Dân chủ vs Độc tài dưới thời đại
Tô Lâm
Lời người viết:
Trong một bài viết vào năm 2008 dưới đề tài:” Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy đã để lại những di sản gì cho các thế hệ đi sau?”,
LS Tạ Văn Tài có nhận định như sau:” Việt Nam cần ổn định để phát triển,
muốn ổn định thì phải độc tài, mà độc tài thì trái với lý tưởng dân chủ phải
theo, nhưng nếu dân chủ thì bất ổn, vậy thì phải cố dung hoà hai nhu cầu “ổn định”
và “dân chủ”, một vấn đề có vẻ như nan giải.” Điều nhận định trên có lẽ đúng
vào thời điểm đó. Nhưng hiện tại, ông Tô Lâm đang nắm giữ các chức vụ trong Đảng
và hành pháp Việt Nam. Người viết xin luận bàn về “độc tài” và “dân chủ” trong
tình hình chính trị hiện nay của Việt Nam. Tô Lâm có giống Putin hay Tập Cận
Bình không? Hay ông đang đi con đường dân chủ cho Việt Nam?
***
Nhận định trên phản ảnh một nỗi
lo có thật trong nhiều xã hội đang phát triển, làm sao vừa giữ được ổn định
qua các hành xử độc tài để phát triển kinh tế, vừa mở rộng tự do dân chủ mà đất
nước không rơi vào hỗn loạn?
Đây không phải là câu hỏi
riêng của Việt Nam, mà là bài toán lịch sử của hầu hết các quốc gia hậu thuộc địa
hay sau chiến tranh. Không có ngoại lệ cho Việt Nam. Tuy nhiên, nếu nhìn sâu
hơn nữa, lập luận của LS Tạ Văn Tài:“ Muốn ổn định phải độc tài; dân chủ tất yếu
dẫn đến bất ổn” là một kết luận quá đơn giản, và nhiều khi nhầm lẫn giữa
sự ổn định thật sự qua độc tài với sự im lặng cưỡng bức. Một xã hội
lúc đó, có thể rất “yên tĩnh” trên bề mặt nhưng bên trong tích tụ sự bất mãn, sự
sợ hãi, sự tham nhũng, sự bất công, và nhứt là sự suy thoái thể chế. Đó không
phải ổn định lâu dài, mà chỉ là một sự “nén áp suất”, một sự “cưỡng chế” của chế
độ độc tài.
Lịch sử thế giới cho thấy nhiều
chế độ tưởng rất ổn định đã sụp đổ nhanh chóng vì thiếu khả năng tự điều chỉnh
như Liên Sô, Romania thời Nicolae Ceaușescu, hay gần đây là nhiều quốc gia
Trung Đông sau cuộc cách mạng mùa Xuân Á Rập - Arab Spring.
Ngược lại, cũng không thể phủ
nhận rằng một nền dân chủ non yếu, thiếu nền tảng pháp trị và văn hóa đối thoại
có thể dẫn đến hỗn loạn. Một số nước sau khi mở cửa chính trị độc tài quá nhanh
đã rơi vào trạng thái phân cực, dân túy, tranh giành quyền lực, hoặc nội chiến.
Cho nên, vấn đề thật sự không
nằm ở lựa chọn cực đoan giữa “độc tài tuyệt đối”
hay “dân chủ hỗn loạn, mà nằm ở câu hỏi sâu sắc hơn là, làm sao xây dựng
được một nhà nước đủ mạnh để điều hành đất nước, nhưng cũng đủ mở để tự sửa
sai? Đó mới là cốt lõi của vấn đề. Hay nói một cách khác, một quốc
gia cần trật tự, nhưng trật tự không đồng nghĩa với đàn áp mà phải cần
có kỷ cương. Nhưng kỷ cương không đồng nghĩa với độc quyền chân lý mà phải
cần có sự ổn định, và sự ổn định không thể dựa mãi trên việc kiểm soát
tư tưởng và hành động của người dân.
1-
Mô hình phát triển theo hướng dân chủ Tây
phương
Thiết nghĩ một xã hội trưởng
thành thường phát triển theo mô hình “tiến đến dân chủ Tây phương” qua ba giai
đoạn sau một cuộc chiến tranh dai dẳng như Việt Nam cần phải ổn định bằng
quyền lực, sau đó cần ổn
định bằng luật pháp để cho thể chế
lần lần được minh bạch hơn. Và sau cùng, ổn định bằng lòng tin
xã hội để cho người dân cảm
thấy mình được tôn trọng và có tiếng nói phản biện các cuộc vận hành của nhà nước.
Chính giai đoạn thứ ba mới là một
sự ổn định bền vững nhất. Thật ra, có nhiều quốc gia Đông Á thành công không
hoàn toàn đi theo mô hình trên ngay lập tức, nhưng họ đã dần dần mở rộng pháp
trị, nâng cao trách nhiệm của nhà cầm quyền, bảo vệ quyền sở hữu, cải thiện
giáo dục, lần lần giảm kiểm soát đời sống tư tưởng, và tạo không gian phản biện
có giới hạn lúc khởi đầu, và rộng mở hơn sau đó.
Chính điều đó giúp họ tránh được
cả hai cực đoan sau khi bắt đầu mở cửa là sự hỗn loạn vô chính phủ, và trì trệ
độc đoán.
2- Bài toán thật sự của Việt Nam
Đối với Việt Nam hôm nay, câu
hỏi quan trọng có lẽ không phải là “độc tài hay dân chủ?” mà là làm sao chuyển
từ ổn định dựa trên kiểm soát, một
hình thức độc tài, bước sang ổn định dựa trên lòng tin, một hình thức dân chủ.
Đó là hai loại ổn định hoàn toàn khác nhau.
2.1- Ổn định dựa trên kiểm
soát
Mô hình này dựa vào kiểm soát
thông tin, hạn chế phản biện, tập trung quyền lực, và ưu tiên sự đồng nhất
trong Đảng. Ưu điểm của nó là ra quyết định nhanh, tránh được hỗn loạn trong ngắn
hạn, và dễ huy động lực lượng trấn áp người dân. Nhưng
chắc chắn sẽ vướng phải những nhược điểm lâu dài là dễ sinh tham nhũng, thiếu
sáng tạo, cả cán bộ và công nhân viên nhà nước đều sợ trách nhiệm xã hội, đổ thừa
là do cơ chế trước mọi thất bại. Vì thế bộ máy hành chánh ngày càng
xa dần và hoàn toàn mất niềm tin nơi người dân. Đó là hình ảnh của Việt Nam sau
51 năm dưới “lá cờ quang vinh” của đảng.
2.2- Ổn định dựa trên lòng tin
Mô hình này không phủ nhận vai
trò của nhà nước mạnh, nhưng nhà nước mạnh ở đây chính là mạnh về pháp luật, mạnh
về năng lực quản trị, mạnh về tính minh bạch, chứ không chỉ mạnh về kiểm soát
và cưỡng chế người dân. Trong mô hình này người dân được quyền phản biện, báo
chí có không gian mở nhất định, trí thức được nói sự thật trước sự bất công, và
xã hội có cơ chế tự điều chỉnh và vận hành….
Đó là loại ổn định khó xây dựng
hơn, nhưng bền vững hơn nhiều. Đây mới chính là một cơ chế mà trên 100 triệu
người con Việt mong đợi.
2.3- Dung hòa không phải thỏa
hiệp yếu đuối
Nhiều người cho rằng “dung
hòa” giữa ổn định do độc tài và dân chủ là lập trường mơ hồ. Người viết thiết
nghĩ có một sợi chỉ xuyên suốt kết nối giữa hai cực đoan nầy. Dung hòa ở đây
không có nghĩa là vừa độc tài một chút, và vừa dân chủ một chút. Mà là xây dựng
một lộ trình phát triển thực tế, phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam.
Một xã hội không thể chuyển
đổi bằng cách phá bỏ toàn bộ hệ thống trong một đêm.
Nhưng cũng không thể trì hoãn cải cách mãi mãi bằng lý do “ổn định” để kềm kẹp
người dân và bảo vệ sự đồng thuận trong đảng. Sự dung hòa cần thiết
cho Việt Nam trong tương lai có thể bao gồm:
·
Việc tăng trưởng chính sách pháp trị: Một xã
hội muốn dân chủ bền vững phải có tòa án đáng tin cậy, có luật pháp công bằng,
có chống tham nhũng bằng thực chất chứ không áp dụng luật kép cho cán bộ đảng
viên. Và nhứt là quyền công dân phải thật rõ
ràng. Nếu chưa có nền pháp trị trên, dân chủ sẽ không đến, mà dễ biến
thành tranh giành phe nhóm.
·
Mở rộng phản biện xã hội có trách nhiệm: Không
phải mọi phản biện đều là chống phá. Một quốc gia trưởng thành cần biết phân biệt
phản biện để xây dựng với kích động cực đoan. Nếu trí thức, nhà báo, chuyên gia
luôn sợ nói thật, quốc gia sẽ mất khả năng tự sửa sai.
·
Giáo dục công dân trong tin thần dân chủ
thay vì chỉ giáo dục tuân phục: Một xã hội dân chủ không thể tồn
tại nếu người dân thiếu sự suy nghĩ độc lập, không biết tranh luận trong sự tôn
trọng lẫn nhau, hoặc chỉ phản ứng theo cảm xúc. Giáo dục tương lai phải giúp
con người biết quyền hạn của người dân, nhưng cũng phải hiểu trách nhiệm và bổn
phận của mình.
·
Xây dựng bản sắc quốc gia vượt lên trên ý
thức hệ: Một trong những nguy cơ lớn
của Việt Nam là tiếp tục nhìn nhau qua lăng kính “kẻ thắng – người thua”, “quốc
gia – cộng sản”, và “trong nước – hải ngoại”. Nếu kéo dài tâm lý ấy,
điều đã xảy ra suốt 51 năm qua, dân tộc sẽ mãi tiêu hao năng lượng vì ký ức của
quá khứ. Một quốc gia mạnh phải biết giữ ký ức, nhưng không bị ký ức giam cầm
trong đời sống. Và luôn xem ký ức là một phần của lịch sử!
3-
Việt Nam chọn độc tài hay dân chủ? Con đường Tô Lâm đang đi, một loại độc tài cá nhân?
Việc đánh giá vai trò của Tô
Lâm cần nhìn trong toàn cảnh rộng hơn của hệ thống chính trị Việt Nam hiện tại,
thay vì chỉ quy về hình ảnh một cá nhân. Có thể thấy rằng sau khi tập trung cả
vị trí lãnh đạo Đảng và Nhà nước trong một giai đoạn chuyển tiếp, ông Tô Lâm
đang phát đi tín hiệu về tăng cường kỷ luật hệ thống, củng cố quyền lực trung
ương, nâng cao hiệu quả điều hành, và đẩy mạnh chống tham nhũng theo hướng quyết
liệt hơn. Tất cả đều nằm trong những tuyên bố trong những tháng gần đây. Điều
này khiến nhiều người đặt câu hỏi: “Liệu Việt Nam đang tiến gần hơn đến mô hình
“lãnh đạo tập trung quyền lực cá nhân”?
Đó là một câu hỏi hợp lý, nhưng cần phân biệt giữa “tăng quyền lực điều hành trong giai đoạn chuyển đổi”, và “độc tài cá nhân theo kiểu sùng bái lãnh tụ”. Hiện nay, Đảng CS BV vẫn vận hành trên nguyên tắc lãnh đạo tập thể, cân bằng phe nhóm nội bộ, và hệ thống đảng trị chia ra nhiều lớp từ cơ sở đến trung ương. Cho nên, dù quyền lực cá nhân của ông Tô Lâm có vẻ mạnh lên, Việt Nam vẫn chưa giống mô hình Trung Cộng dưới Xi Jinping – Tập Cận Bình, hay Nước Nga dưới Vladimir Putin, nơi quyền lực cá nhân hóa rất cao và gắn với hình tượng lãnh tụ trung tâm.
Tuy nhiên, cũng có những dấu
hiệu cho thấy xu hướng tập trung quyền lực đang làm tăng vai trò của ngành công
an và an ninh nổi bật hơn, kiểm soát tin tức chặt chẽ hơn. Từ đó, củng cố thêm
việc ổn định chính trị cao hơn, và bộ máy nhấn mạnh tính phục tùng, kỷ luật. Điều
này phản ảnh một suy nghĩ một chiều, trong thời kỳ nhiều biến động toàn cầu như
hiện tại, hệ thống cần một trung tâm quyền lực mạnh để tránh rối loạn.
Nhưng ở đây xuất hiện bài toán
quan trọng, quyền lực mạnh có thể giúp cải tổ nhanh, nhưng cũng chứa không ít rủi ro lớn.
Một lãnh đạo tập trung quá nhiều quyền lực có thể ra được quyết định nhanh,
phá vỡ sự trì trệ qua sức ì của bộ máy cộng sản, giải quyết tham nhũng mạnh tay
hơn, và buộc bộ máy vận hành hiệu quả hơn so với trước kia. Nhiều quốc gia Đông
Á từng phát triển nhờ giai đoạn lãnh đạo tập trung tương đối mạnh như Đại Hàn
và Singapore trong những thập niên 70, 80 của thế kỷ trước. Nhưng nguy cơ của mô hình này là vẫn còn thiếu phản biện,
dễ tạo văn hóa sợ hãi, cấp dưới vẫn còn e ngại không dám nói thật, và toàn bộ hệ
thống phụ thuộc vào phẩm chất của một cá nhân. Nếu người đứng đầu sáng suốt, hệ thống có thể vận
hành tốt. Nhưng nếu sai lầm, cả quốc gia có thể trả giá rất lớn vì không còn cơ
chế tự sửa sai nữa.
Đó là lý do các xã hội hiện đại
cuối cùng đều phải quay về thể chế, và cơ chế kiểm soát quyền lực bằng cơ chế
pháp trị thay vì đặt vận mệnh quốc gia vào một cá nhân.
3.1- Hiện tại, có thể gọi là
“độc tài cá nhân” chưa?
Ở thời điểm hiện tại, có lẽ gọi
như vậy vẫn còn sớm và chưa hoàn toàn chính xác. Đúng hơn, Việt Nam hiện nay dường
như đang đi theo xu hướng tập trung hóa quyền lực để củng cố hệ thống và duy
trì ổn định. Câu hỏi quan trọng hơn không phải là “một cá nhân mạnh (Tô Lâm) đến
đâu?” mà là hệ thống có mở ra khả năng tự điều chỉnh, phản biện và kế thừa lành
mạnh hay không? Nếu quyền lực mạnh đi cùng cải cách pháp trị minh bạch hơn, quản
trị hiệu quả hơn, và từng bước mở rộng lòng tin xã hội, thì đó có thể là một giai
đoạn chuyển tiếp.
Nhưng nếu quyền lực ngày càng
tập trung mà phản biện bị thu hẹp, xã hội dân sự bị yếu đi và luôn bị kiểm soát
và bóp chặt, làm cho nỗi sợ tăng lên, và mọi quyết định phụ thuộc vào một trung
tâm quyền lực duy nhất, thì nguy cơ cá nhân hóa quyền lực sẽ ngày càng rõ hơn. Lịch
sử cho thấy điều nguy hiểm nhất cho một quốc gia không phải là có lãnh đạo mạnh,
mà là, khi một hệ thống không còn đủ mạnh để cân bằng chính lãnh đạo đó. Lúc đó
mới là thử thách thật sự cho tương lai chính trị của Việt Nam.
3.2- Tô Lâm có còn đi dây giữa
Trung Cộng và Mỹ không?
Có thể nói rằng Tô Lâm hiện
nay vẫn đang tiếp tục con đường “đi dây chiến lược” giữa TC và Mỹ, nhưng với một
sắc thái khác trước, tức là thực dụng hơn, an ninh hơn và thận trọng hơn. Thật
ra, “đi dây” không phải là lựa chọn riêng của cá nhân ông Tô Lâm, mà gần như là
định mệnh địa chính trị của Việt Nam từ nhiều thế kỷ nay.
Việt Nam có ba thực tế không
thể thay đổi là gần Trung Cộng về địa lý, lệ thuộc lớn vào thương mại toàn cầu,
và cần Hoa Kỳ cùng phương Tây để cân bằng chiến lược. Cho nên, bất kỳ lãnh đạo
nào của Việt Nam cũng phải tìm cách không quá lệ thuộc vào Bắc Kinh, nhưng cũng
không được biến mình thành đồng minh chống Trung Cộng của Washington. Đó là sợi
dây rất khó đi cho Tô Lâm. Có vẻ như dưới thời
ông Tô Lâm, chính sách đối ngoại của Việt Nam chuyển sang cái thế ưu tiên bảo vệ
chế độ và ổn định nội bộ trước hết.
Điều này dẫn đến một số đặc điểm
là Việt Nam vẫn cần Mỹ về kinh tế và
chiến lược để đầu tư công nghệ, có một thị trường xuất cảng lớn, có
chuỗi cung ứng, có chất bán dẫn, và nhứt là cân bằng ảnh hưởng và sức ép của Trung
Cộng. Việc nâng cấp quan hệ Việt – Mỹ lên “đối tác chiến lược
toàn diện” dưới thời TT Biden cho thấy Hà Nội không muốn lệ thuộc hoàn toàn vào
Bắc Kinh. Việt Nam hiểu rất rõ là, nếu chỉ dựa vào Trung Cộng, không gian chiến
lược sẽ bị thu hẹp.
Tuy nhiên, khác với một số nước
khác trong khu vực, Việt Nam vẫn rất cẩn trọng với Bắc Kinh vì vị trí địa lý nằm
sát cạnh, lệ thuộc kinh tế xuất nhập đáng kể, có tương đồng về mô hình chính trị
tập trung, và nỗi lo bất ổn khu vực. Cho nên Hà Nội hiện nay dường như chọn lựa
theo sự cân bằng mà không phải là liên minh. Nghĩa là chấp nhận hợp tác chặt chẽ
hơn với Mỹ, nhưng tránh tạo hình ảnh chống Trung Cộng. (Mời đọc bài viết “Việt
Nam giữa hai gọng kềm Mỹ - Trung”). Đó, mới chính là lý do Việt Nam thường “nhỏ
nhẹ” về ngôn ngữ ngoại giao, tránh phát biểu cực đoan, và duy trì quan hệ đảng–đảng
với Bắc Kinh.
3.3- Yếu tố “an ninh chế độ”
ngày càng quan trọng
Điểm khác biệt đáng chú ý dưới
thời ông Tô Lâm là yếu tố an ninh
chính trị nội bộ nổi bật hơn trước. Điều này khiến Hà Nội có thêm xu
hướng dè chừng ảnh hưởng chính trị của phương Tây, kiểm soát xã hội dân sự chặt
hơn và ưu tiên ổn định hệ thống đảng. Trong cách nhìn này, lãnh đạo Việt Nam có
thể cho rằng, Mỹ hữu ích về kinh tế và công nghệ,
nhưng, ngược lại, Trung Cộng lại “ít gây áp lực thay đổi thể chế” hơn.
Đây mới
chính là nghịch lý chiến lược của Việt Nam là cần Mỹ để mạnh lên, nhưng lại sợ
sức ép giá trị từ Mỹ, và lo Trung Cộng chiếm đất, nhưng cũng cần TC để tránh đối
đầu trực diện.
3.4- Có phải Việt Nam đang
nghiêng hẳn về Trung Cộng?
Hiện tại, có lẽ chưa có thể kết
luận như vậy. Dù cho có nhiều người lo ngại xu hướng tập trung quyền lực, tăng cường
vai trò an ninh quốc gia, và siết chặt không gian chính trị,
Việt Nam vẫn tiếp tục đi vào hội nhập kinh tế phương Tây, ký những văn bản hợp
tác quốc phòng với Mỹ, Nhật, Ấn Độ, Úc, và châu Âu. Điều này cho thấy Hà Nội vẫn
muốn giữ thế cân bằng chiến lược với Trung Cộng.
Nhưng
thế
giới hiện nay đang phân cực mạnh hơn qua sự cạnh tranh Mỹ–Trung ngày càng gay gắt
hơn, trận chiến công nghệ ngày càng sâu sắc hơn, chuỗi cung ứng năng lượng đang
được tái cấu trúc qua cuộc chiến giữa Mỹ – Do Thái và Iran. Nhìn lại cuộc họp
thượng đỉnh giữa TT Trump và CT Tập Cận Bình vừa qua ngày 14-15/5, và thái độ
“dè chừng” giữa hai lãnh tụ, chúng ta cũng hình dung được sự “e dè” trong việc
tiếp cận của Việt Nam đối với hai quốc gia MỸ, Trung như thế nào rồi. Và trong tình
hình đó, khoảng cách để Việt Nam “đi dây” sẽ ngày càng hẹp dần. Nếu quá gần
Trung Cộng, Việt Nam có nguy cơ mất tự chủ chiến lược. Mà nếu quá gần Mỹ, CSBV
lại lo ngại áp lực chính trị và an ninh của chế độ đến từ TC! Vì vậy, thách thức
lớn nhất của Tô Lâm có lẽ không chỉ là điều hành kinh tế hay kiểm soát nội bộ,
mà sẽ là làm sao giữ được độc lập chiến lược của Việt Nam trong một thế giới
ngày càng phân cực như hiện nay.
Và cuối cùng, điều quyết định
khả năng “đi dây” thành công không phải chỉ là ngoại giao, mà là sức mạnh nội tại
của quốc gia, tăng cường phẩm chất của thể chế, mang lại lòng tin của người
dân, nâng cao trình độ khoa học kỹ thuật, hướng đến giáo dục dân tộc, nhân bản,
và khai phóng, và nhứt là tạo dựng niềm tin và sự đoàn kết dân tộc.
Một quốc gia yếu bên trong thì
sớm muộn cũng bị nghiêng về một phía. Một quốc gia mạnh thật sự mới có khả năng
đứng giữa mà không bị cuốn đi về phía nào hết.
3.5- Hiện tại, Việt Nam đang
đi con đường nào?
Việt Nam hiện nay đang ở trong
một trạng thái vừa chuyển động vì bắt buộc phải đi, phải phát triển; vừa dè dặt
vì phải ngó trước ngó sau; vừa cải cách nhưng cũng phải liếc chừng anh Mỹ hay
anh Trung; vừa tự phòng vệ cả bên trong lẫn bên ngoài từ cả hai phía Đông và
Tây!
Đó mới là cái khó cho Việt
Nam.
Có thể nói ngắn gọn rằng, Việt
Nam đang đi theo hướng mở cửa kinh tế để phát triển, nhưng chưa thật sự mở
tương ứng về thể chế chính trị và không gian mở cho người dân. Nói một cách
khác, nhà
nước hiện nay dường như vẫn ưu tiên ổn định chính trị, tăng trưởng kinh tế và
kiểm soát xã hội, hơn là chấp nhận cạnh tranh chính trị hay phản biện độc lập rộng
rãi.
Tuy
nhiên, bức tranh không hoàn toàn bất động. Có những dấu hiệu cho thấy Việt Nam đang thay đổi. Trong
khoảng ba thập niên qua, Việt Nam đã thay đổi rất sâu qua việc hội nhập vào kinh
tế toàn cầu; tầng lớp trung lưu có tăng trưởng nhưng không đủ nhanh so với tỷ lệ
dân số của lớp người trẻ tuổi và trung lưu; có mở rộng Internet và truyền thông
xã hội, và tăng giao lưu quốc tế.
Ngay cả bộ máy lãnh đạo cũng “đã”
hiểu rằng, một xã hội hiện đại không thể quản lý hoàn toàn bằng mô hình “ba
dòng thác cách mạng” hay “chuyên chính vô sản” của 5,7 thập niên trước nữa. Cho
nên đã xuất hiện một số xu hướng như cải cách hành chính, chống tham nhũng mạnh
hơn nhưng vẫn còn phân biệt đối xử, và đôi khi mở ra không gian góp ý chính
sách có giới hạn cho nhiều “tầng lớp” người dân khác nhau.
Đó là những bước đi thực tế.
Cho dù kinh tế có mở rộng, không gian chính trị và phản biện độc lập vẫn còn nhiều
hạn chế. CSBV hiện nay vẫn lo ngại rằng nếu mở tự do chính trị quá nhanh, hoặc
để sự hình thành đối lập độc lập mạnh và nhanh hơn, có thể dẫn đến bất ổn xã hội,
“diễn biến hòa bình”, phân hóa xã hội, và nhất là đảng sẽ mất quyền kiểm soát.
3.6- Việt Nam có đang đi về hướng
“dung hòa” không?
Có thể nói, trong tình hình thế giới hiện tại, Việt Nam có phần nào dung hòa trong việc quản lý đất nước “cứng” và “mềm”, nhưng chưa được trọn vẹn. Việt Nam đang cố gắng dung hòa phát triển kinh tế thị trường, hội nhập toàn cầu, ổn định chính trị, và bảo tồn vai trò lãnh đạo tập trung.
Nhưng phần “dung hòa” hiện nay nghiêng nhiều về cung cách
quản lý ổn định bằng kiểm soát an ninh chính trị hơn là xây dựng sự ổn định bằng
lòng tin xã hội và pháp trị độc lập. Nhưng
lịch sử thế giới đã cho thấy không quốc gia nào có thể hiện đại hóa lâu dài chỉ
bằng kinh tế, nếu như thể chế, giáo dục, pháp luật và lòng tin xã hội không thể
phát triển tương ứng. Ổn định thật sự không đến từ việc mọi người im lặng,
nhưng sẽ đến một khi đa số người dân tin rằng họ có tương lai, có phẩm giá, có
cơ hội và có quyền được lên tiếng trong khuôn khổ quốc gia.
4-
Thay lời kết
Một quốc gia mạnh là quốc gia
có khả năng cho phép sự khác biệt tồn tại, cho phép người dân phản biện, và có
một nền hành chính dựa trên căn bản pháp trị gồm hành pháp, lập pháp, và tư
pháp. Có thể nói, thách thức lớn nhất của Việt Nam trong tương lai không phải
chỉ là tăng trưởng GDP, mà là xây dựng được một nền ổn định đủ mềm để xã hội có
thể thở, nhưng cũng đủ vững vàng để đất nước không tan rã trong phân cực và cực
đoan.
Đó là một tiến trình dài,
không thể thực hiện trong một sớm một chiều, nhưng cũng không thể trì hoãn mãi
mãi, vì Đất và Nước không còn thì giờ để chờ đợi
nữa…Đối với nhiều người Việt Nam, đặc biệt là thế hệ từng sống
qua chiến tranh hay thời bao cấp, “ổn định” gần như trở thành một giá trị
thiêng liêng. Bởi họ hiểu rất rõ giá của sự bất ổn làm cho xã hội tan rã, kinh
tế suy sụp, con người mất phương hướng, và đất nước dễ trở thành sân chơi cho
ngoại bang.
Từ đó, xuất hiện một tâm lý
chính trị khá phổ biến “Thà hy sinh một phần tự do để giữ ổn định còn hơn có tự
do mà hỗn loạn.” Chính tâm lý làm cho người dân ngày càng “tích tụ” thêm “sức ì”
và đảng ngày càng dậm chân tại chỗ, đưa đất nước vào sự … trì trệ triền miên. Nhưng
vấn đề của Việt Nam là, liệu sự ổn định bằng kiểm soát chặt chẽ có thật sự là nền
tảng bền vững cho tương lai hay không? Chắc chắn là sự ổn
định không đồng nghĩa với phát triển bền vững.
Nhiều chế độ chính trị trong lịch sử từng rất “ổn định” trên bề mặt, từ báo chí đồng loạt đăng tải một luận điệu, một tin tức thống nhất và một chiều, xã hội ít có phản kháng, tiếng nói đối lập bị hạn chế hay bị bóp nghẹt, và người dân im lặng vì không thể nào làm khác hơn.
Trong lúc đó, từ trong lòng đảng
viên và cán bộ lại âm thầm tích tụ sự tham nhũng, sự bất công, sự trì trệ, sự sợ
hãi lẫn nhau, và từ đó sẽ mất lòng tin vào đảng!
Khi những áp lực ấy vượt ngưỡng
chịu đựng được của con người, sự sụp đổ thường đến rất nhanh và bất ngờ, không
lường trước được.
·
Kinh nghiệm Liên Sô - Soviet Union từng là siêu
cường quân sự hùng mạnh, nhưng cuối cùng tan rã không phải vì thiếu vũ khí, mà
vì mất sức sống nội tại.
·
Romania dưới thời Nicolae Ceaușescu cũng từng
được xem là ổn định tuyệt đối. Nhưng sự ổn định ấy dựa trên sợ hãi hơn là đồng
thuận.
Một xã hội mà người dân không
dám nói thật thường là một xã hội mà chính quyền cũng không nghe được sự thật. Và
đó là điều nguy hiểm nhất cho mọi quốc gia. Ở chiều ngược lại, nhiều người cổ
vũ dân chủ thường quá lý tưởng hóa nó, như thể chỉ cần có bầu cử đa đảng là mọi
vấn đề sẽ được giải quyết. Kinh nghiệm lịch sử cho thấy điều đó cũng không
đúng. Một nền dân chủ nếu thiếu một chính sách pháp trị, nền giáo dục công dân,
không gian văn hóa đối thoại, tầng lớp trung lưu đủ mạnh, và thể chế độc lập,
có thể nhanh chóng rơi vào chính sách dân túy, cực đoan, tạo ra phân cực xã hội,
tranh giành quyền lực như Hoa Kỳ hiện tại.
Cho nên, nếu nói “độc tài là xấu,
dân chủ là tốt” thì đó cũng chỉ là một cách nhìn đơn giản hóa. Vấn đề cốt lõi
không nằm ở khẩu hiệu chính trị, mà ở phẩm chất của chế độ và trình độ trưởng
thành của xã hội.
Do đó, lịch sử nhân loại cho thấy con
đường phát triển bền vững nhất thường nằm ở giữa hai cực đoan ấy. Một quốc gia
muốn đi xa cần phải có một trật tự xã hội để không bị tan rã, nhưng cũng cần phải
có đủ tự do để người dân không bị nghẹt thở. Ổn định thật sự không
phải là khi mọi người phải im lặng và đi theo tấm bảng chỉ đường của đảng, mà
là khi con người có thể nói khác nhau, phê bình chính sách không thích hợp của
đảng mà đất nước vẫn không đổ vỡ, cũng như được thích nghi với những phản biện
chính đáng.
Và dân chủ sẽ trở nên trưởng
thành không phải là ai thắng ai, mà là tạo ra một cơ chế để xã hội tự sửa sai
mà không cần cách mạng hay bạo lực. Đó có lẽ là bài toán lớn nhất của Việt Nam
trong thế kỷ XXI gồm những điểm sau đây như chuyển từ sự ổn định của sợ hãi sang
sự ổn định của lòng tin của người dân, chuyển từ việc quản lý xã hội bằng kiểm
soát sang việc hướng dẫn xã hội bằng tính chính danh, sự xuyên suốt (transparency),
và năng lực thực sự của chính quyền.
Nếu Việt Nam dần chuyển được từ việc ổn định chính trị bằng kiểm soát sang việc ổn định bằng sự đồng thuận và lòng tin của người dân thì đất nước có cơ hội bước vào một giai đoạn trưởng thành mới.
Nếu không, mô hình hiện tại có
thể vẫn vận hành được một thời gian, nhưng sẽ ngày càng đối mặt với áp lực từ
chính một xã hội đang thay đổi rất nhanh và lúc đó, CSBV sẽ không còn khả năng
để trấn áp…và, sẽ tan rã mà thôi.
Vì vậy bài học cốt lõi cần rút
ra là, một đất nước không thể phát triển bền vững nếu không có thể chế chính trị
dung hợp, không có nền đạo lý chung làm điểm tựa, và không có tinh thần hòa giải
thực chất sau chiến tranh. CSBV, cho đến nay vô hình chung vẫn tạo ra hai “dân
tộc”, dân tộc của “kẻ chiến thắng thống trị”, và dân tộc của “kẻ thua trận bị
trị”. Chính vì vậy mà Việt Nam vẫn còn èo uột trong kinh tế và không có thế đứng
trên bình diện thế giới được.
Xin mượn kết luận của bài viết
“Từ Nội Chiến Hoa Kỳ đến Cuộc chiến Việt Nam - Bài học về thể chế, hòa giải và
tương lai dân tộc” của người viết để kết thúc phần phiếm luận về Dân chủ và Độc
tài dưới đây:”Để hướng tới một tương lai chung, Việt Nam
cần thực hiện một cuộc thức tỉnh đạo lý và tái lập nền tảng về thể chế, không
phải bằng thù hận hay phủ nhận quá khứ, mà bằng sự trung thực lịch sử, đối thoại
xã hội, và cam kết xây dựng một quốc gia của tất cả người Việt, không phân biệt
nguồn gốc hay lập trường chính trị. Thực hiện được điều trên, người cộng sản Bắc
Việt cần phải đủ can đảm để sám hối, cải sửa những sai lầm trong quá khứ hầu
mong Việt Nam có thể chuyển mình theo chiều hướng dân chủ hóa đất nước trong những
ngày sắp đến.
Mong lắm thay!
Tương lai dân tộc
không nằm trong sự lặp lại của quá khứ, mà nằm trong khả năng học hỏi từ nó để
làm khác đi và làm tốt hơn.”
Mai
Thanh Truyết
Con đường
Việt Nam
Tháng
5 - 2026
No comments:
Post a Comment