Friday, October 23, 2020

 


Nhà Văn Quân Đội Hải Triều Lê Khắc Anh Hào

Đã Vĩnh Viễn Ra Đi 

... Nhưng rất tiếc anh đã “thất hứa”. Anh đã ra đi... 

“Anh Bình ơi, Tiến Sĩ Mai Thanh Truyết vừa báo qua email cho anh em mình biết, anh Hải Triều đã qua đời rồi. Buồn quá anh Bình ơi”. Đó là lời nói mà tôi nhận được qua cú điện thoại từ ông Đoàn Trọng Hiếu, người có biệt danh là Biệt Động Quân Đoàn Trọng Hiếu, cho tôi biết lúc tôi đang lái xe từ nơi làm việc về nhà vào tối hôm qua Thứ Năm, ngày 6 tháng 12 năm 2018. 

Tin tức về Nhà Văn Quân Đội Hải Triều, chủ bút báo Nguyệt San Việt Nam tại Vancouver BC, Canada qua đời, khiến lòng tôi thật buồn. Tôi có khá nhiều kỷ niệm với ông Hải Triều trong thời gian ông nhận lời cộng tác thường xuyên với tôi trên chương trình hội luận chính trị “Chúng Ta và Thời Cuộc” do tôi điều hợp hằng tuần trên làn sóng đài Tiếng Nước Tôi tại Atlanta, GA và Đài Phát Thanh Việt Nam tại Oklahoma City, để chống cộng. 

Về đến nhà, tôi mở email thì nhận được những dòng chữ tuy ngắn nhưng có thể nói là “buồn thúi ruột” từ một số đàn anh mà tôi hân hạnh được làm việc chung, qua các chương trình chống cộng trên làn sóng phát thanh và báo chí. 

– Tiến Sĩ Mai Thanh Truyết thông báo: “Xin thông báo, Hải Triểu ra đi rồi các bạn ơi. Buồn quá” 

BĐQ Đoàn Trọng Hiếu than rằng: “Đường thì còn xa tận cuối chân trời mà anh em mình cứ lần lượt nằm lại dọc đường.” 

Giáo Sư Ngô Quốc Sĩ còn buồn hơn: “Các bạn ơi! Anh Hải Triều ra đi đột ngột quá. Chúng ta mất dần những tiếng nói đấu tranh trong khi cộng sản còn thống trị đất nước! Thật buồn và lo cho tương lai Việt Nam.” 

Mới vài tuần trước, tôi có gọi thăm thì được người nhà ông cho biết rằng ông mới vào bệnh viện trở lại, nhưng chắc không có gì đáng ngại. Chúng tôi đã biết ông ngã bệnh từ lâu và tôi là người thường thay quý anh em trong nhóm  để liên lạc thăm hỏi và báo cáo tình trạng sức khỏe của ông cho mọi người. 

Sáng nay Thứ Sáu, 7 tháng 12 năm 2018 tôi thức dậy sớm và viết mấy dòng như sau: Buồn thật buồn. Nghe tin buồn và đọc mấy lời than của quý anh lại càng buồn thêm. Mấy vị cao niên chống cộng quyết liệt thì lần lượt ra đi, còn các bạn trẻ và những người mơ hồ về VC, thì lại không hiểu tại sao có những người chống cộng… tới chiều như thế.  

Thôi cứ để anh Hải Triều đi trước. Riêng anh em mình hãy cố nhớ câu này để mà tiếp tục chống cộng: (God put me on this earth to accomplish a certain number of things. Right now I am so far behind that I will never die. – Bill Watterson). Xin phép tạm thoát dịch: Thiên Chúa cho tôi xuống trần gian để hoàn thành một số công việc nhất định. Nhưng cho đến nay, còn nhiều việc tôi vẫn làm chưa xong, cho nên tôi sẽ không bao giờ chết. 

Nhà Văn Quân Đội Hải Triều tham gia “Mạng Lưới Dân Tộc – Dân Chủ – Hành Động” ngay từ những ngày đầu vào tháng Giêng năm 2017. Nhóm chủ trương gồm có: Tiến sĩ Mai Thanh Truyết, Giáo sư Ngô Quốc Sĩ, Nhà văn Hải Triều, BĐQ Đoàn Trọng Hiếu và tôi là Huỳnh Quốc Bình. Phía thành viên cộng tác thì có Nhà văn ThụyVi, nhà biên khảo Long Điền Vương Văn Giàu…

 Cũng vào thời điểm ấy, chúng tôi đã song song thực hiện chương trình phát thanh “Tiếng Dân Việt” www.tiengdanviet.net 

Tính đến ngày hôm nay, chúng tôi đã có tất cả 63 lần hội luận chính trị để phát thanh về trong nước. Cuộc hội luận đầu tiên có tiêu đề: “Nước Đã Tràn Bờ”. Quý độc giả, thính giả và thân hữu có thể nghe giọng nói của năm anh em chúng tôi, trong đó có Nhà Văn Hải Triều, tại đây: https://tiengdanviet.net/2017/01/14/tieng-dan-viet-1-nuoc-da-tran-bo/

 Nhà Văn Quân Đội Hải Triều là cộng tác viên thường trực với cá nhân tôi trên chương trình “Chúng ta và thời cuộc”. Có những vấn đề thời sự nào cần phải nói gấp cho kịp thời gian tính, thì tôi chỉ cần gọi cho ông biết trước vài mươi phút, ông không ngần ngại cùng với tôi lên làn sóng phát thanh ngay lập tức. Có lần ông còn vui tính nói đùa: “Tưởng gì chứ đục thằng VC là có tôi chơi liền…” 

Ông đã cùng tôi thực hiện nhiều cuộc hội luận chính trị trên chương trình “Chúng ta và thời cuộc”. Sau đây là một trong những chương trình tiêu biểu mà ông và BĐQ Đoàn Trọng Hiếu đã cùng tôi có những nhận xét về về cuộc đấu tranh chống cộng qua một đề tài: “Nhìn Về Cuộc Đấu Tranh Chống Cộng Trong Nước”. Quý độc giả và thính giả có thể nghe giọng nói quyết liệt của ông tại đây:

https://huynhquocbinh.net/2017/02/15/audio-nhin-ve-cuoc-dau-tranh-chong-cong-trong-nuoc/ 

Nhà Văn Quân Đội Hải Triều cũng từng bị chụp mũ là cộng sản, nên ông đã tổ chức những buổi tập họp theo hình thức họp báo, để công khai thách thức những kẻ chụp mũ ông là cộng sản có thể xuất hiện, để giáp mặt với ông; nhưng rất tiếc họ không có mặt trong những lần như thế. Ông có tặng cho tôi những DVD các hình ảnh đó. 

Ngoài ra năm 2009 ông cũng đã xuất bản một quyển sách có tên là “Chụp Mũ”. Ông tặng cho tôi quyển sách này để tôi có thể hiểu thêm về những mánh khóe mà kẻ gian đã chụp mũ ông như thế nào. Sách dày 146 trang, với nhiều dữ kiện và các bài tranh luận, bút chiến vô cùng phức tạp. Sách được mở đầu bằng các dòng thơ với bút hiệu Lê Khắc Anh Hào: 

Gươm thù phủ áo quốc gia

Bút nghiên cạn mực, gian tà bủa vây

Đời ta còn được bao ngày

Ngẩng lên thẹn mặt, cau mày núi sông

Ra đi trái đất nửa vòng

Mà thù xưa vẫn chất chồng đuổi theo. 

Tháng Giêng 2017 chúng tôi cũng đã cùng ông thực hiện một chương trình hội luận nói về tình trạng kẻ gian chụp mũ người chống cộng là “cộng sản”. Quý độc giả và thính giả có thể nghe giọng nói danh thép của ông tại đây:

https://huynhquocbinh.net/2017/01/17/chup-mu/

 Trong thời gian quen biết với ông, ít khi tôi nghe ông nói về “cái ta” của ông. Khi viết bài này, tôi phải thu thập từ nhiều nguồn cho một số dữ kiện liên quan đến cuộc đời và các sinh hoạt của ông, hầu cho ai muốn tìm hiểu thêm về ông có dịp tham khảo. Nếu phần này có điều chi sơ sót, xin mọi người thông cảm và cho chúng tôi có cơ hội điều chỉnh. 

Nhà Văn Hải Triều tên thật là Lê Khắc Hai, sinh quán tại Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận. Từng theo học Đại Học Vạn Hạnh Sài Gòn. Tốt nghiệp cử nhân văn khoa, Ban Báo Chí. Tốt nghiệp trường Bộ Binh Thủ Đức khóa 23. Trước 1975 ông viết dưới các bút hiệu như Hải Triều, Bắc Phong, Thi sĩ Lê Khắc Anh Hào. Ông là Biên Tập Viên báo Sóng Thần. Sau 1975, bị tù cải tạo 5 năm tại các trại Kà Tốt, Sông Mao, Tham Văn, Bình Tu. Năm 1980 vượt biển tìm tự do. Ông ở trại tỵ nạn Pulau Bidong 8 tháng và định cư tại Canada tháng Mười cùng năm. Ông là Chủ Bút báo Lửa Việt, Nguyệt San Việt Nam tại Canada. Ông có nhiều văn, thơ tranh đấu đã xuất bản. Ông thường xuyên phát biểu trên các diễn đàn Paltalk với các tên lamsơn, bắctiến, bắcphong. 

Những tác phẩm Thơ của Lê Khắc Anh Hào đã xuất bản: Đường Tổ Quốc 1998 – Sỏi đá còn hờn cơn quốc biến 1990 – Tự thuở vầng trăng vỡ cuối nguồn 1997- Thắp lửa vào thơ 2000 (LKAH, Ý Yên, Trần Thúc Vũ)- Đoạn trường lưu vong 2004- Đêm đợi bình minh 2012 và Lục bát đen thời đại Hồ Chí Minh 2013- Chinh phụ ngâm khúc Việt Nam Cộng Hòa/thời binh lửa.

Văn xuôi đã xuất bản: Vết hằn để lại nghìn sau 1997 (biên khảo) - Chim non trong cơn bão 2001(truyện) – Những trận đánh không tên 2003 – Vũng lầy văn báo hải ngoại 2004 – Mùa Xuân Đen (truyện, ký, tản mạn), dày 248 trang, gồm 37 bài viết ở nhiều thể loại, mở đầu bằng một hình ảnh buồn trong trí nhớ, ghi lại qua bút ký về người nữ tù mà tác giả gặp khi bị giam cùng Trại Thẩm Vấn Phan Thiết. 

Lần sau chót tôi trao đổi với ông qua email và điện thoại vào tháng 5 năm 2018. Ông cũng gởi cho anh em chúng tôi bài Thơ sau chót mà ông sáng tác. “Nước mắt Thủ Thiêm!” 

Từ Thủ Thiêm tới Nam Quan

Nam Quan đã mất, lệ tràn Thủ Thiêm

Mưa hay lệ đổ bên thềm

Cửa nhà tan nát không kềm lệ sa!

Đời dân không cửa không nhà

Đời đảng ngôi báu gọi là quang vinh

Giải phóng hóa ra cực hình

Bóng ma cách mạng thất kinh cõi người!

Thành Hồ liệm tắt tiếng cười

Thủ Thiêm tan tác đất trời hận căm

Đảng hồ ngự trị trăm năm

Ba miền Nam Bắc âm thầm ngục đen! 

Dù từ bệnh viện mới về nhưng ông cũng quyết liệt nói với tôi là anh em hãy cố gắng chờ ông thêm vài tháng, ông hứa sẽ trở lại để cùng chúng tôi chiến đấu “chống cộng tới chiều”. Ông còn nói thêm: “Tôi danh dự là tôi sẽ cùng với anh Bình và các anh em mình chiến đấu chống cộng đến hơi thở cuối cùng…” 

Nhưng rất tiếc anh đã “thất hứa”. Anh đã ra đi. 

Tôi viết bài này để tưởng nhớ, để bày tỏ lòng kính trọng một nhà văn nhà thơ, chiến sĩ của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, người không còn được cầm súng chiến đấu nhưng tiếp tục cầm viết để đánh cộng.

Em xin vĩnh biệt anh Hải Triều, ông anh khả kính, một chiến hữu, một người bạn vong niên thật chí tình. Cầu xin Ơn Trên cho linh hồn anh được vào chốn Vĩnh Hằng và an ủi những người thân yêu của anh đang đau buồn, thương tiếc trước sự ra đi của anh. Vĩnh biệt anh!

 

Huỳnh Quốc Bình

(503) 949-8752

Viết xong tại Salem, Oregon, USA vào lúc 11:30 giờ khuya Thứ Sáu, ngày 7 tháng 12 năm 2018

 









Thursday, October 22, 2020

 

Đừng tưởng

Thi sĩ Bùi Giáng

Đừng tưởng cứ núi là cao

Cứ sông là chảy cứ ao là tù

Đừng tưởng cứ dưới là ngu

Cứ cao là sáng cứ tu là hiền.

Đừng tưởng cứ đẹp là tiên

Cứ nhiều là được cứ tiền là xong

Đừng tưởng không nói là câm

Không nghe là điếc không trông là mù

Đừng tưởng cứ trọc là sư…

Cứ vâng là chịu cứ ừ là ngoan

Đừng tưởng có của đã sang…

Cứ im lặng tưởng là vàng nguyên cây

Đừng tưởng cứ uống là say…

Cứ chân là bước cứ tay là sờ

Đừng tưởng cứ đợi là chờ…

Cứ âm là nhạc cứ thơ là vần

Đừng tưởng cứ mới là tân…

Cứ hứa là chắc cứ ân là tình

Đừng tưởng cứ thấp là khinh…

Cứ chùa là tĩnh cứ đình là to

Đừng tưởng cứ quyết là nên…

Cứ mạnh là thắng cứ mềm là thua

Đừng tưởng cứ lớn là khôn….

Cứ bé là dại, cứ hôn… là chồng

Đừng tưởng giàu hết cô đơn…

Cao sang hết ốm, tham gian hết nghèo

Đừng tưởng cứ gió là mưa…

Bao nhiêu khô khát trong trưa nắng hè

Đừng tưởng cứ hạ là ve…

Sân trường vắng quá ai khe khẽ buồn…

Đừng tưởng thu lá sẽ tuôn…

Bao nhiêu khao khát con đường tình yêu.

Đừng tưởng cứ thích là yêu…

Nhiều khi nhầm tưởng bao điều chẳng hay

Đừng tưởng vua là anh minh…

Nhiều thằng khốn nạn, dân tình lầm than.

Đừng tưởng đời mãi êm đềm…

Nhiều khi dậy sóng, khó kềm bản thân.

Đừng tưởng cười nói ân cần…

Nhiều khi hiểm độc, dần người tan xương.

Đừng tưởng trong lưỡi có đường…

Nói lời ngon ngọt mười phương chết người

Đừng tưởng cứ chọc là cười…

Nhiều khi nói móc biết cười làm sao

Đừng tưởng khó nhọc gian lao…

Vượt qua thử thách tự hào lắm thay

Đừng tưởng cứ giỏi là hay…

Nhiều khi thất bại đắng cay muôn phần

Đừng tưởng nắng gió êm đềm…

Là đời tươi sáng hóa ra đường cùng

Đừng tưởng góp sức là chung…

Chỉ là lợi dụng lòng tin của người

Đừng tưởng cứ tiến là lên…

Cứ lui là xuống, cứ yên là nằm

Đừng tưởng rằm sẽ có trăng…

Trời giăng mây xám mà lên đỉnh đầu

Đừng tưởng cứ khóc là sầu…

Nhiều khi nhỏ lệ mà vui trong lòng

Đừng tưởng cứ nghèo là hèn…

Cứ sang là trọng, cứ tiền là xong.

Đừng tưởng quan chức là rồng

Đừng tưởng dân chúng là không biết gì.

☆☆☆

Đời người lúc thịnh, lúc suy

Lúc khỏe, lúc yếu, lúc đi, lúc dừng.

Bên nhau chua ngọt đã từng

Gừng cay, muối mặn, xin đừng quên nhau.

Ở đời nhân nghĩa làm đầu

Thủy chung sau trước, tình sâu, nghĩa bền.

Ai ơi nhớ lấy đừng quên…!














 


Friday, October 16, 2020

 

Thưa Bà Con,

YourStory kỳ nầy xin giới thiệu một nhạc sĩ du ca Nguyễn Đức Quang.Ông sinh năm 1944 ở Sơn Tây (miền Bắc Việt Nam). Tháng 4 năm 1954, cha ông (là viên chức trong ngành giáo dục) được điều động vào Sài Gòn. Nguyễn Đức Quang – lúc đó mới 10 tuổi, theo cha mẹ vào Nam. Sau hiệp định Genève (tháng 7 năm 1954), đất nước bị chia đôi, gia đình Quang cũng bị chia cắt: người anh cả cùng ba người chị gái ở lại miền Bắc, chỉ có ông và đứa em trai út sống ở miền Nam.

Về tác phẩm của ông, phải kể đến những bài: "Chiều qua Tuy hòa", "Việt Nam Quê hương ngạo nghễ", "Về với Mẹ Cha", "Bên kia sông", "Xin chọn nơi này làm Quê hương"…

Trong phong trào Hướng đạo Việt Nam, ông là một hướng đạo sinh và một trưởng hướng đạo.

Năm 1979 ông vượt biên sang Hoa Kỳ tỵ nạn và định cư ở Little Saigon, California. Ông hợp tác với các Nhật báo Người Việt, Viễn Đông rồi sau đó đứng ra lập tuần báo Chí Linh và Nguyệt san Phụ nữ Diễn đàn. Một thời ông cũng đóng góp trên chương trình phát thanh và truyền hình VOC. Hướng đạo Việt Nam đã tặng ông giải thưởng cao quý nhất: Bắc đẩu huân chương.

Sau một thời-gian lâm trọng bệnh sau khi bị tai biến mạch máu não, ông từ trần lúc 04:00 sáng ngày 27 tháng 3 năm 2011 tại tiểu bang California, Hoa Kỳ.

***

Nhớ Về Nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang


Năm 1968, lúc đó tôi đang ở Besancon, Pháp. Hội đàm Paris gồm Việt Nam Cộng Hòa, Bắc Việt, Mặt Trận Giảo phóng miền Nam, và Hoa Kỳ bắt đầu nhóm họp vào tháng 5 tại Paris.

Các buổi họp hàng tuần thật gay gắt chỉ nhắm vào vị trí của từng phái đoàn, và hình thể chiếc bàn vuông hay bàn tròn… Sau cùng, phải mất hơn sáu tháng mới chọn bàn hình bầu dục làm bàn họp!

Tinh thần sinh viên, đặc biệt là Tổng hội Sinh viên tại Paris lúc đó rất hăng say. Tôi hầu như chạy lên Paris hàng tuần trưa thứ sáu, ngay sau khi ra khỏi phòng thí nghiệm. Vì như cầu, tôi, lúc đó là Tổng thư ký Hội sinh viên Besancon, đề nghị thành lập tờ báo để góp mặt vào phong trào đấu tranh ủng hộ Việt Nam Cộng Hòa.

Tờ báo có tên là TIẾNG NÓI, quay bằng rénéo mượn của một Cha giáo xứ tại đây (Anh Nguyễn Ngọc Lân phụ trách trình bày hiện đang ở tại Orlando). Báo hoàn toàn do anh chị em sinh viên cùng một số mạnh thường quân tức bà con cư ngụ trong vùng Franche Comté (là tỉnh và Besancon là thi xã của tỉnh). Thời đó, Người Việt mình chưa có business nào hết.

Tinh thần anh chị em sinh viên rất cao lúc đó, hàng tuần thường sinh hoạt tại giáo xứ hay tại câu lạc bộ của ký túc xá. Và bài hát khởi đầu luôn luôn là bài “Không phải là lúc…” của Nguyễn Đức Quang được tôi khởi xướng. Và cũng chính bài hát nầy, tôi đã đưa GS Nguyễn Ngọc Huy (Cố vấn của Phái đoàn VNCH) và BS Trần Văn Bình, bác sĩ riêng của Cụ Trần Văn Hương, lúc đó là Tùy viên Văn hóa của Tòa Đại sứ VNCH đi cùng khắp các tỉnh miền Đông nước Pháp như Colmar, Belfort, Mulhouse, Strasbourg, Nancy…

Anh nhạc sĩ du ca ơi!

Tôi không quên anh, những lời “Không phải là lúc ta ngồi đặt vần đề…” tôi đã được nghe anh và Đinh Quang Anh Thái hát trong một buổi du ca tại nhựt báo Người VIệt cách đây không lâu vẫn còn văng vẳng đâu đây.

Tôi và những anh chị em sinh viên tranh đấu thời đầu 1960 sẽ không bao giờ quên anh đâu anh Quang. Anh ra đi, nhưng tối thiểu anh còn để lại cho những anh chị em cùng thế hệ với nhau ngọn lửa đấu tranh cho chính nghĩa thích ứng với dòng máu năng động và hăng say của tuổi thanh niên.

Và bây giờ và mãi mãi về sau, anh vẫn còn để lại cho hậu thế niềm tin sắt son để làm một cái gì cho tổ quốc là…” làm việc đi không lo khen chê, làm việc đi hãy say và  mê cứ bắt tay gan lì chúng ta giải quyết. Mình chậm chân đi sau người ta, mà ngồi đây mãi lo viễn vông, thắc mắc ngại ngùng biết bao giờ.mới làm xong”.

Lời ca của anh đã là một kim chỉ nam cho tôi không những ngày còn là thanh niên, mà vẫn còn tiếp tục trong tôi, một “ông già” chỉ còn một tuổi nữa và được xếp vào “thất thập cổ lai hy”. Tôi không đặt vấn đề với anh em, nhưng chắc chắn tôi đặt vấn đề những người đang tàn phá Đất và Nước của chúng ta, thưa anh Quang.

Dù lớn hơn anh hai tuổi, tôi vẫn tiếp tục con đường anh đã vạch ra và cố gắng nuôi dưỡng tinh thần thanh niên khai phá cho tương lai của anh mà không nề hà, do dự, cũng như chùng bước trước mọi trở ngại.

Anh Nguyễn Đức Quang ơi!

Ngồi trong office, mặc dù tôi đã đủ tuổi về hưu từ hơn 3 năm qua, mặc dù tôi không còn lo nghĩ về tài chánh cho tương lai nữa, nhưng tôi vẫn tiếp tục bước đi cho trọn con đường đời của một người trai thời loạn.

Anh Quang ơi!

Anh mất đi nhưng anh không chết!

Lịch sử Việt Nam sẽ mãi mãi ghi tên một người con nước VIỆT lúc nào cũng nặng lòng với non sông.

Vĩnh biệt anh,


 

 

 



 

Thưa Bà Con,

Xin chuyển lại bài thơ…bài học vỡ lòng cho trẻ em lên sáu.

Có mấy ai còn nhớ bài thơ này của Tản Đà viết cho trẻ con lên sáu nầy?

Bài viết cách đây 100 năm.  (1919 - 2019)

Trang Thao


·

Có mấy ai còn nhớ bài thơ này của Tản Đà viết cho trẻ con lên sáu.

 Bài viết cách đây 100 năm.  (1919 - 2019)

Sách quốc ngữ

Chữ nước ta,

Con cái nhà

Đều phải học.

Miệng thì đọc

Tai thì nghe

Đừng ngủ nhè

Chớ láu táu

Con lên sáu

Đang vỡ lòng

Học cho thông

Thầy khỏi mắng.

Trong trời đất

Nhất là người

Ở trên đời

Hơn giống vật

Con bé thật

Chưa biết gì

Còn ngu si

Phải dạy bảo

Cho biết đạo

Mới nên thân

Sau lớn dần

Con sẽ khá

Ai đẻ ta

Cha cùng mẹ

Bồng lại bế

Thương và yêu

Ơn nhường bao

Con phải ngẫm

Áo mặc ấm

Mẹ may cho

Cơm ăn no

Cha kiếm hộ

Cha mẹ đó

Là hai thân

Hai thân là

Là thân nhất

Trong trời đất

Không ai hơn

Con biết ơn

Nên phải hiếu

Nghĩa chữ hiếu

Đạo làm con

Con còn non

Nên học trước

Đi một bước

Nhớ hai thân

Con còn nhỏ

Có mẹ cha

Lúc vào ra

Được vui vẻ

Con còn bé

Mẹ hay chiều

Thấy mẹ yêu

Chớ làm nũng

Đã đi học

Phải cho ngoan

Hay quấy càn

Là chẳng hiếu.

Con còn bé

Mẹ hay lo

Ăn muốn cho

Lại sợ độc

Con ốm nhọc

Mẹ lo thương

Tìm thuốc thang

Che nắng gió

Con nghĩ đó

Sao cho ngoan

Hay ăn càn

Là chẳng hiếu

Anh em ruột

Một mẹ cha

Mẹ đẻ ra

Trước sau đó

Cùng máu mủ

Như tay chân

Nên yêu thân

Chớ ganh tị

Em coi chị

Cũng như anh

Trước là tình

Sau có lễ

Người trong họ

Tổ sinh ra

Ông đến cha

Bác cùng chú

Họ nội đó

Là tông chi

Cậu và dì

Về họ mẹ

Con còn bé

Nên dạy qua

Còn họ xa

Sau mới biết

Người trong họ

Có bề trên

Lạ hay quen

Đều phải kính

Có khách đến

Không được đùa

Ai cho quà

Đừng lấy vội

Ông bà gọi

Phải dạ thưa

Phàm người nhà

Không được hỗn

Con bé dại

Mãi vui chơi

Muốn ra người

Phải chăm học

Miệng đang đọc

Đừng trông ngang

Học dở dang

Đừng có chán

Học có bạn

Con dễ hay

Mến trọng thầy

Học chóng biết

Dậy con biết

Phép vệ sinh

Ăn quả xanh

Khó tiêu hoá

Uống nước lã

Có nhiều sâu

Áo mặc lâu

Sinh ghẻ lở

Mặt không rửa

Sinh u mê

Đang mùa hè

Càng phải giữ

Các giống vật

Thật là nhiều.

Như con hươu

Ở rừng cỏ

Như con chó

Nuôi giữ nhà

Con ba ba

Loài máu lạnh

Loài có cánh

Như chim câu

Còn loài sâu

Như bọ róm

Cây và cỏ

Có khác loài

Trông bề ngoài

Cũng dễ biết

Như cây mít

Có nhiều cành

Lúa,. cỏ gianh

Có từng đốt

Còn trong ruột

Lại khác nhau.

Vài nămn sau

Con biết kỹ

Đá bờ sông

Không sống chết

Không có biết

Không có ăn

Không người lăn.

Cứ nằm đây

Như đá cuội

Như đá xanh

Như mảnh sành

Như đất thó

Các vật đó

Theo loài kim

Các loài kim

Tìm ở đất

Nhất là sắt

Nhì là đồng

Làm đồ dùng

Khắp trong nước

Như vàng bạc

Càng quý hơn

Đúc làm tiền

Để mua bán.

Ai có vạn

Là người giàu.

Vốn xưa là

Nhà Hồng Lạc

Nay tên nước

Gọi Việt Nam

Bốn nghìn năm

Ngày mở rộng

Nam và Bắc

Ấy hai miền

Tuy khác tên

Đất vẫn một

Lào, Miên, Việt

Là Đông Dương

Đầu trị nước

Đức Kinh dương

Truyển Hùng Vương

Mười tám chúa

Qua mấy họ

Quân Tàu sang

Vua Đinh hoàng

Khai nghiệp đế

Trải Đinh, Lý

Đến Trần, Lê

Nay nước ta

Là nước Việt

Chữ nước ta

Ta phải học

Cho trí óc

Ngày mở mang

Muốn vẻ vang

Phải làm lụng

Đừng lêu lổng

Mà hư thân

Nước đang cần

Người tài giỏi

Cố học hỏi

Để tiến nhanh

Vừa ích mình

Vừa lợi nước

Chớ lùi bước

Là kẻ hèn

Nguồn: Lên sáu, Nghiêm Hàm ấn quán xuất bản, 1924














Thursday, October 15, 2020

 

Thưa Bà Con,

Sau Issac Newton và Shakespeare, người thứ ba đã thăng hoa trong thời gian cách ly của trận đại dịch hạch năm 1484 ở Milan, Ý Đại Lợi là họa sĩ Leonardo da Vinci (1452-1519) người Ý.

***

Leonardo da Vinci lập kế hoạch đô thị cho

thành phố Milan đang bị bệnh dịch

 

Leonardo da Vinci (1452–1519) là một đa khoa người Ý, được coi là “mẫu mực” - epitome của "Con người thời Phục hưng" – Renaissance man, thể hiện các kỹ năng trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu đa dạng. Ngoài nổi tiếng với những bức tranh như Mona Lisa và Bữa ăn tối cuối cùng – Last Supper, Leonardo còn nổi tiếng trong các lĩnh vực kỹ thuật dân dụng, hóa học, địa chất, hình học, thủy động lực học, toán học, kỹ thuật cơ khí, quang học, vật lý, pháo hoa và động vật học.

Ông được coi là thiên tài toàn năng nhất lịch sử nhân loại.

Milan đang bị tàn phá bởi bệnh dịch hạch xảy ra từ năm 1484 đến năm 1485, khiến tổng cộng 50.000 người chết, tức là một phần ba dân số Milan.

Leonardo chứng kiến tình cảnh bi đát của thành phố Milan chật hẹp, bẩn thỉu và đông đúc đang bị tàn phá bởi bệnh dịch, và bắt đầu nghĩ cách cải thiện cấu trúc  kế  hoạch đô thị để thành phố có thể phục hồi và trở nên lành mạnh hơn trong tương lai. Những ý tưởng của ông bao gồm sự tích hợp của các kênh đào và đường nước ngầm, phát triển thành phố theo chiều cao, và phát triển các làn đường dành cho người đi bộ.

Trong khi tất cả các nghiên cứu khoa học của ông chỉ được công nhận trong 150 năm qua, trong suốt cuộc đời của mình, công việc của ông là làm việc cho kỹ thuật và kỹ năng phát minh của mình. Nhiều thiết kế của ông, chẳng hạn như những con đê di động để bảo vệ Venice khỏi bị xâm lược, tỏ ra quá tốn kém hoặc không thực tế.