Thursday, March 26, 2020



Desire – Lý Thuyết Ham Muốn
de·sire 
dəˈzī(ə)r 

Danh từ: Một cảm giác mạnh mẽ “muốn có” một cái gì đó hoặc “mong muốn” một cái gì đó xảy ra.
Động từ: Ham muốn mạnh mẽ trong việc “cho” hoặc “muốn’ một cái gì đó.
Lý thuyết ham muốn cho rằng việc thực hiện một ham muốn đóng góp cho hạnh phúc của một người bất kể lượng niềm vui (hay sự không hài lòng). Một lợi thế rõ ràng của lý thuyết Desire là nó có thể hiểu theo cung cách diễn đạt của Wittgenstein. Ludwig Wittgenstein là một triết gia bị ám ảnh bởi những khó khăn về cách diễn đạt  ngôn ngữ, muốn giúp chúng ta tìm cách thoát khỏi một số vũng bùn mà chúng ta gặp phải trong giao tế, trong diễn đạt, và ngay cả trong suy tư...
Cung cách đó được hiểu theo “Meaning of Language” dưới đây:
Từ đó, chúng ta thấy từ ngữ DESIRE được hiểu theo từng tâm cảm, từng thể trạng của mỗi con người.
Và bài viết chỉ mong trình bày một số suy nghĩ góp nhặt cát đá, suy diễn theo suy nghĩ chủ quan của người viết  nhằm mục đích chia xẻ cùng bạn đọc về một khía cạnh của tư tưởng và tâm ý.
1-    Desire – Ham muốn là gì?
Ham muốn – Desire, Thèm muốn – Craving, Khao khát – Longing. Những từ trên gợi ra cho chúng ta cái cảm giác thúc đẩy con người đạt được hoặc sở hữu một cái gì đó. Ham muốn là một cảm giác mạnh mẽ, xứng đáng hoặc không xứng đáng, đúng đắn hoặc không đúng đắn, thúc đẩy sự chiếm đoạt được hoặc sở hữu một cái gì đó (trong thực tế hoặc trí tưởng tượng).
Ham muốn là ở trong một trạng thái đặc biệt của tâm lý. Đó là một trạng thái tâm lý quen thuộc với tất cả những người đã từng muốn uống nước, muốn ăn một món ăn… hoặc muốn biết những sự kiện gì đã xảy ra cho một người bạn cũ. Nhưng từ sự quen thuộc đó không làm cho chúng ta dễ dàng đưa ra một lý thuyết về ham muốn. Mặc dù có sự tranh chấp trong chính mỗi ham muốn của bản thân, nhưng dù sao chúng ta cũng có thể tự khắc phục ham muốn của chính mình.
Ham muốn là một trạng thái của tâm – ý (heartily spirit) (người viết tự nghĩ ra từ ngữ nầy, không biết có đúng không, xin nhờ chỉ giáo) thường liên quan đến một số hiệu ứng khác nhau: một người ham muốn có xu hướng hành động theo những cách nhất định, cảm nhận theo những cách nhất định và suy nghĩ theo những cách nhất định.
Nếu tôi mong muốn uống trà chẳng hạn, thì tôi thường sẽ tự pha cho mình một tách trà; và nếu tôi không tự cảm thấy mình cần uống trà ngay lập tức, tôi sẽ không cảm thấy cái thôi thúc phải nấu nước sôi để pha trà… Tôi, lúc ấy sẽ thấy ý nghĩ về trà rất dễ chịu (vì không phải làm gì cả!). Từ đó, tôi sẽ thấy suy nghĩ của mình liên tục chuyển sang ý tưởng về trà. Từ đây, tôi sẽ đánh giá rằng trà có vẻ như là một ý tưởng tốt. Và như thế, như thế tiếp tục. Những hiệu ứng khác nhau này đã là trọng tâm trong tâm-ý của tôi về những nỗ lực để phát triển các lý thuyết; và đó chính là lý thuyết của ham muốn.
2-    Triết lý về sự ham muốn

Hiểu được ham muốn đòi hỏi ít nhất hai điều kiện:

·         Thứ nhất, có một lý thuyết về bản thân ham muốn – desire itself;
·         Thứ hai, có một số quen thuộc với các loại ham muốn có được – desire that there are.
Một khi nắm được một sự hiểu biết về ham muốn, chính ta có thể làm sáng tỏ một số tranh cãi chung quanh những điều ham muốn.
Lý thuyết thỏa mãn ham muốn là một dạng chủ nghĩa chủ quan về hạnh phúc theo nghĩa thông thường, theo đó, để có được một cuộc sống tốt (tốt theo suy nghĩ riêng của từng cá nhân) phải làm với thái độ của một người tạo dựng ra một cuộc sống theo lòng ham muốn của mình hơn là bản chất thực sự của cuộc sống.
Có nhiều hình thức khác của chủ nghĩa “chủ quan” (subjectivism):
·         Lý thuyết mục tiêu thành tựu – Aim-achievement theories;
·         Lý thuyết hiện thực hóa giá trị - Value-realization theories;
·         Lý thuyết hạnh phúc – Happiness theories;
·         Và một số hình thức của chủ nghĩa khoái lạc – Hedonism.
Nhưng thực sự, tựu trung tất cả những lý thuyết trên chỉ nhằm thực hiện mục tiêu của lý thuyết “hoàn tất ham muốn” – desire-fulfillment mà thôi.
Còn đối với chủ nghĩa khách quan (objectivism) thì sao?
Các lý thuyết khách quan về hạnh phúc – well-being gồm:
·         Lý thuyết cầu toàn – perfectionism;
·         lý thuyết “danh sách khách quan” – objective- list theories.
Hai quan điểm trên trái ngược với chủ nghĩa chủ quan là: - Ít nhất một số điều liên quan đến bản chất tốt hay xấu (pro/con – attitudes) đối với chúng ta về căn bản nhưng không liên quan đến thái độ của chúng ta. Sự “hoàn tất ham muốn” cũng đóng một vai trò trung tâm trong một số lý thuyết về hạnh phúc, trong đó kết hợp lại các yếu tố chủ quan và khách quan.
Vì vậy, lý thuyết thực hiện ham muốn ngày nay chắc chắn là một trong những lý thuyết hàng đầu về hạnh phúc.
Một số nhà triết học coi “lý thuyết hoàn tất ham muốn” là lý thuyết hàng đầu.
Nếu đó là lý thuyết ngự trị của thế kỷ 20 và 21, lý thuyết nầy không mang lại sự chú ý thời trước đó. Một số nhà triết học cổ đại và trung cổ hàng đầu đã đưa ra quan điểm để từ chối nó. Ví dụ, trong Plato’s Gorgias (C. 380 BCE), chính Callicles, một đệ tử của Socrates đã khẳng quyết rằng:”Ông, người thực sự muốn sống nhằm cho phép những ham muốn của mình được đánh bóng tối đa (he who would truly live ought to allow his desires to wax to the uttermost).
Trong De Trinitate (C. 416 C.E.), Thánh Augustine đã thảo luận ngắn gọn về ý tưởng “tất cả đều được ban phước, bất cứ ai cùng sống như nhau” (all are blessed, whoever live as they will). Augustine tiếp tục khẳng quyết, tuy nhiên, lòng ham muốn (hoặc ý chí) đó là điều tối thiểu của sự cần thiết cho hạnh phúc.

3-    Các căn bản trong việc/sự ham muốn

a-    Như vậy, thực sự ra, lòng ham muốn có căn bản nơi đâu và là gì?
Sự chấp nhận, nhu cầu cần được chuẩn duyệt - Acceptance, the need for approval.
Sự tò mò, nhu cầu học hỏi - Curiosity, the need to learn.
Nét ăn uống, nhu cầu thực phẩm - Eating, the need for food.
Gia đình, nhu cầu nuôi con - Family, the need to raise children.
Danh dự, sự cần thiết phải trung thành với các giá trị truyền thống - Honor, the need to be loyal to the tradition values.
Chủ nghĩa lý tưởng, sự cần thiết của công bằng xã hội - Idealism, the need for social justice.
• Độc lập, nhu cần cần thiết cho mọi cá thể - Independence, the need for individuality.
• Đặt hàng, nhu cầu cho (mọi việc) có tổ chức và ổn định - Order, the need for organized, stable,
b-   Và một số ham muốn nguyên thủy (primal desire) của con người là gì?

·         Sống còn”: Sống một cuộc sống bền lâu và khỏe mạnh - Survival: Live a long and healthy life.
·         Bảo vệ: An toàn, chăm sóc và bảo vệ cho chính bạn và những người thân yêu - Protection: Safety, care and protection for yourself and loved ones.
·         Tự do: Tự do khỏi sự nguy hiểm, sợ hãi và đau đớn - Freedom: Freedom from danger, fear and pain.
·         Tiện nghi: Điều kiện sống thoải mái - Comfort: Comfortable living conditions.
·         Niềm vui: Thưởng thức đồ ăn, đồ uống và trải nghiệm - Pleasure: Enjoy food, beverages and experiences.

c-    Ham muốn thâm sâu nhứt của con người là gì?

Ham muốn thâm sâu nhất (deepest desire) của bất kỳ con người nào là được Yêu Thương và được Trân Trọng.
Không có ai trên thế giới này không muốn được xem là đẹp đẻ hay tài giỏi hết.
Sẽ không có ai phải nhăn mặt (frown) khi được nghe “I love you” đến từ của miệng của người mình thương hết!
d-   Ham muốn mạnh nhứt (strongest) của con người là gì?

TS Erica Goodstone nhận định rằng:”Ham muốn tình dục là thứ ham muốn mạnh mẽ nhứt của con người. Khi được thúc đẩy bởi năng lực của ham muốn này, quý ông và quý bà phát triển một số phẩm chất đáng kinh ngạc, bao gồm nhản quan và trí tưởng tượng, lòng can đảm và ý chí cùng khả năng kiên nhẫn liên tục bất chấp mọi trở ngại và khó khăn (visualization and imagination, courage and willpower and ability to persist in spite of all obstacles and difficulties).

e- Như vậy, có phải ham muốn có nghĩa là tình yêu?
Tình yêu là ham muốn, không có định nghĩa nào khác hơn nữa... Đối với một số người, đó là sự đáp lại tình cảm của họ, một số người khao khát được gần gũi với người yêu. hoặc người mình yêu. Nhưng cũng có vài ngoại lệ, là ai đó nghĩ rằng “có thể chỉ muốn người mình yêu hạnh phúc mà thôi, không cần thiết để được đáp lại” (tình yêu đơn côi chăng?)

Chỉ có những người dối lòng là những người nói
rằng tình yêu đích thực không có ham muốn!

4-    Ham muốn có ý nghĩa gì trong Phật giáo?
Trong Phật giáo, dục vọng, vô minh, và chấp ngã nằm ở gốc rễ của mọi đau khổ. Theo dục vọng, Phật tử đề cập đến tham ái, vật chất và bất tử, tất cả đều là những ham muốn không bao giờ có thể được thỏa mãn cho mỗi con người.
Làm thế nào để một Phật tử thoát khỏi phải “chấp ngã”?
Có vài vài thực tiễn dưới đây để cho mỗi chúng ta cùng suy nghiệm nhằm “bớt đi” tính chấp ngã của chính mình:
* Thiền – Meditation: Thiền chỉ đơn giản là ngồi yên và cố gắng chú ý đến thời điểm hiện tại cho dù đó là hơi thở của bạn, cơ thể bạn hay những gì đang xảy ra xung quanh bạn ngay bây giờ;
* Từ bi – Compassion;
* Sự phụ thuộc lẫn nhau – Inter-independence;
* Chấp nhậnAccepting;
* Mở rộng - Expansiveness.            

5-Tam giác vàng
Điều gì là tuyệt vời về tam giác này?
Thực sự nó có ý nghĩa gì?
Một số người thành công nhứt đã theo hướng nầy và họ thành công vì “Năng lực của một tư duy tuyệt vời”.
Cuộc hành trình đến tam giác vàng bắt đầu với Ham muốn - Desire. Đó là sân ga từ nơi con tàu vận mạng bắt đầu lăn bánh. Con tàu sẽ dừng lại sau mỗi trạm và những người không có đủ kiên nhẫn sẽ rời khỏi tàu. Còn những người ở lại là người có đức tin (tùy theo suy nghĩ của bạn, có thể là đức tin (faith) mà cũng có thể là niềm tin (believe). Đây là một thuộc tính quan trọng thứ hai để thành công.
Trong sự so sánh nầy, Đức tin kiên định – Consistent Faith và Khát vọng – Desire vững chắc chuyển Tâm Ý thành Hành động – Action.
Hành động giúp chúng ta tăng thêm ham muốn. Kết quả của Hành động làm cho Đức tin mạnh mẽ hơn và thêm một lần nữa, Hành động được tăng thêm, và từ đó tiếp tục mãi mãi Hành động.
Phản ứng dây chuyền không kiểm soát của hành động này sẽ đưa chúng ta đến nơi chúng ta thực sự thuộc về… (actually belong).
6-    Thay lời kết

Quý bạn vừa thả lòng với những định nghĩa, nhận đình cùng suy diễn hết sức trừu tượng về một danh từ hay động từ “Desire” tạm dịch là “Ham muốn” từ những suy nghĩ của các triết gia cho đến suy nghĩ của đời thường trong cõi ta bà nầy.
Để rồi bạn chuyển qua một vài suy diễn trong tinh thần Phật giáo…
Người viết không dám nói thêm nhiều nữa, chỉ mong mỗi người trong chúng ta nhìn về, nghĩ về Ham muốn” trong chiều hướng nào?
Và dù trong chiều hướng nào đi nữa chỉ mong Quý Bạn vẫn còn tỉnh táo để biết chính mình:
·         Đang nghĩ gì?
·         Đang làm gì?
·         Và suy nghĩ gì, làm gì đó có thích hợp với đạo lý của “Đời thường” không?
Xin chia xẻ vài suy nghĩ cùng Bạn trong mùa chay tịnh của Thiên Chúa giáo và mùa “cách ly tự nguyện” vì cô Coronavirus.
Và đây cũng là những suy nghĩ mà chính người viết cũng cần suy gẫm!
Phổ Lập Mai Thanh Truyết
An Nhiên Tự Tại
Houston, 26/3/2020

Friday, March 20, 2020




Đoạn Ái: Nghĩ – Hiểu – Tập

Hôm nay, ngày 23 tháng 11 năm 2017, tôi muốn nói về tôi.

Chỉ trong vòng một tháng, giữa tháng 10 và 11, tôi đã trãi qua ba chuyến du hành từ miền Tây Hoa Kỳ, San Jose, đến miền Trung, Dallas, và miền Đông Washington DC. Mỗi chuyến kéo dài 5 ngày, nhưng thực sự làm tôi hụt hẫng …vì mệt!

Tổng cộng gồm 3 buổi hội luận, thuyết trình chính thức trước cộng đồng, nhiều buổi hội luận, trao đổi với các hội đòan, nhóm nhỏ, 4 buổi phỏng vấn trên truyền hình, 4 buổi phỏng vấn trên truyền thanh, và hơn 4 giờ thâu youtube ở ba nơi (mỗi youtube kéo dài khoảng 15 phút, như vậy sẽ có 16 youtube sắp ra mắt).

Tôi nói gì mà lắm thế?
Tôi nói về Đất và Nước nơi sinh tôi ra. Tôi nói về chuyện:
·         Chuyện Môi trường, Y tế;
·         Chuyện Cộng sản Bắc Việt;
·         Chuyện Trung Cộng triệt hạ nguồn lương thực bằng cách chận nước sông Cửu Long từ đầu nguồn bằng đập Cẩm Hồng, Vân Nam;
·         Chuyện TC đầu độc dân tộc Việt qua thực phẩm nhiễm độc vì có chứa độc chất kích thích (excitotoxins) để tạo ra “hương vị giết người” (mượn lời tựa quyển sách “The taste that kills” của BS Russel Blaylock) nhằm mục đích triệt hạ tinh thần chiến đấu của các thế hệ tương lai của dân Việt sau khi Hán hóa Việt Nam;
·         Chuyện CSBV dựa vào Mỹ và Tây Phương trong trục “Ấn-Thái Bình Dương” để còn nước, còn dân và còn mạng; nhưng nếu theo Tàu chắc chắn mất nước, mất đảng, mất dân, và luôn cả mất mạng!

Ngày hôm nay, tôi dứt khoát tập trung để trang trãi, để nói về mình trong suy nghĩ, hiểu và tập trong “pháp môn” Đoạn Ái. Mùa Thanksgiving năm nay, đối với phong tục tập quán Mỹ là một Mùa Tạ Ơn, gia đình xum hợp, ăn gà tây, cám ơn các dân tộc bản địa (indigenous people)  nhứt là Dân Da Đỏ giúp những di dân tiên phong tức là dân tộc Hoa Kỳ hôm nay ở vùng Đất Hứa Mới.
Còn tôi, sẽ không có gà tây, sẽ không có gia đình để sum hợp…tôi chỉ có bàn phím và người tình “một mắt” để nói lên cảm nghĩ và suy tư của một người con Việt xa xứ về ngày Lễ Tạ Ơn nầy.
1-    Tuổi Capricorn
Tôi tuổi Capricorn. Theo lịch Tây phương, đây là dấu thứ mười của chu kỳ hoàng đạo, nói lên tất cả về công việc khó khăn. Người Capricorn đều có tham vọng và quyết tâm: sau cùng họ sẽ đạt được mục đích mà họ muốn dù có muôn vàn khó khăn.
Cuộc sống của Capricorn là một “dự án lớn” cho những người mang tuổi này, và họ thích ứng với hoàn cảnh bằng cách áp dụng cách tiếp cận thực tế cho hầu hết mọi hành động họ muốn làm và thực hiện. Capricorn cũng thực tế, từng bước một và thực tế và càng thực tế càng tốt. Người sinh ra dưới ký hiệu Capricorn rất tận tâm với mục đích mà mình chọn lựa, hầu như đến mức bướng bỉnh. Những “chiến thắng” chắc chắn có mùi ngọt ngào nhưng cũng có những đắng cay …dù mục đích đã đạt được.
Con Dê tượng trưng cho Capricorn. Dê thích leo lên đỉnh núi, nơi không khí trong lành. Trong cùng một cách, Capricorn muốn lên đến đỉnh cao của lĩnh vực được lựa chọn của người mang tuổi nầy. Không phải lúc nào Dê cũng là đi dạo trong công viên, vì vậy có thể Dê sẽ bị chảy máu, sức móng, rách tai… trên đường hành sự. Nhưng cuối cùng, Dê cũng “đứng dậy” và đi tiếp. Những đặc tính riêng biệt độc đáo của Dê:
·         Những điểm yếu: - Biết tất cả - Khó tha thứ - Không chấp nhận hạ mình - Mong đợi điều tồi tệ nhất xảy ra cho chính mình;
·         Những điểm tốt: - Luôn tích cực trong công việc – Biết lắng nghe – Sống với niềm Tin và hướng thượng.
Tất cả những ghi nhận trên được trích từ các mạng lưới toàn cầu.
2-    Ái
Sau hơn bảy thập niên hiện diện trên cõi ta bà nầy, cuộc sống cũng đã trải qua quá nhiều “ngả rẽ” (turning point), quá nhiều bước đi gập ghềnh cũng như bằng phẳng. Có những lúc tưởng chừng như yên ả, nhưng thực sự là những sóng ngầm, giông tố chập chùng… Có những lúc hầu như tuyệt vọng nhưng rồi …an bình lại hiện đến…
Về Vô minh, Đức Phật định nghĩa như sau: “Và này các Tỷ kheo, thế nào là Vô minh? Này các thầy Tỳ kheo, không biết rõ về Khổ, không biết rõ về Khổ tập, không biết rõ về Khổ diệt, không biết rõ về con đường đưa đến Khổ diệt, đây gọi là Vô minh”. 
Mọi cá nhân hiện hữu đều có “Tự ngã” và thường xuyên cố gắng nuôi dưỡng, phát triển tự ngã giữa sự thật “Vô ngã”. Chính lối tư duy và hành động này đã nuôi dưỡng Vô minh và thúc đẩy con người khư khư lấy ý niệm: “Cái này là của tôi, là tôi, tự ngã của tôi” càng lớn, trong đó chủ thể nhận thức đã có mặt tác ý lên mọi hành động mà con người biểu hiện ra bên ngoài.
Tất cả cũng do chính mình, cũng do cái tôi còn lùng bùng trong vô minh cho nên mới ra cớ sự. Chính vì vậy, suy nghĩ về đoạn ái, đã được tôi chiêm nghiệm và tìm hiểu cách đây khoảng 10 năm. Mười năm ngập lặn trong những toan tính, trong những cuộc hành trình phức tạp, trong quyết định chính chắn và cũng không chính chắn và trong vội vã…
Để rồi, ngày hôm nay trong cái tĩnh mịch của đêm thâu, mới thấy chữ “ÁI” cũng chính là do vô minh tạo dựng!
Chính là do Vô minh cho nên mới Hành, do Hành mới Thức, do Thức mớiDanh sắc, từ đó, do Danh sắc mới có Thọ, rồi từ Thọ sinh ra ÁI. Kết cục, từ Ái mới nảy sinh ra thất tình, lục dụcĐó là sự vận hành của tất cả Khổ Uẩn trong nhân gian.
Ái không phải là thực thể tự có và không thể tự nó vận hành độc lập. Nó càng không phải là bản chất hay lẽ sống của con người mà chỉ là kết quả hiện hành của vô minh. Thêm nữa, Ái còn lấy Vô minh làm thức ăn thức uống, một khi Vô minh hiện hữu đầy đủ, Ái sẽ hiện hữu đầy đủ. Vì thế, Ái mang bản chất của sự Vô minh và Khổ đau.
Kinh nghiệm của cuộc sống ở cõi ta bà nầy cho thấy, con người sinh ra để sống với các khát vọng hạnh phúc không thật và sự thỏa mãn lạc thú với thất tình lục dục. Dục vọng càng bốc cháy thì con người càng khổ đau không nguôi.
,
“Do Vô minh diệt nên Vô minh tận, do Vô minh tận nên nảy sinh ra ra Thức diệt”.
Sau cùng, đây mới thực sự là sự Đoạn diệt của toàn bộ Khổ Uẩn.
3-    Đoạn ái

Trên thực tế, đã là con người, cũng do lòng ham muốn thỏa mãn Khát ái cho nên vô minh theo đó mà vận hành và dẫn đến sự hình thành các cảnh giới khác nhau, gọi là tam giới: Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới. Vì vậy, cần phải bước ra khỏi đời sống khát ái. Đoạn trừ Ái là đoạn trừ Vô minh.
Nhưng… Vốn làm người, làm sao bỏ được Khát ái hay Tham ái…
Do đó, cần phải Đoạn ái.
Mà Đoạn ái như thế nào?
Chỉ có một con đường duy nhứt để đoạn ái là chính mình cần có suy nghĩ, thực hành một nếp sống bước ra khỏi thế giới của Vô minh, lòng khát ái. Bởi vì, chính Ái luôn trói buộc con người đi vào sự thỏa mãn của các chấp thủ và chơi vơi trong Khổ uẩn. Thậm chí, Ái còn đưa con người hoài niệm về quá khứ và mở ra những viễn cảnh tương lai hão huyền, không thật tế.
Một khi con người chế phục Ái sẽ đem lại an nhiên tự tại, tâm trí trở nên thanh tịnh, sáng suốt để giải quyết các công việc của chính mình, và cho mọi người. Từ đây, Tuệ sẽ phát triển, cuối cùng Ái sẽ không còn có mặt và Vô minh cũng vắng bóng. Con người an trú trong thế giới an binh của chính mình.
Đó là chân hạnh phúc.
Một khi đã bước ra khỏi thế giới của Vô minh rồi, mặc nhiên, chúng ta đang hành trình trong tiến trình Vô ngã vì đã thoát khỏi lòng khát Ái thì mình không còn chấp thủ mọi hoạt động gây khổ ưu và phiền não cho bản thân và mọi người.
4-    Tập

Nói đến đây, qua những sự hiểu và suy nghĩ trên, làm thế nào để Tập đây. Việc nầy, Người có cá tính của con Dê Capricorn đã hành xử như thế nào?
Để trả lời: Tuy vẫn còn ở bậc tiểu học trên con đường tận diệt Vô minh để xóa lòng khát ái nhưng mục tiêu cuối cùng nhằm tiến tới giai đoạn Đoạn ái!
Với trình độ nhận thức trên đây, hiện tại, “mình” vẫn còn quằn quại trong chấp ngã, trong khát ái, làm sao tiến dần đến … Vô minh được. Làm sao di chuyển cái “Tôi” ra khỏi những định kiến, thiên kiến, thoát khỏi hai chiếc hàm thiết làm cho “con ngựa” chỉ đi theo một con đường định sẳn do Vô minh vẽ ra???
Vẫn biết mọi vật trên đời nầy đều Vô thường, phải thay đổi và hoại diệt; không vật gì thường hằng dù chỉ trong phút giây, hay sát na ngắn ngủi. Tôi hiện tại đã không phải là tôi ở sát na trước đó!
Biết mà sao vẫn để Vô minh dẫn đường?
Đó có phải là do Duyên hay Nghiệp kết thành? (Với tôi, Duyên và Nghiệp giống nhau)
Vô ngã là cái tôi được giải thoát.
Vô ngã là sự giải thoát, tức là xa lìa mọi sai lầm của các pháp của tâm thức, không bị xúc thọ ái ràng buộc."trong sự giải thoát là sự hiểu biết".
5-    Kết Luận
Vẫn biết Vô ngã là khi cái Tôi được giải thoát.
Vậy mà, làm sao thoát khỏi cái ngã và thoát khỏi vòng Vô minh qua sự qui kỹ (non-egocentric).
Chỉ còn hình dung được việc tập chú vào tâm niệm kinh Bát Nhã "Yết đế, Yết đế, Ba la Yết đế, Ba la tăng Yết đế, Bồ đề. Tát bà ha" để vượt vòng Vô minh và mang lại sự an bình trong Tâm và Trí…chứ không hề mong cầu được đi qua…Bờ Giác!
Một người:
·         Thời thơ ấu: Không biết Quê là gì?
·         Thời thanh thiếu niên: Biết Quê qua lời kể của Ba Má Anh Chị.
·         Thời trưởng thành: Biết Quê qua nửa vòng trái đất.
·         Thời lưu vong: Biết Quê trong tâm tưởng và trong vô vọng.
Biết đến bao giờ Tôi mới nhìn lại Quê hương đích thực của tôi đây?
Mai Thanh Truyết
Viết cho ngày L T Ơn 2017