến trình phải
hướng tới vì sự phát triển chung của toàn cầu. Đây là một tiến trình tự nhiên
trong phát triển để cùng đưa các quốc gia đến gần hơn và bổ túc cho nhau hơn
trên tư thế đôi bên cùng lưỡng lợi. Từ đó việc xây dựng một hệ tư tưởng mới
thích hợp với văn minh mạng và trí tuệ thông minh AI.
1- Xây dựng hệ tư
tưởng cho Tân Đại Việt
Sau khi Trương Tử Anh mất tích năm
1946, phong trào Đại Việt phân thành nhiều khuynh hướng. Tân Đại Việt, với GS
Nguyễn Ngọc Huy là nhà lãnh đạo tư tưởng nổi bật, cố gắng phát triển một đường
lối mới. Ông chủ trương kết hợp chủ nghĩa dân
tộc với một nền dân chủ hiến định dựa trên một nhà nước pháp quyền, khai triển
kinh tế thị trường nhưng có điều tiết tùy theo điều kiện kinh tế khách quan của
xã hội, và, quan trọng hơn cả là phát triển giáo dục khoa học thích hợp với tôn
chỉ dân tộc – nhân bản – khai phóng
Một điểm đáng chú ý là Ông muốn đưa
Đảng từ mô hình cách mạng bí mật của Đại Việt sang một chính đảng hiện đại,
công khai hoạt động bằng chính trị và tranh luận trực tiếp với hành pháp trung
ương. Cách diễn đạt này phản ảnh đầy đủ hơn vai trò kép của ông: vừa là một nhà
lãnh đạo về tư tưởng - intellectual
leader, vừa là một nhà chiến lược của một chính đảng -
party strategist, thay vì chỉ là
một học giả đứng ngoài chính trường.
2-
Về tổ chức Đảng
Có thể phân biệt hai giai đoạn,
trước 30/4, ở trong nước, và sau 30/4, ở hải ngoại:
2.1- Đối với đảng viên trong nước
trước 1975: Trong thời kỳ Việt Nam Cộng hòa, GS
Nguyễn Ngọc Huy được xem là lãnh tụ tư
tưởng của Đảng Tân Đại Việt. Đối với nhiều đảng viên, ông là người trực
tiếp giảng dạy các lớp chính trị, giải thích học thuyết của đảng, thiết lập và
xây dựng chương trình huấn luyện, cùng đào tạo cán bộ trẻ. Nhiều người từng
tham gia Tân Đại Việt trong giai đoạn nầy kể rằng việc kết nạp đảng không chỉ
là tham gia một tổ chức chính trị mà còn là quá trình học tập về chủ nghĩa dân
tộc, dân chủ, luật hiến pháp, đạo đức chính trị, và nhứt là trách nhiệm của
người trí thức. Điều này khiến Tân Đại Việt có màu sắc của một đảng chú trọng đào tạo tư tưởng, khác
với một số tổ chức thiên về quân sự hoặc hoạt động bí mật.
Tuy nhiên, cần phải nhìn nhận khách
quan rằng ảnh hưởng của Ông chính yếu tập trung trong giới trí thức, sinh viên,
giáo chức và một bộ phận công chức. Tân Đại Việt không phải là một chính đảng đại chúng có
sức huy động rộng khắp như một số phong trào khác.
2.2- Đối với đảng viên ở hải ngoại sau 1975: Ảnh hưởng của GS Huy có phần thay đổi. Ông vẫn tiếp tục viết sách, nghiên cứu, giảng dạy, tổ chức hội thảo, và đào tạo thế hệ trẻ người Việt ở hải ngoại. Đối với nhiều đảng viên và cảm tình viên ở Hoa Kỳ, Canada, Pháp và Úc, ông trở thành biểu tượng của tinh thần quốc gia, đấu tranh bằng học thuật, và xây dựng dân chủ ôn hòa thay vì cực đoan. Nhiều người xem Ông là "người giữ lửa" cho nền tảng tư tưởng của Tân Đại Việt hơn là một nhà cách mạng trong hành động trong giai đoạn lưu vong.
2.3- Ảnh hưởng về phương pháp: Có lẽ ảnh hưởng lớn nhất của GS Huy không nằm ở các quyết
định tổ chức một đảng tích cực và tranh đấu trực diện với CSBV, Ông chỉ chú
trọng nhiều về lý thuyết và phương pháp
tư duy. Ông luôn khuyến khích đảng viên đọc nhiều tài liệu, tranh luận
bằng lý lẽ, tôn trọng sự thật lịch sử, nghiên cứu luật pháp và công pháp quốc
tế, cố gắng trao dồi ngoại ngữ, và tìm hiểu chính trị quốc tế. Điều này làm cho
Đảng Tân Đại Việt ở hải ngoại tạo nên một phong cách sinh
hoạt chính trị thiên về nghiên cứu hơn là một đảng hành động.
2.4- Những giới hạn ở hải ngoại: Bên cạnh những ảnh hưởng tích cực, cũng cần nhìn nhận các
giới hạn trong việc phát triển và hoạt động của Tân Đại Việt. Sau năm 1975, Tân
Đại Việt hoạt động trong điều kiện lưu vong với nguồn lực hạn chế. Thế hệ trẻ
người Việt ở hải ngoại dần có mối quan tâm khác với thế hệ cha anh. Nội bộ các
tổ chức chính trị quốc gia cũng có lúc xuất hiện khác biệt về chiến lược và tổ
chức, và dĩ nhiên đôi khi “xung khắc” với nhau, có thể đi đến những tranh luận
“vô bổ”, tạo ra mầm mống chia rẽ trong nội tình giữa các đảng phái quốc gia
cũng như trong cùng một đảng. Tân Đại Việt cũng không thoát khỏi tệ trạng nầy.
Do đó, ảnh hưởng của
GS Huy tuy sâu về tư tưởng nhưng không phải lúc nào cũng chuyển hóa thành sự
phát triển mạnh về tổ chức hay khả năng thu hút đông đảo đảng viên mới.
5- Đánh giá tổng quát
Nếu phân loại ảnh hưởng của GS
Nguyễn Ngọc Huy dựa theo mức độ ảnh hưởng, chúng ta có thể hình dung như sau:
·
Trong lãnh vực xây dựng tư tưởng Đảng,
việc đào tạo cán bộ, đảng viên, cũng như ảnh hưởng lên đường lối chính trị, Tân
Đại Việt có ảnh hưởng rất lớn trong đại chúng;
·
Trong lúc đó, khả năng mở rộng tổ chức,
phát triển đảng viên, và ảnh hưởng đến đời sống chính trị Việt Nam, mức độ ảnh
hưởng trung bình, chỉ đáng kể trong giới trí thức, nhưng hạn chế trong dân
chúng.
Sau đây là nhận xét chủ quan của người viết: Trong ký ức của nhiều đảng viên Tân Đại Việt, GS Nguyễn Ngọc Huy không chỉ là một người lãnh đạo tổ chức mà còn là một người thầy. Uy tín của Ông chánh yếu dựa trên tri thức, nhân cách và khả năng thuyết phục bằng lập luận, hơn là quyền lực hay uy tín cá nhân theo kiểu lãnh tụ. Tuy nhiên, từ góc độ lịch sử chính trị, cũng cần phân biệt ảnh hưởng trong nội bộ đảng với ảnh hưởng trong toàn thể cộng đồng người Việt hải ngoại. Trong Tân Đại Việt, Ông được xem là nhân vật trung tâm về tư tưởng, nhưng nếu xét toàn thể cộng đồng người Việt ở hải ngoại sau 1975, ảnh hưởng của Ông tuy quan trọng nhưng không bao trùm, vì còn có nhiều tổ chức chính trị, tôn giáo, xã hội và các khuynh hướng tư tưởng khác cùng tồn tại và phát triển song hành cùng với Tân ĐV. Đây là điểm mà hầu hết các nghiên cứu lịch sử đều ghi nhận có nhiều đảng phái quốc gia hiện diện và hoạt động vào những năm đầu thế kỷ 20, có chiều dài lịch sử lâu đời, có thành tích cách mạng dân tộc, mà sao, khi ra hải ngoại, tầm ảnh hưởng không còn rộng mở như trong quá khứ?
6-
Thay lời kết
Mô hình đảng trí thức như Tân Đại
Việt thường gặp một tam giác “không cân đều”. Đó là, một đảng
thiếu vắng sự tham gia của cộng đồng hải ngoại, hầu như phụ thuộc hoàn toàn vào
lãnh đạo tư tưởng của một cá nhân là GS Nguyễn Ngọc Huy, và hiện đối mặt với
một môi trường môi trường chính trị không thuận lợi vì…”nhân tâm phân tán”.
Trong khi đó, để tồn tại lâu dài, một đảng chính trị cần ít nhất phải có một
trong ba yếu tố là, quyền lực nhà nước, tổ chức quần chúng sâu rộng, hay hệ
thống tài chính – truyền thông vững mạnh.
Nhìn lại trường hợp của Đảng Tân Đại Việt, mặc dù
đặt nền tảng trên một hệ tư tưởng rất sâu và có hệ thống, đã từng đào tạo ra được một lớp trí thức chính trị vững vàng, nhưng
hoàn toàn không thừa hưởng một yếu tố tồn tại nào trong ba yếu tố kể trên. Đặc
biệt nhứt, Tân Đại Việt về mặt tổ chức, rất hạn chế trong việc mở rộng và kế
thừa.
Vì vậy, khi GS Nguyễn Ngọc Huy qua đời, không chỉ là “mất lãnh đạo”, mà là mất luôn “trung tâm điều hợp tư tưởng” của toàn thể hệ thống.
Xin nhận lỗi cùng tất cả đảng viên Đảng Tân Đại Việt, nếu
không vui vì những lời “trung ngôn nghịch nhĩ” nầy.
Người
viết luôn luôn lấy làm vinh dự và hãnh diện là một đảng viên dưới trướng của
Anh Ba.
Mời
đọc tiếp Phần IV – Đảng Tân Đại Việt hậu Nguyễn Ngọc Huy
Mai
Thanh Truyết
Tháng
Tưởng niệm GS NNH
Houston
– 2-7-2026
No comments:
Post a Comment