Giáo sư Nguyễn Văn Canh và Vai trò
của giới Trí thức miền Nam
GS Nguyễn Văn Canh vừa qua đời ngày 13/5/2026 tại San Jose, CA. GS Nguyễn Văn Canh là một học giả và nhà giáo có ảnh hưởng trong giới trí thức miền Nam trước năm 1975. Khi đánh giá những đóng góp của ông đối với miền Nam Việt Nam, cần phân biệt giữa đóng góp học thuật, giáo dục, và đóng góp chiến lược chính trị, cùng những hoạt động sau 1975 trong cộng đồng người Việt hải ngoại.
Lịch sử cận đại Việt Nam thường được trình bày như lịch sử
của các cuộc chiến tranh, của các biến động quân sự và những thay đổi chính
quyền. Tuy nhiên, đằng sau các biến cố chính trị ấy là một hiện tượng ít được
chú ý hơn nhưng có ảnh hưởng lâu dài; đó là sự hình thành và hoạt động của tầng lớp trí thức
quốc gia. Sau Hiệp định Genève năm 1954, miền Nam Việt Nam bước
vào một giai đoạn lịch sử đặc biệt. Hàng triệu người di cư từ miền Bắc, cùng
với việc xây dựng một quốc gia mới trong điều kiện chiến tranh lạnh, đã đặt lên
vai chính quyền và xã hội miền Nam hai nhiệm vụ, vừa chống lại sự bành trướng
của cộng sản, vừa kiến tạo một thể chế có khả năng phát triển theo mô hình tự
do và pháp trị. Trong hoàn cảnh ấy, trí thức không còn giữ vai trò thuần túy
của người nghiên cứu hay giảng dạy. Họ được kỳ vọng trở thành người đào tạo
nhân sự quốc gia, người xây dựng nền tảng lý luận cho nhà nước, và đôi khi là
người định hướng chiến lược cho hành pháp trung ương.
Miền
Nam Việt Nam vì thế xuất hiện một thế hệ học giả đáng chú ý gồm những nhà luật
học, chính trị học và tư tưởng gia như Nguyễn Văn Bông, Nguyễn Ngọc Huy, và
Nguyễn Văn Canh.
Nếu GS
Nguyễn Văn Bông tiêu biểu cho tư tưởng cải cách hành chánh và pháp trị, GS Nguyễn
Ngọc Huy đại diện cho học thuyết quốc gia dân tộc và tổ chức chính trị, thì GS
Nguyễn Văn Canh nổi bật trong một lãnh vực nghiên cứu chiến tranh chính trị và
bản chất của chủ nghĩa cộng sản tại Việt Nam.
Tên
tuổi của ông không gắn với quyền lực hành pháp hay chức vụ chính trị lớn. Ông
không phải là bộ trưởng, tổng trưởng hay lãnh tụ đảng phái. Ảnh hưởng của ông
nằm trong lãnh vực ít ồn ào hơn nhưng có tầm quan trọng lâu dài hơn. Đó là giáo
dục, nghiên cứu và tư tưởng chiến lược quốc gia. Điều đó khiến ông thuộc về lớp
người có thể gọi là “trí thức chính trị”, những cá nhân tác động đến đời
sống quốc gia không phải bằng quyền lực cưỡng chế mà bằng ý tưởng, lý luận và
khả năng đào tạo con người.
Việc
khảo cứu về GS Nguyễn Văn Canh vì thế không chỉ nhằm ghi nhận tiểu sử một học
giả, mà quan trọng hơn nữa, đây còn là dịp để nhìn lại vai trò và số phận của
cả một tầng lớp trí thức miền Nam, những người đã cố gắng xây dựng nền móng cho
một quốc gia trong điều kiện chiến tranh và chia rẽ dân tộc vùng miền.
1- Đóng góp trong lãnh vực giáo dục và đào tạo nhân sự miền
Nam
GS Nguyễn Văn Canh thuộc thế hệ trí thức trưởng thành trong thời kỳ đất nước biến động sâu sắc giữa chế độ thuộc địa, chiến tranh giành độc lập và đối đầu với ý thức hệ. Ông theo đuổi ngành luật và chính trị học, sớm quan tâm đến vấn đề tổ chức nhà nước và sự vận hành của các chế độ chính trị. So với nhiều học giả cùng thời tập trung vào luật dân sự hoặc hành chánh, hướng nghiên cứu của ông mang màu sắc chính trị và chiến lược rõ rệt hơn. Đó không phải là một lựa chọn ngẫu nhiên.
Trong
những năm 1950–1960, Việt Nam không chỉ đối diện với chiến tranh quân sự mà còn
đối diện với chiến tranh tư tưởng. Sự phát triển của phong trào cộng sản tại
Đông Dương khiến nhiều học giả miền Nam đặt câu hỏi căn bản:”Tại sao chủ
nghĩa cộng sản có khả năng huy động quần chúng mạnh mẽ như vậy? Và một quốc gia
tự do như Việt Nam Cộng Hòa phải đối phó bằng cách nào?”
Nguyễn
Văn Canh thuộc số ít học giả xem đây là một vấn đề cần nghiên cứu khoa học thay
vì chỉ lên án chính trị. Ông tham gia giảng dạy tại nhiều viện đại học và đào
tạo cao cấp của miền Nam, bao gồm Đại học Luật khoa Sài Gòn, Đại học Huế, Đại
học Vạn Hạnh, và các cơ sở huấn luyện thuộc hệ thống an ninh – hành chánh của
Việt Nam Cộng hòa. Môi trường giảng dạy của ông khá đặc biệt vì nằm ở điểm giao
tiếp giữa học thuật và thực tiễn quốc gia. Sinh viên của ông không chỉ là những
thanh niên học luật thông thường mà còn là những công chức tương lai, nhân viên
hành chánh, sĩ quan và giới hoạch định chính sách quốc gia. Do đó, nội dung
giảng dạy của ông vượt khỏi phạm vi pháp luật và kỹ thuật. Ông quan tâm đến cơ
cấu quyền lực nhà nước, bản chất của các chế độ chính trị, chiến tranh tâm lý, và
an ninh quốc phòng quốc gia. Đây cũng là điểm khác biệt quan trọng giữa GS Nguyễn
Văn Canh và nhiều giáo sư luật cùng thời.
Nếu
mô hình giáo dục đại học truyền thống thường phân biệt luật học với chiến lược
quốc gia, thì trong bối cảnh chiến tranh Việt Nam, ông xem hai lãnh vực ấy liên
quan chặt chẽ với nhau. Theo quan điểm của ông, một quốc gia không thể tồn tại
chỉ bằng sức mạnh quân sự. Quân đội có thể bảo vệ biên giới, nhưng sự ổn định lâu dài của quốc gia cần phải dựa trên tính chính danh của
nhà nước, sự hiểu biết chính trị của người dân, và khả năng chống lại sự xâm
nhập của các ý thức hệ cực đoan như chuyên chính vô sản của cộng sản quốc tế.
Chính từ nhận thức này, ông ngày càng quan tâm đến nghiên cứu về chiến
tranh chính trị. Đối với ông, cộng sản không chỉ là một đối thủ quân sự, mà còn
là một hệ thống tổ chức chặt chẽ, một kỹ thuật huy động quần chúng, một phương
pháp giành quyền lực thông qua kiểm soát tư tưởng, và cuối cùng là việc “quản
lý người dân toàn diện”. Do đó, muốn đối phó với cộng sản Bắc Việt hiệu quả, thì
cần hiểu rõ cấu trúc và phương pháp hoạt động của hệ thống ấy.
Cách tiếp cận này của ông mang dấu ấn học thuật rõ ràng. Nó khác với lối tuyên truyền chống cộng đơn giản vốn phổ biến trong một số môi trường chính trị thời đó. Ông cố gắng đưa việc nghiên cứu cộng sản trở thành một ngành phân tích chính trị có căn bản và phân tích dữ liệu cùng phương pháp nghiên cứu.
Điều này giúp giải thích vì sao ông được mời tham gia thuyết trình và huấn luyện tại nhiều cơ sở đào tạo cao cấp của Việt Nam Cộng hòa, kể cả những nơi liên quan đến lãnh vực quốc phòng và an ninh. Tuy nhiên, chính vị trí nằm giữa học thuật và chính trị thời bấy giờ ấy cũng đặt ông vào một nghịch lý. Giống nhiều trí thức miền Nam khác, ông có khả năng phân tích và cảnh báo, nhưng lại không nắm quyền quyết định chính sách. Từ đó, khoảng cách giữa tri thức và quyền lực là một trong những vấn đề lớn của nền chính trị miền Nam, và cũng là chủ đề cần được khảo sát khi đánh giá đóng góp của Nguyễn Văn Canh.
Theo nhiều tài liệu cộng đồng,
ông từng là thuyết trình viên hoặc giảng viên tại Trường Cao đẳng Quốc phòng của
Quân lực Việt Nam Cộng hòa, nơi đào tạo cấp tướng lãnh và tham mưu trưởng. Nếu
nhìn trong bối cảnh lịch sử, đây là một vị trí đáng kể vì miền Nam thời Đệ Nhị
Cộng hòa đang tìm cách chuyên nghiệp hóa quân đội, nâng cao trình độ hoạch định
chính sách, và kết hợp yếu tố dân sự- quân sự trong việc quản trị quốc gia.
Sau
năm 1975, GS Canh sang Hoa Kỳ và cộng tác với môi trường nghiên cứu như Viện
Hoover thuộc Đại học Stanford, Hoover
Institution on War, Revolution and Peace, đồng thời
tham gia nhiều hội nghị quốc tế về Việt Nam và Đông Nam Á. Ông tiếp tục nghiên
cứu về cộng sản Việt Nam, dân chủ và nhân quyền, chiến lược quốc tế liên quan đến
Việt Nam, nhất là Trung Cộng. Ông cũng tham gia các hoạt động vận động chính
sách và sinh hoạt cộng đồng người Việt hải ngoại về nhân quyền và vấn đề Biển
Đông. Ông viết cuốn sách nghiên cứu chuyên sâu Vietnam
Under Communism, 1975–1982 - Cộng Sản Trên Đất Việt, xuất bản bởi Nhà xuất
bản Đại học Stanford; và Bộ sách Dân Tộc Tôi (gồm nhiều tập) ra mắt cuối
năm 2023, tập trung vào chủ quyền đất nước, dân chủ và nhân quyền.
Do đó, ảnh hưởng của ông chánh
yếu là ảnh hưởng đến tầng lớp trí thức và cố vấn học thuật, chứ không phải
quyền lực hành pháp hay quân sự trực tiếp.
Trong tình hình miền Nam đang
xây dựng bộ máy hành chính và pháp trị từ năm 1955 dưới thời Đệ Nhất Cộng hòa,
lớp trí thức luật khoa và hành chánh mà ông đào tạo đã góp phần vào việc vận
hành chính quyền và các cơ chế dân sự của miền Nam. Ông được biết đến
như một học giả nghiên cứu sâu về chủ nghĩa cộng sản và chiến tranh cách mạng. Ông
nhìn cuộc chiến Việt Nam không đơn thuần như một xung đột quân sự, mà là cuộc đối
đầu ý thức hệ, một cuộc chiến tranh chính trị, và cạnh tranh về tổ chức xã hội
với khối cộng sản. Chính vì quan điểm trên khiến
ông tham gia giảng dạy và thuyết trình cho giới quân sự và lãnh đạo của miền
Nam về chiến tranh chính trị, tâm lý chiến, và chiến lược đối phó với phong
trào cộng sản.
Nhiều người ủng hộ việc xem
đây là đóng góp quan trọng vì miền Nam lúc đó thường mạnh về quân sự nhưng thiếu
chiều sâu lý luận và chiến lược chính trị.
2- Tác phẩm và di sản học thuật
Khi
nói đến di sản học thuật của Nguyễn Văn Canh, không thể bỏ qua bộ sách Cộng Sản
Trên Đất Việt. Đây có thể xem là công trình lớn nhất và
tiêu biểu nhất trong sự nghiệp nghiên cứu của ông. Bộ sách không chỉ là hồi ký
chính trị hay tác phẩm tuyên truyền chống cộng theo nghĩa thông thường mà, tham
vọng của tác giả rộng hơn thế nữa. Giá trị của bộ sách được đánh
giá khác nhau qua giới quốc gia và cộng đồng người Việt chống cộng xem đây là một
công trình tư liệu và phân tích quan trọng, và mMột số học giả khác cho rằng cần
đọc với thái độ phê bình vì tác phẩm mang lập trường chính trị rõ rệt. Ông cố gắng xây dựng một công trình
tổng hợp nhằm khảo sát:
Nguồn gốc phong trào cộng sản Việt Nam;
- Ảnh hưởng quốc tế của chủ nghĩa
Marx–Lenin;
- Phương thức tổ chức đảng;
- Chiến tranh cách mạng;
- Và tiến trình giành cũng như
duy trì quyền lực tại Việt Nam của cs.
Về
mặt cấu trúc, tác phẩm mang tính tư liệu và phân tích hơn là văn chương. Người
đọc có thể nhận thấy ảnh hưởng của khoa học chính trị và nghiên cứu chiến lược
trong cách trình bày có nhiều dữ kiện lịch sử, chú trọng tổ chức và cơ chế vận
hành của cộng sản, quan tâm đến tính hợp lý của việc chiếm đoạt quyền lực. Điều
này nói lên tính cách và mục tiêu của việc đào tạo và khuynh hướng học thuật
của GS Nguyễn Văn Canh.
Tuy
nhiên, cũng cần nhìn nhận khách quan rằng đây là một tác phẩm mang lập trường
chính trị rõ rệt. Tác giả viết từ góc nhìn của quốc gia chống cộng và từ kinh
nghiệm của một người từng sống trong cuộc chiến ý thức hệ. Do đó, bộ sách không
phải là công trình “khách quan tính tuyệt đối”, nếu khái niệm ấy thực sự tồn
tại trong nghiên cứu lịch sử chiến tranh. Đánh giá công bằng nhất, có lẽ đây
là một nguồn tài liệu và diễn giải quan trọng của giới quốc gia Việt Nam về
phong trào cộng sản. Nó cần được đọc dưới nhãn quan mang tinh thần học
thuật, đối chiếu với các nguồn khác, nhưng không nên bị loại bỏ chỉ vì lập
trường của tác giả. Trong nghiên cứu lịch sử hiện đại, những tiếng nói từ nhiều
phía thường giúp người đọc hiểu rõ hơn về tính phức tạp của quá khứ, nhất là ở
Việt Nam sau 20 năm chiến tranh quốc cộng. Đây là điều khá bình thường trong các công
trình nghiên cứu về chiến tranh và ý thức hệ. Nhưng, khi khảo sát và phân tích những đóng góp của GS Nguyễn Văn
Canh, chúng ta không thể bỏ qua một câu hỏi khó:”Nếu giới trí thức miền Nam có năng lực và tâm huyết
như vậy, tại sao họ không tạo được ảnh hưởng quyết định đối với vận mệnh quốc
gia?”
Đây
không phải là nỗi băn khoăn riêng của Nguyễn Văn Canh mà là nghịch lý chung của
tầng lớp trí thức miền Nam. Có ít nhất ba nguyên nhân:
·
Thứ nhất, khoảng
cách giữa học thuật và quyền lực: Nhiều
học giả được kính trọng trong đại học nhưng ít tham gia trực tiếp vào tiến
trình quyết định chính sách. Chính trường miền Nam thường bị chi phối bởi giới
quân sự, nhiều cuộc khủng hoảng chính trị dồn dập, và nhu cầu đối phó/đối đầu
trước mắt không chỉ với CSBV, mà còn giữa những người quốc gia phe nhóm. Do đó,
tiếng nói học thuật nhiều khi không trở thành chính sách thực tế, và dễ bị lãng
quên.
·
Thứ hai, chiến
tranh làm suy yếu đời sống trí thức: Một
xã hội hòa bình có điều kiện phát triển tư tưởng dài hạn, ngược lại, chiến
tranh kéo dài tạo ra áp lực đến không gian sinh tồn và khiến chính trị mang
tính ngắn hạn, và làm cho giới trí thức ngại dấn thân. Trong hoàn cảnh ấy, đại
học khó trở thành trung tâm hoạch định quốc gia như tại nhiều nước phát triển.
·
Thứ ba, sự lệ
thuộc chiến lược vào Hoa Kỳ: Nhiều
quyết định lớn của miền Nam chịu ảnh hưởng trực tiếp từ chính sách của
Washington. Điều này giới hạn khả năng khai triển các chương trình cải cách xã
hội do giới trí thức phát thảo.
GS Nguyễn Văn Canh đại diện cho một nghịch lý lịch sử, ông
là người có khả năng đào tạo và phân tích, nhưng ảnh hưởng chánh yếu nằm trong
lãnh vực tư tưởng hơn là quyền lực chính trị. Song chính điều này lại giúp ông
giữ được vai trò của một học giả độc lập tương đối, ít bị đồng nhất hoàn toàn
với các phe phái hay chính quyền cụ thể.
3-
Ba khuynh hướng
trí thức quốc gia miền Nam - So sánh GS Nguyễn Văn Canh với GS Nguyễn Văn Bông
và GS Nguyễn Ngọc Huy:
Để
hiểu rõ vị trí của GS Nguyễn Văn Canh trong đời sống trí thức miền Nam Việt
Nam, cần đặt ông bên cạnh hai học giả tiêu biểu khác cùng thời: GS Nguyễn Văn
Bông và GS Nguyễn Ngọc Huy. Ba nhân vật này cùng thuộc giới trí thức quốc gia
chống cộng của miền Nam, cùng quan tâm đến vận mệnh đất nước và cùng hoạt động
trong môi trường đại học – chính trị. Tuy nhiên, mỗi người đại diện cho một
hướng tiếp cận khác nhau về việc xây dựng quốc gia. Nếu dùng một cách phân loại
tương đối, chúng ta có thể xem:
- GS Nguyễn Văn
Bông là nhà tư tưởng pháp trị – hành chánh;
- GS Nguyễn Ngọc
Huy là nhà tư tưởng quốc gia – chính trị;
- Còn GS Nguyễn
Văn Canh là học giả của chiến tranh chính trị và nghiên cứu cộng sản.
Ba
khuynh hướng ấy vừa bổ sung vừa phản ảnh những trăn trở của miền Nam trong giai
đoạn lịch sử đầy bất ổn trong suốt 20 năm.
3.1- GS Nguyễn Văn Bông – Tinh thần pháp trị và cải cách
hành chánh: GS Nguyễn Văn Bông thường được xem là một trong những trí thức
lỗi lạc nhất của miền Nam. Xuất thân từ ngành luật và hành chánh, ông nổi bật
nhờ tư tưởng xây dựng một nhà nước hiện
đại dựa trên pháp quyền, trách nhiệm công vụ, và cải cách hành chánh.
Khác với nhiều chính khách trưởng thành từ quân đội hoặc đảng phái, ông nhìn
vấn đề quốc gia qua lăng kính thể chế. Theo ông, sự tồn tại lâu dài của một
quốc gia không thể dựa chánh yếu vào cá nhân lãnh đạo hay sức mạnh quân sự mà
phải dựa vào bộ máy hành chánh hữu hiệu, luật pháp minh bạch, và thành phần
công chức chuyên nghiệp. Đó là lý do ông dành nhiều tâm huyết cho Học viện Quốc
gia Hành chánh và việc đào tạo nhân sự công quyền.Trong nhiều khía cạnh, Nguyễn Văn Bông đại diện cho
giấc mơ xây dựng một nhà nước pháp trị kiểu hiện đại tại miền Nam. Biến
cố ông bị ám sát năm 1971 thường được nhiều người xem là một mất mát lớn đối
với giới trí thức và cải cách chính trị của Việt Nam Cộng hòa.
3.2- GS Nguyễn Ngọc Huy - Chủ thuyết quốc gia và tổ chức
chính trị: Nếu GS Nguyễn Văn Bông quan tâm đến
bộ máy nhà nước, thì GS Nguyễn Ngọc Huy tập trung nhiều
hơn vào nền tảng tư tưởng và tổ chức chính trị.
Ông
vừa là học giả vừa là nhà hoạt động chính trị, gắn bó với khuynh hướng Đại Việt
và nỗ lực xây dựng một học thuyết quốc gia dân tộc. Theo Nguyễn Ngọc Huy, một
quốc gia không thể đứng vững nếu chỉ chống cộng bằng phản ứng quân sự. Điều cần
thiết là quốc gia cần phải có một lý tưởng chính trị, một chủ thuyết quốc gia, và
chánh phủ đủ khả năng huy động xã hội.
Do đó, công trình của ông không chỉ là nghiên cứu học thuật mà còn mang tính vận động chính trị. Ông dành nhiều thời gian nghiên cứu lịch sử chính trị Việt Nam, tư tưởng dân tộc và vai trò của các đảng phái. So với GS Nguyễn Văn Bông, GS Nguyễn Ngọc Huy gần với hoạt động chính trị thực tế hơn và thích hợp với môi trường chính trị Việt Nam Cộng Hòa thời bấy giờ. Nếu gọi GS Nguyễn Văn Bông là nhà cải cách thể chế, thì phải gọi GS Nguyễn Ngọc Huy là người tìm kiếm linh hồn ý thức hệ cho quốc gia.
3.3- GS Nguyễn Văn Canh - Chiến tranh chính trị và nghiên
cứu cộng sản: Nếu đặt cạnh hai học giả trên, GS Nguyễn Văn Canh có vị trí khá
riêng biệt. Ông không tập trung chánh yếu vào cải cách hành chánh như GS Nguyễn
Văn Bông, ông cũng không dành trọng tâm cho việc xây dựng đảng phái hay chủ
thuyết quốc gia như Gs Nguyễn Ngọc Huy. Mà mối quan tâm lớn nhất của ông là:”Làm thế nào để hiểu và đối phó hữu hiệu với
chiến tranh chính trị của cộng sản.” Điều này khiến hướng nghiên cứu của
ông mang tính chiến lược nhiều hơn.
Trong
khi GS Nguyễn Văn Bông nghiên cứu nhà nước và Gs Nguyễn Ngọc Huy nghiên cứu
chính trị quốc gia, GS Nguyễn Văn Canh
nghiên cứu đối thủ của quốc gia. Đây là một sự khác biệt quan
trọng. Ông cho rằng cuộc chiến Việt Nam không thể được giải thích đơn thuần
bằng địa lý hay quân sự. Đó là cuộc đối đầu của phương pháp tổ chức xã hội, hệ
thống tư tưởng, và kỹ thuật huy động quần chúng. Vì vậy, nhiệm vụ của học giả
không chỉ là bảo vệ lý tưởng quốc gia mà còn phải giải mã cách vận hành của hệ
thống cộng sản để từ đó định hình ra phương hướng đối phó! Từ đó, công trình
nghiên cứu kéo dài nhiều thập niên của ông về chủ nghĩa cộng sản tại Việt Nam
đã được hình thành. Nếu phải diễn tả bằng một hình ảnh, thì:
- Nguyễn Văn Bông
lo xây nền móng nhà nước;
- Nguyễn Ngọc Huy
lo định hình linh hồn chính trị;
- Còn Nguyễn Văn
Canh lo nhận diện và phân tích nguy cơ đe dọa quốc gia của cộng sản.
Ba
vai trò ấy khác nhau nhưng không đối nghịch, mà lại bổ túc cho nhau. Chúng phản
ảnh ba nhu cầu căn bản của một quốc gia thời chiến là Quản trị - Lý tưởng - An
ninh chính trị.
4-
Từ miền Nam sang môi trường học thuật Hoa Kỳ
Sau
khi định cư tại Hoa Kỳ, GS Nguyễn Văn Canh tiếp tục hoạt động nghiên cứu và
thuyết trình trong các diễn đàn học thuật cũng như cộng đồng người Việt hải
ngoại. Ở đây, chúng ta cần nhìn hiện tượng này trong hoàn cảnh mở rộng hơn. Thế
hệ trí thức miền Nam sau 1975, sau khi định cư tại hải ngoại, thực chất tạo
thành một dạng “diaspora intellectuals” – giới trí thức lưu vong. Họ mất
vị trí trong quốc gia cũ nhưng đồng thời có cơ hội hoạt động trong môi trường
học thuật quốc tế. Một số người chuyển sang nghề nghiệp khác để ổn định đời
sống. Một số tiếp tục nghiên cứu và viết lách. GS Nguyễn Văn Canh thuộc nhóm
thứ hai.
Ông
cộng tác với các môi trường nghiên cứu và tham dự nhiều hội nghị về Việt Nam và
Đông Nam Á, tiếp tục quan tâm đến chính trị Việt Nam, chiến tranh lạnh tại châu
Á, dân chủ và nhân quyền, và đặc biệt là cơ cấu quyền lực của hệ thống cộng sản
Việt Nam. Điều này cho thấy một sự nhất quán đậm nét trong con đường trí thức của ông là mối quan tâm trước 1975 và
sau 1975 gần như không thay đổi. Nếu tại miền Nam ông nghiên cứu
chiến tranh chính trị để phục vụ nhu cầu quốc gia đang chiến tranh, thì tại hải
ngoại ông tiếp tục nghiên cứu cộng sản như một hiện tượng chính trị và lịch sử
cần được giải thích. Nói cách khác, môi trường thay đổi nhưng đối tượng nghiên
cứu vẫn giữ nguyên.
5- GS Nguyễn Văn
Canh - Một thế hệ trí thức chưa trọn sứ mạng
Nếu nhìn rộng ra hơn nữa, ba học giả này còn tượng trưng cho một thế hệ trí thức miền Nam có nhiều tiềm năng nhưng không hoàn tất được sứ mạng lịch sử, không phải vì họ thiếu năng lực hay tâm huyết, trái lại, các GS trên là những người có trình độ quốc tế và viễn kiến đáng kể. Nhưng lịch sử không luôn vận hành theo lý lẽ của học thuật. Chiến tranh, khủng hoảng chính trị và sự lệ thuộc địa chiến lược khiến nhiều ý tưởng cải cách không có điều kiện trưởng thành.
Đó
là bi kịch chung của giới trí thức miền Nam. Họ hiểu nhu cầu xây dựng quốc gia nhưng sống trong hoàn cảnh
mà quyền lực chính trị thường ưu tiên nhiều giải pháp ngắn hạn và tạm thời. Và
trong ý nghĩa ấy, GS Nguyễn Văn Canh không chỉ là một cá nhân. Ông còn là biểu
tượng của một tầng lớp trí thức tin rằng tri thức có thể góp phần bảo vệ tự do
và định hướng quốc gia, ngay khi tiếng nói của họ không luôn trở thành một chính
sách quốc gia.
Nếu phải tóm lược, sự đóng góp
của GS Nguyễn Văn Canh đối với miền Nam Việt Nam nằm chánh yếu ở ba phương diện:
·
Đào tạo trí thức và nhân sự công quyền cho
miền Nam;
·
Phát triển tư duy chính trị và chiến lược
chống cộng trong giới lãnh đạo và học thuật VNCH;
·
Gìn giữ và phát triển khí tiết của thành
phần quốc gia Việt Nam sau 1975.
Ông
không phải là một chính trị gia quyền lực như Cố TT Nguyễn Văn Thiệu hay một
lãnh tụ đảng phái như Nguyễn Ngọc Huy, mà thuộc nhóm “trí thức chính trị”
(political intellectual) – những người ảnh hưởng qua giảng dạy, nghiên cứu
và định hình tư tưởng hơn là điều hành trực tiếp.
6- GS Nguyễn Văn Canh và Mặt trận Biển Đông -
Từ chiến tranh chính trị đến vận động công pháp quốc tế
Trong suốt cuộc hành trình học
thuật và chính trị của GS Nguyễn Văn Canh, vấn đề Biển Đông xuất hiện như một
giai đoạn phát triển muộn nhưng có ý nghĩa đặc biệt. Nếu trước 1975, ông tập
trung vào phân tích chiến tranh chính trị và cơ chế vận hành của chủ nghĩa cộng
sản, thì sau 1975, trọng tâm tư duy của ông mở rộng sang một không gian chiến
lược rộng hơn, chính là an ninh khu vực Đông Á và trật tự pháp lý quốc tế
trên biển. Biển Đông, trong cách nhìn ấy, không chỉ là việc tranh chấp lãnh
thổ giữa các quốc gia ven biển. Nó trở thành một biểu tượng của sự cạnh tranh
quyền lực giữa các mô hình quốc gia, nơi luật pháp quốc tế, sức mạnh cứng và ảnh
hưởng ngoại giao tạo ra những tình huống phức tạp.
6.1- Biển Đông trong lý luận “chiến
tranh chính trị” của GS Canh: Một điểm quan trọng để hiểu hoạt
động của GS Canh là sự liên tục trong suốt chuỗi lý luận từ khi bước chân vào
con đường chính trị. Ông không chuyển từ “chống cộng” sang “Biển Đông” như hai
chủ đề tách biệt. Thay vào đó, ông nhìn Biển Đông như một biến thể của cùng
một hiện tượng chiến lược mà ông đã nghiên cứu từ trước như là chiến tranh
chính trị không dùng quân đội trực diện là chánh yếu, mà sử dụng luật pháp,
tuyên truyền, kinh tế và ngoại giao để thay đổi thực trạng, để rồi, dần dần tạo
ra “sự đã rồi” về quyền kiểm soát.
Trong phân tích của ông, cách tiếp cận của Trung Cộng tại Biển Đông mang nhiều yếu tố của mô hình này; đó là, việc xây dựng thực thể hành chính trên các đảo/đá; việc mở rộng hiện diện quân sự từng bước; việc sử dụng các lập luận lịch sử và pháp lý song song; và sau cùng, tránh xung đột quân sự quy mô lớn trong giai đoạn đầu. Từ góc nhìn đó, Biển Đông không phải một tranh chấp “đóng băng”, mà là một tiến trình chiến lược dài hạn của Trung Cộng
6.2- Quốc tế hóa tranh chấp
trong sự lựa chọn chiến lược: Một trong những quan điểm chính
của GS Canh là cần quốc tế hóa vấn đề Biển Đông, thay vì để nó bị giới hạn
trong các cơ chế song phương. Ông lập luận rằng trong mối tương quan lực lượng
không cân xứng, các quốc gia nhỏ ven Biển Đông khó có khả năng đàm phán hiệu quả
nếu chỉ dựa vào việc thương lượng trực tiếp, hoặc các cơ chế khu vực thiếu tính
ràng buộc mạnh như tổ chức Asean. Do đó, giải pháp chiến lược là đưa tranh chấp
ra các diễn đàn rộng hơn như Luật Biển Quốc tế (UNCLOS), các thể chế đa phương,
và đặc biệt là hệ thống quan hệ quốc tế do các cường quốc ngoài khu vực tham
gia.
Trong chuỗi lý luận này, luật
pháp quốc tế không chỉ là công cụ pháp lý, mà còn là một công cụ chiến lược
nhằm cân bằng quyền lực.
6.3- Vận động tại Hoa Kỳ - Từ
học thuật sang chính sách công: Sau khi định cư tại Hoa Kỳ, GS
Canh tham gia vào một dạng hoạt động khác với môi trường đại học thuần túy là vận
động chính sách (policy advocacy). Ông cùng một số học giả và tổ chức cộng
đồng người Việt hải ngoại tham gia các cuộc hội thảo về Biển Đông, các buổi điều
trần và trao đổi với giới lập pháp, và hoạt động cung cấp thông tin cho các văn
phòng nghị sĩ Hoa Kỳ. Mục tiêu không phải là thay thế chính sách quốc gia, mà
là nâng mức độ nhận thức của giới lập pháp Mỹ về Biển Đông, nhấn mạnh yếu tố luật
pháp quốc tế, và thúc đẩy các biện pháp mang tính răn đe hoặc trừng phạt đối với
các hành vi bị xem là vi phạm trật tự hàng hải quốc tế.
Một số tài liệu cộng đồng ghi
nhận ông tham gia vận động cho các sáng kiến lập pháp liên quan đến Biển Đông
trong Quốc hội Hoa Kỳ, trong đó có các đề nghị về việc trừng phạt các hoạt động
quân sự hóa của Trung Cộng, bảo vệ tự do hàng hải, và phản đối thay đổi nguyên
trạng bằng vũ lực hoặc cưỡng ép.
Cần nhấn mạnh rằng trong hệ thống
chính trị Hoa Kỳ, các đạo luật loại này là kết quả của nhiều nhóm tác động khác
nhau, gồm danh sách các nghị sĩ bảo trợ, các think tank, cộng đồng di dân, và
giới học giả. Và, trong đó, GS Canh là một trong những tiếng nói học thuật từ cộng
đồng Việt Nam hải ngoại tham gia vào tiến trình này, chứ không phải tác nhân
đơn lẻ quyết định chính sách.
6.4- Xử dụng “công pháp quốc tế
như công cụ chiến lược”: Điểm đáng chú ý trong cách tiếp cận của GS
Canh là ông không xem luật quốc tế như một hệ thống lý tưởng thuần túy, mà như
một công cụ thực dụng trong quan hệ quyền lực. Theo ông, trong bối cảnh
các cường quốc cạnh tranh ảnh hưởng nhằm hướng tới việc luật pháp quốc tế có thể
trở thành “tiếng nói chung”, việc giúp các quốc gia nhỏ tạo ra cơ sở chính
danh, và hình thành áp lực ngoại giao đa phương.
Trong cách nhìn trên, Biển Đông không chỉ là vấn đề chủ quyền, mà còn là một bài toán về trật tự quốc tế có nhiều thử thách đối với tính hiệu lực của luật biển, và là một phép thử đối với khả năng hợp tác quốc tế trong việc kiểm soát xung đột giữa các quốc gia có tranh chấp..
6.5- Giới hạn của việc vận động
hải ngoại: Một đánh giá cân bằng cần ghi nhận cả giới hạn
của các hoạt động ở hải ngoại của GS Nguyễn Văn Canh, mặc dù có giá trị về mặt nâng
cao nhận thức, tạo ra mạng lưới thông tin rộng lớn, và đưa vấn đề vào diễn đàn
chính trị quốc tế; tuy nhiên, các phong trào vận động từ cộng đồng hải ngoại
thường có ảnh hưởng gián tiếp, dài hạn, và phụ thuộc vào bối cảnh địa chính trị
lớn hơn. Do đó, chúng ta không nên phóng đại vai trò cá nhân của bất kỳ học giả
nào trong việc “thay đổi chính sách toàn cầu”.
Trong trường hợp GS Canh, đóng
góp quan trọng nhất nằm ở việc duy trì sự hiện diện của vấn đề Biển Đông trong
chính trị người Việt hải ngoại, và chuyển hóa nó thành ngôn ngữ của luật pháp
và chính sách thay vì chỉ diễn đạt cảm xúc lịch sử trong cộng đồng.
6.6- Ý nghĩa trong tư tưởng của
GS Nguyễn Văn Canh: Chúng ta nhận thấy,
trong
hoạt động về Biển Đông của GS Canh, đây không phải là một hướng rẽ, mà là sự tiếp nối liên tục từ chiến tranh chính trị (trước
1975) đến nghiên cứu hệ thống cộng sản, rồi mở rộng sang cạnh tranh chiến lược
khu vực, và cuối cùng là vận động công pháp quốc tế.
Có thể nói, Biển Đông là nơi con
người và suy nghĩ của ông gặp lại chính Ông ở một cấp độ rộng hơn và không còn
giới hạn trong không gian Việt Nam, mà đặt trong cấu trúc quyền lực của toàn
khu vực Ấn Độ – Thái Bình Dương. Và trong ý nghĩa đó, “mặt trận Biển Đông” của GS Nguyễn
Văn Canh không phải là chiến trường quân sự, mà là một mặt trận tư tưởng và
công pháp quốc tế.
7- Tưởng về GS Nguyễn Văn Canh
Nhìn toàn thể cuộc hành trình
trí thức của Giáo sư Nguyễn Văn Canh, từ các giảng đường ở miền Nam trước 1975,
qua những nghiên cứu về chiến tranh chính trị, đến các hoạt động vận động Biển
Đông tại Hoa Kỳ, có thể thấy một trục tư tưởng xuyên suốt, ông luôn xem
chính trị không phải là cảm xúc, mà là một cấu trúc quyền lực vận hành bằng luật
lệ, có tổ chức và có chiến lược dài hạn.
Trong mặt trận Biển Đông, điều
này thể hiện rõ hơn cả. Ông không đi theo lối kêu gọi biểu tượng hay khẩu hiệu.
Ông chọn một con đường khó hơn và “cứng” hơn là đưa vấn đề chủ quyền vào ngôn
ngữ của công pháp quốc tế, cơ chế lập pháp và cân bằng quyền lực toàn cầu. Ở
cấp độ này, sự đóng góp của ông không nằm ở việc “thay đổi cục diện ngay lập tức”,
điều vốn vượt quá khả năng của bất kỳ cá nhân nào, mà nằm ở chỗ ông góp phần chuyển dịch một
cuộc tranh chấp lịch sử thành một hồ sơ pháp lý – chính trị có thể được thảo luận
trong hệ thống quốc tế hiện đại.
Đây chính là điểm mạnh nhưng
cũng là một chiều sâu ít người nhìn thấy. Ông hiểu rằng trong thế giới hiện đại, chủ quyền quốc
gia không chỉ được giữ bằng sự hiện diện vật lý, mà còn bằng tính chính danh được công nhận, được ghi nhận
và được tranh luận trong luật pháp quốc tế.
Vì vậy, nếu phải định vị vai
trò của GS Nguyễn Văn Canh trong vấn đề Biển Đông, có thể nói một cách dứt
khoát hơn:”Ông không phải là người “tạo ra thay đổi tức thời trên thực địa”,
mà là một trong những tiếng nói trí thức kiên trì, muốn quốc tế hóa vấn đề Biển
Đông, góp phần giữ nó trong không gian luật pháp và chính trị toàn cầu, nơi các
tranh chấp lãnh thổ hiện đại cuối cùng được định hình. Và xét rộng hơn, di
sản của ông nằm ở chỗ không phải sức mạnh quyền lực, mà là sức bền của những
suy nghĩ chiến lược, không phải chiến thắng tức thời, mà là khả năng đặt một vấn
đề quốc gia vào đúng “bàn cờ” của thế giới hiện đại.
Và trong ý nghĩa đó, GS Nguyễn
Văn Canh thuộc về một lớp trí thức hiếm hoi của miền Nam, những người tin rằng
ngay cả khi lịch sử không đứng về phía mình, tri thức vẫn có thể tiếp tục định nghĩa
về cách một dân tộc hiểu về quyền lợi và vị trí của mình trên bình diện thế giới.
Đồng bào Miền Nam Việt Nam sẽ không bao giờ quên một
người con Việt, Nguyễn Văn Canh.
Mai
Thanh Truyết
Houston
– Mùa Phật đản 2026
Ghi
chú:
Anh Truyet thân
kính
Từ bài viết cuả Anh , QH thấy Anh rất hiểu rõ GS Canh ,
em với Thầy thường nói chuyện và qua đó em cũng nhận được những lời
dạy dổ hướng dẫn
từ Thầy , và hôm
nay được đọc bài viết của Anh , em càng khâm phục sụ nhận xét
của Anh . Đúng như Anh nhận xét ,"Nguyễn Văn Canh thuộc số ít học giả
xem đây là một vấn
đề cần nghiên cứu khoa học thay vì chỉ lên án chính trị.....Quốc tế hóa tranh
chấp trong sự lựa chọn chiến lược: Một trong những quan điểm chính của GS Canh
là
cần quốc tế hóa vấn đề Biển Đông,"... nên trong năm 2008 Thầy đã dầy
công nghiên cứu , liên lạc với các nhà sử học để tìm những bằng
chứng HS -TS là của VN ,
và Thầy thường nói
đời chúng ta chưa chắc có thể lấy lại HS -TS mà hy vọng hậu thế sẽ
làm được, nên chúng ta phải tìm được những bằng chứng xác thực cho
lớp trẻ sau này
xử dụng . Và Thầy
cũng đã đưa vụ HS - TS lên LHQ với Quyễn Bạch Thư gởi tận tay các đại
diện của các nước tại LHQ và chuyển đến các tổng thống trên thế
giới .... lúc đó
Anh Nguyễn Trung Châu
và các Anh trong BCH của Thầy đã tích cực tiếp tay làm việc . Sự ra
đi của Thầy là một nuốt tiếc và rất đau lòng cho em.
Và cũng vì muốn lưu lại những tài liệu cho giới trẻ xữ
dụng nên ngoài hành động Thầy còn viết và xuất bản nhiều quyễn
sách, mãi đến tuổi gần 90 Thầy cho ra quyễn DÂN TỘC TÔI
trọn bộ gồm 3 cuốn
. Thầy có gởi cho QH nhưng đến hiện tại QH vẫn chưa đọc hết....
QH chân thành cảm ơn Anh đã tin tưởng stx , và hôm nào Anh
rãnh thì chúng ta đến đển gặp Thầy Huyền Việt để bàn về buổi lễ
cầu siêu cho GS CANH.
Thân Kính
QH-STX - 27/5/2026
No comments:
Post a Comment