Friday, January 26, 2024

 

Tôi đi vượt biên


Một ngày cuối năm 1982. 

Từ xa xa thấp thoáng một vài điểm sáng lập lòe trên sóng nước vùng Cái Côn Cần Thơ trong đêm. Đó là lúc xuất phát của một chiếc ghe chứa 54 thuyền nhân đang đi tìm tự do. Vì tất cả bến bãi đã được "mua" trước nên chuyến đi rất an toàn trên suốt đoạn đường qua cửa biển. Tôi là một trong hai thuyền trưởng "không bằng cấp" đã điều khiển chiếc ghe sau hai đêm một ngày lênh đênh trên biển cả đi thẳng vào Trengganu thuộc địa phận Mã Lai. Trengganu là một thành phố nằm sát biên giới phía Nam ngăn cách Mã Lai và Thái Lan. Về phía Bắc ở địa phận Thái Lan là Songkla, một trại tị nạn nổi tiếng về tình trạng khắc nghiệt đối với thuyền nhân. 


Trước khi vượt biên, đã có tin đồn rằng Mã Lai không chấp nhận các thuyền nhân Việt Nam nữa và sẽ đẩy tàu tị nạn ra khơi lại khi cận bến. Do đó, khi nhận diện được quốc kỳ Mã ở một trạm đồn trú sát biển chúng tôi liền quyết định ủi bãi mặc dù phải chịu áp lực của sóng to lúc đó. Tàu chĩa mũi đâm thẳng vào bãi cát bên cạnh đồn lính...mà không hề có ước tính nông sâu tại địa điểm trên.

Chỉ trong giây phút, tàu lật nghiêng và tôi từ trên phòng lái nhảy liều xuống biển. Khi biết rằng biển cạn chỉ tới thắt lưng, tôi bèn la to để mọi người bớt hoảng hốt, và sau đó từng người một thay nhau nhảy xuống khỏi tàu, ướt đẫm, mất tất cả đồ đạc trừ quần áo mang trên người và cuối cùng cũng đến được bến bờ tự do trong hoàn cảnh tệ hại kể trên. Sau khi định thần và kiểm điểm lại thì thấy thiếu mất một người, mà vài ngày sau xác một cô gái trôi vào một chỗ cách đó vài cây số. Tuy huyền hoặc, nhưng trong hoàn cảnh nầy cũng phải tin lời truyền khẩu rằng nơi đây luôn luôn phải để lại một người cho mỗi tàu vượt biên! 

Tàu chúng tôi được Mã Lai cho bảng số là PB 768 (PB viết tắt cho chữ Pulau Bidong) và tất cả 53 người còn lại được chuyển vào đảo Pulau Bidong sau vài ngày tạm trú ở Trengganu. Khi đi trên tàu cũng như những ngày đầu tiên đến Ma Lai, chưa ai hân hạnh biết được tên cúng cơm của tôi cả. Mãi cho đến lúc trình diện tại SB-Special Branch sau khi cập bến vào cầu Jetty ở đảo Bidong, tôi mới thật thà khai báo tên tuổi do cha mẹ đặt ra khi chào đời. 

Lý do rất đơn giản là khi quyết định liều mình vượt biên, tôi đã dùng "mãnh lực kim tiền" để mua một chứng minh nhân dân chính thức (không phải đồ giả) và xin được giấy phép chính thức (không phải đồ giả) để đi cào cá tôm ngoài biển. Tôi đã sống trên ghe rày đây mai đó gần một năm trước khi đặt chân lên đất Mã với lý lịch chính thức trong thời gian nầy là Trần Văn Đức sinh ngày 24/12/1940 tại Tân An.


Chỉ vài ngày sau sau khi nhập đảo, một nhân viên Mỹ tên Ramsey, cựu Đại úy cố vấn sư đoàn 25 đóng tại Củ Chi và đã bị thương ở chân năm 1972, gọi tôi lên và cho biết một số thông tin và tình trạng gia đình của con và vợ tôi dù điều nầy tôi cũng đã biết trước qua thư từ khi ra đi. Ông ta bảo tôi cứ an tâm và ông sẽ tiến hành thủ tục nhanh nhất để tôi được đoàn tụ với gia đình. 

Từ khi biết được tôi có "liên hệ mật thiết" với "giới chức có thẩm quyền" và biết được lý lịch thật của tôi, hầu như mọi người trên đảo đều nhìn tôi với một cặp mắt khác thường. 

Họ thân thiện hơn để cầu cạnh?

Một số người khác tôi quen biết từ Việt Nam thìï lo sợ và né tránh vì sợ tôi tố cáo lý lịch và hành vi ở Việt Nam?

Còn một số có vẽ ghen ghét vì không được địa vị của tôi chăng?

Nhưng đa số tỏ vẻ kính trọng tôi vì nghĩ tôi biết chữ nghĩa? 

Ôi thôi đủ cả!  Nhưng không biết vì tôi tốt số hay có nhiều may mắn mà chỉ hai ngày sau khi đến đảo, một số thanh niên trẻ tuổi tôi vẫn còn nhớ tên từng người cho đến bây giờ "rủ" tôi về nhà ở chung trong khu B nằm sát bờ biển, chăm sóc tôi từ việc ăn uống đến việc xách nước sinh hoạt hàng ngày. Tôi chỉ ngày ngày đi tắm biển và suy nghĩ về các hoạt động tương lai "từ thành phố nầy, tôi sẽ ra đi!" (Anh Truyết cám ơn NVHoàng (Hoàng ngáy, Porland), NVHiếu (Boston), TVHoàng (Hoàng méo, Toronto), NXOánh (London, Canada), Đoan Đỗ (San Jose), Quang nhỏ (Ottawa, Canada)... Các bạn trẻ trên đã qua xong Bàn 1, bàn Screening và lần lượt được chuyển qua Sungei Besi trước tôi vài ngày. 

Trại cấm Sungei Besi 

Sungei Besi là một trại tị nạn hình chữ nhựt, dàì khoảng 350m, ngang độ 250m, nằm về phía đông bắc của thủ đô Kuala Lumpur, Mã Lai và cách thành phố nầy khoảng một giờ lái xe. Trại chỉ có duy nhất một cổng lớn ra vào. Chung quanh bao bọc bởi hàng rào cao độ 1.8m và phía trên được phủ bằng những cuộn kẽm gai. Trại chia ra làm hai phần: trại A chiếm độ 3/4 diện tích chứa dân tị nạn thuộc diện sẽ định cư tại các quốc gia nói tiếng Anh, trại B thì dành cho các quốc gia nói tiếng Pháp và linh tinh. Trại A gồm 16 nhà "hộp" có giường và bàn ghế trong nhà và tám dãy nhà "longhouse" là những "ngăn" nhà, không cửa. Mỗi ngăn chứa được tám thuyền nhân. Vào thời điểm 1983, toàn trại có khoảng hơn bốn ngàn tị nạn đang chờ để được đi định cư vào đệ tam quốc gia nhưng đa số là Hoa Kỳ. 

Trong giờ làm việc hàng ngày, nhân viên Hội Lưỡi Liềm Đỏ Mã Lai (Red Crescent) điều hành sinh hoạt của trại. Sau giờ làm việc và cuối tuần là thời điểm của Task Force do một đại úy quân đội Mã tên là Khally chỉ huy.

 

"Tiểu quốc" Sungei Besi thật ra được điều hành và "quản lý" bởi bốn cơ quan độc lập, chứ không phải "chính phủ trung ương", đại diện cho dân chúng sống tại đây và không có thực quyền gì so với bốn cơ quan kể sau đây!

 

Trước hết là Hội Lưỡi Liềm Đỏ của Mã Lai. Đây là một cơ quan hành chánh, điều hành sinh hoạt trại và phụ trách thông tin liên lạc. Họ nhận thư tín và bưu phiếu gửi đến từ thân nhân bên ngoài và chuyển giao cho chính phủ tức Hội Đồng trại. Họ ăn lương của Mã Lai nhưng Liên Hiệp Quốc phải trả lại tất cả chi phí nhân sự/dịch vụ cho chính phủ Mã. Tuyệt đại đa số nhân viên của Hội theo đạo Hồi nên họ rất quyết liệt trong việc cấm thịt heo và rượu.

 

Dân chúng Mã gốc Tàu ngoài trại vẫn ngày ngày bán lậu thịt và rượu vào trại cho dân tị nạn.. Nếu bị bắt, người vi phạm sẽ bị tịch thu tang vật và có thể bị đánh đập... Trong những trường hợp nầy, đích thân “Tổng thống” hay “Bộ trưởng an ninh” phải can thiệp để cứu "phạm nhân"! Người Mã Lai luôn luôn giữ thái độ hách dịch và xem dân tị nạn như một loại công dân hạng nhì. Thuyền nhân dù phải chịu sự quản lý của họ, nhưng chắc chắn trong thâm tâm của mỗi người tị nạn khi rời trại sẽ không chút lưu tình nhỏ nào vì nhận thấy họ chỉ làm việc để đổi lấy đồng lương chứ không thể hiện một hành động nhân đạo nào cả!

 

Thứ đến, Task Force là một nhóm quân đội đặc nhiệm do một đại úy và một số quân nhân trực thuộc bộ chỉ huy ở Kuala Lumpur. Nhiệm vụ của họ là giữ gìn an ninh trong trại vào cuối tuần và sau giờ hành chánh mỗi ngày. Nhiệm vụ tuy rất rõ ràng, nhưng cũng chính họ gieo rắc tệ trạng do việc cấu kết với tư bản Tàu (thí dụ như cho phép buôn bán "xả dàn" sau khi các phái đoàn ngoại quốc và Cao ủy rời trại), du đảng và nhất là những cán bộ cộng sản vượt biên để làm những việc kém văn minh đối với người tị nạn.

 

Thứ ba là các phái đoàn đến từ các quốc gia chấp nhận tị nạn, phỏng vấn và quyết định tình trạng định cư của từng người tị nạn. Thường xuyên đến làm việc để thu thập dữ kiện, tài liệu... là phái đoàn Hoa kỳ, sau đó là Úc và Pháp vì Pháp cũng là đại diện cho một số quốc gia trong vùng. Phái đoàn của các quốc gia khác đến và đi không định kỳ. Chỉ có phái đoàn Hoa kỳ làm việc năng nổ và rộn rịp nhất vì đại đa số tị nạn đều xin định cư tại quốc gia nầy.

 

Hầu như hàng ngày, ngoài các nhân viên Sở Di trú và Nhập tịch (Immigration & Naturalization Service tức là INS), còn có thêm nhân viên an ninh , tình báo nói tiếng Việt rành rọt đến phỏng vấn và điều tra những trường hợp đặc biệt. Họ làm việc có công tâm nhưng đôi khi quá máy móc thành thử nhiều trường hợp rất thương tâm đã xảy ra vì tình ngay lý gian hoặc để cộng sản trà trộn vào các nước cho định cư khác nhất là nước Úc.

 

Thứ tư là tổ chức đáng ghi ơn nhiều nhất về phương diện tình cảm là những "tiên ông và tiên bà"...những người thuộc các phái đoàn thiện nguyện do Cao ủy Liên Hiệp Quốc chịu trách nhiệm. Chỉ có một vài nhân viên điều hành Cao ủy được đài thọ tương xứng với công việc về thù lao và phụ cấp; còn đa số đều là tình nguyện viên trong chương trình đại loại như Peace Corps của Hoa Kỳ. Họ đã đến từ mọi quốc gia trên thế giới. Họ là những người trẻ tuổi, hưởng phụ cấp rất tượng trưng khoảng $US 500/tháng và sống trong điều kiện tương tự như dân ở trại tị nạn. Họ là những người ra về trễ nhất trong ngày. Đôi khi họ còn xử dụng số tiền phụ cấp ít ỏi của họ để giúp tị nạn.

Họ làm đủ mọi công tác cần thiết cho cộng đồng tị nạn như dạy sinh ngữ, huấn nghệ, xã hội, hướng dẫn khải đạo (counseling) v.v.... Họ chính là những làn gió mát hiếm hoi trong những giây phút căng thẳng và ngặt nghèo của các mảnh đời tị nạn.

 

Cũng cần ghi thêm nơi đây những ân nhân của tị nạn là các linh mục (quên tên) đã không quản ngại phiền nhiễu và nguy hiểm đối với chính quyền Mã. Chính các linh mục đã mang tin tức, tiền bạc, giúp đỡ chuyển thư từ...từ các nơi về cho thuyền nhân ngay cả đối với những người không có điều kiện liên lạc. Đây là một phương tiện thông tin, chuyển ngân hữu hiệu, không thất thoát và đầy tình người so với bưu điện Mã Lai. Xin ghi ơn các bậc tu hành trên.

 

Con đường tiến thân

 

Vừa chân ướt chân ráo đến Sungei Besi, lũ bạn trẻ của tôi đã đợi sẵn và đón tôi về dãy LongHouse 7 lúc đó mới vừa xây cất xong. Tên tôi được cấp ở nhà hộp (có giường ngủ, bàn và đèn điện) tiện nghi hơn nhưng sau cùng tôi quyết định sống trong điều kiện của những người "cùng đinh" trong xã hội.

 

Chỉ hai ngày sau đó, ông Ramsey đến tìm tôi và muốn tôi làm Camp Leader trong thời gian tôi tạm trú ở đây (Nơi đâu cũng có bàn tay lông lá cả!). Và tôi nhận lời. Có lẽ tôi là một dân sự đầu tiên giữ "địa vị" nầy vì trước đó dường như chỉ có sĩ quan quân đội hay cảnh sát làm Trưởng trại mà thôi. Cựu Th.T hải quân Đoàn Quan Vũ (Westminster) đến đảo trước tôi hơn hai tháng, và là Trưởng trại ở Bidong đã rất ngạc nhiên khi không được tiếp tục làm ở Sungei Besi. Sự kiện nầy đã càng khiến cho nhiều người xác quyết rằng tôi đã được Mỹ, CIA dựng lên để làm "puppet" cho họ!

 

Kể từ đó, mọi người nhìn tôi hoàn toàn khác hẳn!

 

Tôi thực sự là một "Tổng Thống" của một quốc gia có 4.000 dân. Thủ tục định cư của tôi đã được giải quyết một cách mau chóng bởi tòa đại sứ Hoa kỳ tận ngoài Kuala Lumpur và tôi chỉ tuyên thệ trước nhân viên INS (Bàn 4) lúc đó là ông Wallace, không có sự hiện diện của nhân viên và thông dịch viên Việt Nam, do đó hầu như không một ai biết chắc chắn lý lịch đích xác của tôi cả. Điều nầy làm cho tôi có thêm một huyền thoại bí hiểm đối với nhiều người, làm tăng uy thế cũng như tạo điều kiện cho tôi điều hành "quốc gia" tương đối dễ dàng. Đó là bởi vì, đại đa số thuyền nhân mang tâm trạng "tâm phục" và "sợ phục", vì sau lưng tôi có Mỹ chứ không phải hiến pháp!

 

Việc làm đầu tiên của tôi ngay sau khi lên "ngôi cửu ngũ" là dời đô về phía nhân dân. Số là những “Tổng thống” tiền nhiệm làm việc trong một văn phòng có máy lạnh, nằm trong dãy nhà làm việc của nhân viên Hội Lưỡi liềm Đỏ. Trong lúc, trụ sở Văn phòng trại tức “Nội các chính phủ” chiếm cứ một dãy nhà lợp thiết, rất nóng...Việc liên lạc và thông tin với Tổng thống do đó  rất khó khăn vì bị "ngăn sông cách chợ" do thủ tục ra vô văn phòng Hội. Phần tôi quyết định chọn nhân dân, nghĩa là chấp nhận chia xẻ nóng bức và áp bức cùng với đồng bào.

 

Hai hành động không ở nhà hộp tiện nghi và dời đô về phía "quần chúng" vô hình chung biến tôi trở thành một vị tổng thống "anh minh" và hợp lòng dân ít nhất về phương diện hình thức ban đầu. Tiếp đó, nội các tị nạn (Camp Council) được thành lập như sau:

 

Tổng Thống (Camp Leader): Mai Thanh Truyết

Thủ Tướng (General Secretary): Nguyễn Văn Huy, cựu công chức Ty Công chánh Cần Thơ, hiện ngụ tại Lansing (Michigan);

Bộ Trưởng An Ninh (Security): Trần Văn Sơn, cựu Đại úy Sư đoàn 25 Tây Ninh, hiện ngụ tại San Diego (California);

Bộ Trưởng Mật vụ (Special Branch tức SB): Nguyễn Hồng Hải, Đại úy đã từng được huấn luyện tại trường Hoàng Phố (?), hiện ở Hoa Kỳ, nhưng không biết địa chỉ.

Thứ Trưởng Mật vụ: Nguyễn Trường Khương, Thiếu úy huấn luyện viên Bộ Tư lệnh Cảnh sát, cư ngụ tại Los Angeles (California);

Bộ Trưởng Y tế (Hospital): BS Trương Văn Như, hiện cư ngụ tại Garden Grove (California);

Thứ Trưởng Y tế: BS Khương Văn Lịch, hiện cư ngụ tại Westminster (California);

Bộ Trưởng Xã hội (Social Services): Hoàng Ngọc Thủy, Trung úy, hiện là Luật sư - Solicitor hành nghề tại Sydney (Úc);

Bộ Trưởng Bưu điện kiêm Tổng Cục Gia cư (Post & Housing):  Hà Văn Thước, sinh viên, hiện cư ngụ tại Hawaii.

 

Dù không có Bộ Tài chánh, Quốc phòng, Tư pháp và Ngoại giao và nhất là không có ngân sách điều hành và tài nguyên, quốc gia Sungei Besi vẫn được xếp hạng vào hàng quốc gia bậc trung so với các nước đang mở mang trên thế giới với tổng sản lượng tính theo đầu người tương đương với $US 5,00/ngày hay $US 1.850.00/năm ($US 4.00/ngày/người do Cao Ủy LHQ trợ cấp, gạo do Trung Cộng đài thọ, quần áo vật dụng do các nước viện trợ). Như vậy lợi tức đầu người của dân tị nạn vẫn cao hơn lợi tức của Việt Nam năm 2011.

 

Nhân viên chính phủ làm việc trong tinh thần tự nguyện, không phụ cấp, không lương bổng và hoàn toàn chia xẻ cùng một điều kiện sống với tất cả mọi từng lớp nhân dân trong quốc gia Sungei Besi nầy. Luật lao động cũng như việc nghỉ phép thường niên hay nghỉ bịnh...không thể áp dụng ở đây...mà nếu có nghỉ thì cũng chẳng biết đi đâu vì đây là một quốc gia hoàn toàn cô lập với tất cả xã hội bên ngoài "vòng rào". Nội các chính phủ làm việc hết sức tích cực rất xứng đáng là "đầy tớ của nhân dân".

 

Đây chính là một quốc gia lý tưởng về phương diện phân bổ phúc lợi đồng đều cho toàn dân từ thượng tầng kiến trúc cho đến hạ tầng cơ sở. Có thể gọi đây là một thiên đường mà người cộng sản thường cổ súy chăng?! 

 

Nhân viên chính phủ phải làm việc hầu như 24/24 giờ, các viên chức trách nhiệm đều luôn luôn sống trong tình trạng báo động để ứng trực. Những chuyện thường xảy ra trong xã hội là: tranh chấp giữa người dân, tranh chấp nhà ở, ghen tuông, khiếu nại về thức ăn, cổ phần ăn, mất đồ đạc, bị ức hiếp, chèn ép... và nổi bật hơn cả là những vấn đề an ninh và cuộc tranh chấp quốc cộng tại tiểu quốc nầy.

 

Những vấn đề nóng bỏng

 

Vấn đề thứ nhất cho nội các trong việc điều hành quốc gia là việc mọi "công dân tạm thời" ở quốc gia nầy đều rất nhạy cảm với chế độ vừa trải qua và những gì liên quan đến cộng sản. Có hai loại đối tượng cần phân biệt: một là cán bộ cộng sản vượt biên, và hai là những người có dính líu với cộng sản mà đa số là "cán bộ 30/4" còn được gọi là sư đoàn 304. Bộ Mật vụ thu thập hồ sơ, phỏng vấn các thuyền nhân để thanh lọc kỹ lưỡng các đương sự được xem là có vấn đề... trước khi họ gặp phái đoàn. Đích thân Tổng thống sau đó nghiên cứu và trao đổi tin tức với đế quốc Hoa Kỳ.

 

Hầu hết hồ sơ cộng sản là do sự thổi phồng và lòng "quá nhiệt tình" của nhân viên mật vụ, nhưng cũng có vài trường hợp khám phá đúng hiện trạng của cá nhân có thành tích liên quan  hoặc làm việc với chế độ. Một trường hợp điển hình là Hoàng Ngọc Giàu hay Hoàng Xuân Nhuận (biệt hiệu), một “tội ác” trong thảm nạn Mậu Thân ở Huế, người đã bị phái đoàn Hoa Kỳ từ chối định cư ba lần, và sau cùng đã được Úc chấp nhận cho định cư tại Sydney.

 

Vấn đề thứ hai đến từ Task Force của Mã Lai. Họ đã cấu kết để ăn chận phần thức ăn của người tị nạn mà tư bản Trung Hoa đã trúng thầu cung cấp, đến nổi một hộp thịt gà chỉ có vài miếng xương chân gà và nước! Họ cũng đã bao che mở cửa hàng đêm cho người Hoa buôn bán tự do (rượu, thịt heo) trong bản quốc. Tệ hại nhất là việc cấu kết với du đảng để phát triển mãi dâm và mang phụ nữ tị nạn ra Kuala Lumpur hàng đêm để rồi mang trở về sáng hôm sau trước khi các phái đoàn đến làm việc.

 

Vấn đề thứ ba là đối phó với du đãng. Ngoài việc cấu kết với Task Force trong vấn đề mãi dâm, các du đãng đầu nậu kết hợp một số thành phần du đãng khác mà đại đa số là thành phần không được quốc gia nào cho định cư, do đó phải ở lại trong trại quá lâu có khi hàng bốn, năm năm trước đó. Thành phần nầy sách nhiễu và hiếp đáp đồng bào đến nổi nếu không có sự can thiệp cứng rắn của Bộ trưởng An ninh thì quốc gia Sungei Besi có thể trở thành đại loạn trong giai đoạn nầy.

 

Vài đối tượng bất hảo

 

Như đã nói ở các phần trên, sự thành lập quốc gia Sungei Besi quả là một sự tình cờ. Mỗi công dân mang trong tiềm thức những tâm trạng khác biệt nên đã thể hiện chúng qua những thất tình lục dục khác nhau. Tuy cùng giòng máu Việt, nhưng có thể nói trong trường hợp nầy, quốc gia Sungei Besi là một "hợp chủng quốc" về trình độ, và nhận thức. Thật rất khó cho công việc điều hành quốc gia nhất là giữ gìn trật tự cho các sinh hoạt xã hội. Vừa mới nhậm chức vài ngày, đích thân Tổng thống phải đối đầu với những "thương thảo" hay "dằn mặt" từ các đối tượng bất hảo đã nêu ở phần trên.

 

Đầu tiên Đại úy chỉ huy trưởng Khally (Task Force) mời Tổng Thống ăn chiều ở căn cứ Task Force trong trại như một hình thức kết thân nhưng với dụng ý rõ ràng là chuyển đạt thông điệp  "đừng xen vào những chuyện Task Force làm".

 

Tiếp theo, nhóm du đảng cầm đầu bởi hai anh em Năm Ca và Sáu Hát mời ăn trưa mà tôi biết chắc chắn là sẽ có rượu và thịt heo là hai món bất hợp pháp. Dù nhận lời nhưng tôi đã cẩn thận bố trí hơn mười nhân viên an ninh canh gác chung quanh căn nhà hộp và các ngõ đi vào để đề phòng Task Force vì nhóm nầy có thể phục kích để triệt hạ tôi. May mắn thay, diễn tiến của buổi ăn thật "thắm tình hữu nghị" và tôi cũng mượn dịp nầy để chuyển đạt lời nhắn gửi nghiêm khắc là:" Rượu và thịt heo là hai thứ cấm kỵ có ghi trong văn bản của nội quy, mong các anh đừng xử dụng trong phạm vi trại nữa. Nếu nhân viên tôi bắt gặp lần tới, chúng tôi sẽ có biện pháp mạnh". Tôi tin rằng họ hiểu rõ là tôi không hăm dọa suông. Cũng nên nói thêm là Năm Ca, cựu trung sĩ quân cảnh, và Sáu Hát, học sinh...vì lý do đánh lộn và có hành vi du đảng  mà phái đoàn Hoa kỳ đã từ chối cho định cư hơn năm năm nay.

 

Chỉ không đầy hai tuần sau bữa ăn trên, tôi bắt buộc cho bắt giam Sáu Hát vì tội vi phạm nội quy trại. Nhà tù đầu tiên được thiết lập bên cạnh văn phòng Task Force. Sự kiện nầy làm tôi bị phê phán là đã qua được bến bờ tự do rồi mà còn kềm kẹp đàn áp tị nạn. Nhưng cũng nhờ đó mà trật tự trong trại từ đó về sau tương đối ổn định hơn. Tôi đã lấy quyết định trên không ngoài mục đích mục đích chận đứng sự hợp tác của du đãng với Task Force trong vấn nạn mãi dâm để tôi rãnh tay đối phó với Khally. (Năm Ca và Sáu Hát sau đó bị trả về lại Bidong và bị giam trong nhà tù Mã lai cho đến năm 1992, sau đó không có thêm tin tức).

 

Đối tượng thứ ba và nguy hiểm nhất là các cán bộ cộng sản vượt biên và những người thân cận của họ. Họ có thế lực Task Force yểm trợ ngầm vì có liên hệ mật thiết với nhau qua dịch vụ săn gái và chuyển gái ra Kuala Lumpur. Đại diện của nhóm nầy là Nguyễn Văn Nam, trung úy công an nội chính Bến Tre và hiện có cửa hang trong trại sản xuất tranh thủ công nghệ, huy động hàng chục nhân viên dưới tay. Tên nầy được ra vô Kuala Lumpur thường xuyên bằng xe của quân đội Mã để mua bán nguyên vật liệu và sản phẩm thủ công nghệ. Nên nhớ là, không có thuyền nhân nào được phép ra khỏi trại ngoại trừ các trường hợp như đi bịnh viện khẩn cấp, sanh sản, mổ xẻ, hay do yêu cầu từ tòa đại sứ Hoa Kỳ.

 

Người thứ hai là thiếu úy Hoàng Mạnh Dược, biên phòng Rạch giá. Hai tên nầy có một cuộc sống rất "đế vương" và làm rất nhiều chuyện chướng tai gai mắt mà trước đó không vị tiền nhiệm nào dám đụng đến họ! Dĩ nhiên là họ bị Hoa Kỳ và các nước khác từ chối cho định cư, tin tức sau cùng năm 1992 cho biết họ vẫn còn ở đây. Hai đối tượng bất hảo nầy đã mua chuộc tôi bằng cách biếu cho tôi một bức tranh "vinh quy bái tổ" với hàng chữ đề tặng vợ tôi.

 

Câu hỏi cần được đặt ra, đối với vấn đề giải quyết định cư vào đệ tam quốc gia của những thành phần như trên, là: Có nên giữ chân họ mãi trong trại tị nạn chuyển tiếp hay đề nghị trả họ về lại nguyên quán? Ngày nay tôi vẫn chưa tìm được câu trả lời thỏa đáng khi viết lại những dòng trên đây.

 

Sau khi tạm thời triệt hạ được nhóm du đãng, tôi bắt đầu chĩa mũi dùi về phía Task Force với mục đích tống khứ Khally. Nhân viên của tôi đã thiết lập được danh sách của các cô gái "nhẹ dạ" cũng như "không nhẹ dạ", là những người đã "hành nghề" tại Long house 8 lúc đó  chưa có người ở, và những người đã đi ra ngoài Kuala Lumpur hàng đêm. Một lần nữa, xin cám ơn sự hữu hiệu của nhân viên dưới quyền của Bộ trưởng an ninh TVSơn. Sau khi thiết lập đầy đủ chứng cớ, tôi xin gặp Cao ủy trưởng và Ramsey. Tôi biết rõ là Cao ủy tị nạn chỉ chăm sóc những vấn đề xã hội như y tế, huấn nghệ, dạy sinh ngữ và khải đạo...Họ không có quyền hạn gì cả trong công việc giải quyết các xáo trộn trong trại. Do đó tôi hoàn toàn tin tưởng vào Ramsey và Tòa Đại sứ Hoa kỳ, người có thể giúp tôi giải quyết vấn nạn nầy. Cuối cùng tôi thành công trong việc trừ khử Khally và chấm dứt được tình trạng mãi dâm ở tiểu quốc Sungei Besi. Tên Đại úy Khally bị bứng ra khòi Task Force trại.

 

Tuy nhiên hậu quả của thành tích nầy là tình trạng an ninh cá nhân của tôi từ đó không được bảo đảm nữa. Số là Đại tá chỉ huy trưởng, có lẽ vì mất phần chia chác trong dịch vụ trên, đã để tâm thù tôi và cho một thiếu tá thay thế Khally theo dõi tôi từng bước một. Họ đã biết được thói quen của tôi thường hay đến bịnh viện để đọc hồ sơ báo cáo của SB. Vị bác sĩ Bộ trưởng Y tế của tôi có tính "ham vui" nên thường xuyên có người đẹp ra vào ăn uống có khi nhảy nhót bỏ túi nữa trong khuôn viên bịnh viện đầy đủ tiện nghi với máy lạnh. Task Force hy vọng bắt được quả tang tôi tham gia các sinh hoạt nầy để làm chứng cớ triệt hạ tôi. Họ đã thất bại nặng nề!

 

Cần phải kể thêm sau đây một thành tích nổi bật của "Tổng Thống thuyền nhân" làm hầu hết nhân dân của tiểu quốc vui mừng là việc nhận lại được thư và bưu phiếu tưởng đã mất. Đa số thuyền nhân khi đến Pulau Bidong chỉ ở lại một thời gian ngắn trung bình từ hai đến sáu tuần lễ thôi. Thời gian nầy chỉ vừa đủ để cho họ báo tin đến thân nhân ở ngoại quốc.

 

Khi thân nhân hồi âm và gửi bưu phiếu tiếp tế thì đa số tị nạn đã được chuyển trại qua Sungei Besi. Nhân viên Hội Lưỡi Liềm Đỏ vì tắc trách và thường xuyên "làm thất lạc" các bưu phiếu trong thư cho nên người tị nạn không nhận được. Biết được việc nầy tôi nhờ Cao Ủy can thiệp. May mắn thay họ cho phép chúng tôi ra tận kho chứa của Hội ngoài Kuala Lumpur để nhận lại các thư cũ. Trong khi phân phối thư chúng tôi đã thu hồi trên US$12,000.00, tiền của thân nhân tị nạn gửi qua, mang đến niềm vui không nhỏ cho nhiều người.

 

Vẫn chuyện đối đầu với Task Force, tôi thường xuyên bị tên đại tá thay thế Khally đe dọa. Tình trạng nầy trầm trọng và căng thẳng thêm sau khi tôi âm thầm xách động nhân dân không nhận thức ăn sáng để phản đối nhà thầu cấu kết với Task Force ăn chận phần ăn của tị nạn. Vào một buổi sáng đẹp trời, hơn 2.000 nhân khẩu trên tổng số 4.000 đã tuân theo lời rỉ tai của chính phủ từ chối lãnh phần ăn sáng. Việc nầy làm náo động toàn trại và Task Force biết chắc rằng chỉ do tôi khởi xướng mà thôi. Họ xem tôi như cái gai chận đứng lợi lộc của họ khi chỉ nhận được tiền của 2000 khẩu phần có chữ ký của tôi thay vì 4000 cho ngày hôm đó..

 

Tình trạng ngày càng căng thẳng đến nổi tôi quyết định là phải tìm mọi cách hợp pháp để mau chóng rời khỏi nơi đây. Kết quả là một sớm đẹp nắng, Ramsey xuất hiện mà không báo trước đưa tôi ra phi trường cùng với hai mươi em cô nhi để nhờ tôi hướng dẫn qua Mỹ. Tôi còn nhớ những lời chúc lành và cám ơn của Ramsey về những việc tôi đã làm ở trại Sungei Besi. 

 

Sự thực là tôi chỉ được biết mình phải rời nơi đây từ tối hôm trước mà thôi. Hành trang của tôi khi ra khỏi tiểu quốc Sungei Besi thật nhẹ nhàng: Không có chương mục ở ngân hàng ngoại quốc; Chỉ một bộ quần áo đang mặc trên người mua bằng tiền của học trò và vợ gửi qua; Bức tranh vinh quy bái tổ đã kể trên; Một phong bì lớn chứa đựng hồ sơ cá nhân mà tôi đã được dặn dò chỉ mở ra khi đặt chân tới Hoa Kỳ. Tôi đã không hề nhận lãnh quần áo ở Bộ Xã hội mặc dù chính tôi đã ký nhận hàng tấn quần áo từ các cơ quan thiện nguyện trên thế giới gửi đến.

 

Tôi rời Sungei Besi sau năm tháng "trị vì". Tuy chỉ là một thời gian ngắn tựa bóng câu qua cửa sổ so với một đời người nhưng giai đoạn nầy đã để lại một dấu ấn sâu đậm. Tôi đã gặp rất nhiều tấm lòng thành, và những bầu nhiệt huyết trẻ, trong sáng và chỉ có tâm nguyện làm tốt cho những người chung quanh và làm đẹp xã hội. Mặc dù biết rằng tôi có thể rời trại để đi Hoa kỳ bất cứ lúc nào vì hồ sơ định cư của tôi đã hoàn tất hai tuần sau khi đặt chân đến Sungei Besi cũng như được miễn qua trại chuyển tiếp ở Bataan (Phi luật Tân). Nhưng, những chuyện nhân tình thế thái ở cái xã hội nhỏ nầy đã làm tôi bận tâm và giữ chân tôi suốt năm tháng dài. Trong khoảng thời gian nầy, thực sự tôi rất ít có giây phút nghĩ và mong sớm được gặp mặt vợ con.

 

Nhìn lại xã hội thu hẹp Sungei Besi, tôi có cảm tưởng có một sự buông thả hoàn toàn sau khi mọi người vừa được hít thở một ít không khí tự do. Sự buông thả trên không nằm trong ý nghĩa cao đẹp của Phật giáo mà là một sự buông thả vô trách nhiệm, vô đạo đức của một số người đại diện cho mọi tầng lớp trong xã hội. Từ cậu thanh niên đến cô thiếu nữ, từ người vợ trên đường vượt biển tìm chồng cho đến những người cha, người chồng trên bước đường sum hợp gia đình. Tất cả vẽ lại nơi đây một bức tranh vân cẩu nói lên rất nhiều tệ trạng xấu xa nhất trên cõi đời ô trọc nầy mà vì tính chất phóng sự vui của bài nầy, tôi không muốn vào chi tiết.

 

Phần nhiều mỗi người trong chúng ta đều có "những điểm đen" trong tâm khảm, mà khuynh hướng thường có định kiến khắt khe với người nhưng lại quá dễ dãi với chính mình là một! Nhưng tôi đã may mắn không phạm phải một sai trái nào trong thời gian tạm trú ở đây như "thường tình", mặc dù có biết bao cám dỗ đến từ nhiều phía. Tôi vẫn giữ được "bình an dưới thế", không phải vì tôi biết tự chế, không phải vì tôi có một tấm lòng "trong trắng" và "trung thành với vợ con", mà vì tôi.... biết SỢ! Đây, tuy là một xã hội nhỏ, tuy nhiên lý trí cho tôi biết rằng, bất cứ một hành động sai tráí nào của mình cũng được loan truyền đi khắp thế giới, vì nơi đâu cũng có tị nạn cả. Do đó, tôi thì càng phải ráng giữ mình. Chính nhờ suy nghĩ trên mà tôi thoát khỏi "sự cố cho bản thân".

 

Tôi xin kết luận bằng một số bài học mà tôi rút tỉa ra được trong thời gian "lãnh đạo quốc gia chuyển tiếp Sungei Besi":

 

·         Lãnh đạo phải chia xẻ THỰC SỰ với cùng điều kiện sống của nhân dân;

·         Lãnh đạo sẽ bị đào thải nếu phi dân tộc, phản dân tộc và đi ngược lại quyền lợi của toàn dân;

·         Bám theo chân ngoại bang thì suốt đời chỉ làm nô lệ cho ngoại bang và sẽ bị loại trừ bất cứ lúc nào ngoại bang thay đổi chính sách;

·         Thiếu chính nghĩa, hành xử bá đạo, và xử dụng bạo lực để đàn áp nhân dân thì sớm muộn gì cũng sẽ bị hủy diệt;

·         Và bài học sau cùng là không thể nào có được độc lập thực sự (trong nghĩa cực đoan) của một quốc gia trước xu thế toàn cầu hóa của thế giới mà phải chấp nhận liên kết và liên đới với nhau.

 

Mai Thanh Truyết

Thân tặng bà con trên chuyến tàu PB768

Cập “bến” Trengganu ngày 24/12/1982

 

                                                                                                

 

 

 

http://img2.blogblog.com/img/widgets/arrow_dropdown.gifhttp://img1.blogblog.com/img/icon_feed12.pngPosts

 

 

http://img1.blogblog.com/img/icon18_wrench_allbkg.png

 

Monday, January 1, 2024

 

Từ Nghị trình Biến đổi khí hậu Agenda 2030 đến

Lệnh Điều hành Agenda 30/30

 



Lệnh điều hành 30/30 là gì?

Vào Thứ Bảy, ngày 27 tháng 1 năm 2021, Tổng thống Joe Biden đã ký một Sắc lệnh Hành pháp với tiêu đề “Báo cáo Bảo tồn và Khôi phục Nước Mỹ Tươi đẹp” hay còn gọi là Lệnh Điều hành 30/30 sẽ giúp khôi phục sự cân bằng trên đất và nước công cộng, tạo việc làm và đưa ra con đường để điều chỉnh việc quản lý đất và nước công cộng của Hoa Kỳ với các mục tiêu về khí hậu, bảo tồn và năng lượng sạch của Hoa Kỳ.



Sắc lệnh sẽ chỉ đạo Bộ Nội vụ vạch ra các bước để tạm dừng việc cho thuê dầu và khí đốt tự nhiên mới trên đất công và vùng biển ngoài khơi, đồng thời với việc đánh giá toàn diện chương trình dầu khí liên bang để đạt được cam kết của Tổng thống nhằm bảo tồn ít nhất 30% mỗi chương trình. đất và nước của chúng ta vào năm 2030, theo khuyến nghị của các nhà khoa học, nhằm bảo vệ sức khỏe, nguồn cung cấp thực phẩm, đa dạng sinh học và sự thịnh vượng của mọi cộng đồng.

Các hành động chính sẽ là:

• Tạm dừng cho thuế dầu khí mới;

• Tạo việc làm bằng cách đầu tư vào năng lượng tái tạo và phục hồi;

• Bảo tồn 30% đất đai và đại dương của Mỹ vào năm 2030. 

Tất cả những hành động trên đều nhằm mục đích ứng phó với thỏa thuận được 196 nguyên thủ quốc gia ký kết trong Hội nghị thượng đỉnh về biến đổi khí hậu tại Hội nghị các bên – COP 21 tại Paris năm 2015. Và TT Joe Biden đặt mục tiêu hành động để duy trì cam kết khôi phục sự cân bằng trên Đất và Nước công cộng, Đầu tư vào tương lai năng lượng sạch.

Phát triển bền vững được chia thành ba trụ cột chính là xã hội, kinh tế và môi trường. Ba trụ cột này tác động lẫn nhau nên nếu một trụ cột nào đó được cải thiện thì sẽ tác động tích cực đến hai trụ cột còn lại. Tuy nhiên, nếu một trong các trụ cột không thể phát triển bền vững sẽ có tác động tiêu cực đến hai trụ cột còn lại.

• Xã hội: Khía cạnh xã hội chủ yếu liên quan đến các vấn đề xã hội như hòa bình và an toàn, hệ thống chăm sóc sức khỏe, bất bình đẳng giàu nghèo và hệ thống pháp luật nhằm ngăn ngừa các vấn đề như chiến tranh, bệnh tật hoặc xung đột sắc tộc.

• Kinh tế: Khía cạnh kinh tế chủ yếu liên quan đến việc liệu môi trường, lao động và các quyền của cộng đồng địa phương có bị ảnh hưởng trong quá trình theo đuổi tăng trưởng kinh tế hay không. Điều này nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững đồng thời đáp ứng nhu cầu của người dân và duy trì tiến bộ.



• Môi trường: Khía cạnh môi trường chủ yếu liên quan đến phát thải khí nhà kính, tài nguyên nước và bảo tồn môi trường tự nhiên. Điều này nhằm giảm thiểu tốc độ biến đổi khí hậu và đảm bảo rằng mọi người đều có thể tận hưởng nước sạch và môi trường tự nhiên đáng sống.

17 Mục tiêu Phát triển Bền vững là: - Không nghèo - Không đói - Sức khỏe tốt và hạnh phúc - Giáo dục phẩm chất - Bình đẳng giới tính - Nước sạch và vệ sinh - Năng lượng sạch và giá cả phải chăng - Việc làm ổn định và tăng trưởng kinh tế - Công nghiệp, đổi mới và cơ sở hạ tầng - Giảm bất bình đẳng - Thành phố và cộng đồng bền vững - Tiêu dùng và sản xuất có trách nhiệm - Hành động vì khí hậu - Cuộc sống dưới nước - Cuộc sống trên đất liền - Hòa bình, công lý và thể chế vững mạnh - Hợp tác vì các mục tiêu.

***

Bắt đầu câu chuyện…

·       Giả sử hiện tượng nóng lên toàn cầu do việc phóng thích khí carbonic từ năng lượng hóa thạch là có thật.

·       Giả sử những mục tiêu cao cả mà Chương trình nghị sự 2030 tại COP 21 năm 2015 đề ra và được chính quyền Biden thực hiện đang được tất cả các quốc gia trên thế giới tiến hành và thông qua.

Liệu thế giới này có trở thành thiên đường trên trái đất không?

Câu trả lời thẳng thừng của tôi là KHÔNG!

Rất đơn giản! Bởi không ai, không một quốc già nào có thể đạt được bất kỳ mục tiêu nào trong 17 mục tiêu cao cả và thời thượng trên.

Những lý do là…

17 mục tiêu liên quan đến ba trụ cột chính là Con người, Thịnh vượng, Hành tinh, mục tiêu thứ 16 thúc đẩy xã hội hòa bình và mục tiêu cuối cùng thứ 17 là quan hệ đối tác toàn cầu vì phát triển bền vững.

• Con người: Mục tiêu 1,2 chấm dứt Nghèo, Đói. Mục tiêu 3,4 để đảm bảo cuộc sống lành mạnh và giáo dục chất lượng toàn diện và công bằng. Mục tiêu 5 đạt được bình đẳng giới và trao quyền cho tất cả phụ nữ và trẻ em gái. TẤT CẢ các mục tiêu trên đều KHÔNG THỂ đạt được. Chấm dứt.

• Thịnh vượng: Mục tiêu 7 dành để đảm bảo khả năng tiếp cận năng lượng hiện đại, đáng tin cậy, bền vững và giá cả phải chăng cho tất cả mọi người. Mục tiêu 8 nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững, toàn diện và bền vững, tạo việc làm đầy đủ, năng suất và việc làm bền vững cho tất cả mọi người. Mục tiêu 9 về xây dựng cơ sở hạ tầng có khả năng phục hồi, thúc đẩy công nghiệp hóa toàn diện và bền vững và đổi mới rừng. Mục tiêu 10 về giảm bất bình đẳng trong và giữa các quốc gia. Và Mục tiêu 11 để làm cho các thành phố và khu định cư của con người trở nên toàn diện, an toàn, kiên cường và bền vững. Những mục tiêu kể trên chỉ là lý thuyết, hoàn toàn không có khả năng và diều kiện tài chính để thực hiện.

• Hành tinh: Mục tiêu 12 dự trữ để đảm bảo mô hình sản xuất và tiêu dùng bền vững. Mục tiêu 13 về thực hiện hành động khẩn cấp để chống lại biến đổi khí hậu và các tác động của nó. Mục tiêu 14 về bảo tồn và xử dụng bền vững đại dương, biển và tài nguyên biển để phát triển bền vững. Mục tiêu 15 nói về bảo vệ, khôi phục và thúc đẩy việc xử dụng bền vững các hệ sinh thái trên cạn. Hoàn toàn ảo tưởng!

Đặc biệt, nếu chúng ta chú ý hơn nữa đến Mục tiêu 1 và 2, những mục tiêu này ngay từ đầu trông có vẻ rất cao quý là một hành động nhân ái của con người, nhưng trên thực tế, chúng đã gửi đi một thông điệp mạnh mẽ về “Chấm dứt sự nghèo đói dưới mọi hình thức ở khắp mọi nơi” và “Chấm dứt nạn đói”, “Đạt được an ninh lương thực và cải thiện dinh dưỡng”, tất cả chính là mục tiêu ưu tiên nhứt của Globalists Group, trong đó họ tập trung vào việc giảm tỷ lệ dân số trên toàn cầu.

Chúng ta còn nhớ Bill Gates đã từng công bố là “thế giới hiện tại đông người quá, cần phải tái lập một trật tự mới”. Trong một cuộc nói chuyện ở diễn đàn Event 201, Bill Gates đã khẳng quyết:“Thế giới ngày nay có 6,8 tỷ người. Con số đó lên tới khoảng chín tỷ. Bây giờ, nếu chúng ta thực hiện một công việc thực sự tuyệt vời đối với các loại thuốc chủng ngừa mới, dịch vụ chăm sóc sức khỏe, dịch vụ về sức khỏe sinh sản, chúng ta có thể hạ thấp [dân số thế giới], có lẽ là 10 hoặc 15%.”  


Về COP28 vừa qua

Trong tình hình hiện tại, kết luận của COP 28 ở Dubai không bao gồm bất kỳ đề cập nào đến việc loại bỏ nhiên liệu hóa thạch và chỉ đề cập ngắn gọn đến “việc cắt giảm (năng lượng hóa thạch) công bằng, có trật tự và bình đẳng,



Sự phản đối hoàn toàn của Ả Rập Saudi, với tư cách là thành viên nổi bật nhất của OPEC, đối với việc ký kết bất kỳ điều gì có chứa những từ “năng lượng hóa thạch”, với sự đồng lõa của Al Jaber của UAE với tư cách là Chủ tịch COP 28 năm nay, đã đưa ra một dự thảo mỉa mai, giống như Al Gore đã bình luận là “của các nước dầu hỏa, do các nước dầu hỏa và vì các nước dầu hỏa”.

Tại sao có sự khác biệt trong bảy năm làm việc với nhau từ sau COP 21

 

Trong khoảng thời gian này, các quốc gia thành viên đã gặp hàng năm kể từ khi đồng ý 17 mục tiêu xác định các điểm chính của thỏa thuận và bất đồng từ COP 21. Mặc dù đã chuẩn bị trước như vậy, nhưng vẫn còn 916 khu vực và quan điểm bất đồng trước khi nhóm họp đã được đúc kết trong một văn bản gồm 25.325 chữ.

Tất cả các nước đều hứa sẽ đạt mục tiêu phát thải đề ra "càng sớm càng tốt", nghĩa là giảm thiểu hay ngưng hẳn số lượng carbonic phát thải tại một số thời điểm giữa năm 2050 và 2100.

Nhưng, theo đa số các nhà khoa học ước tính điều này phải xảy ra vào năm 2070 là chậm nhất. Nhưng đó chỉ là một giả thuyết mà thôi. Nhưng thật không may, không ai trong số các cam kết đưa ra tại hội nghị được/bị ràng buộc pháp lý rõ ràng. Liên Hiệp Quốc đang hy vọng rằng áp lực thay vào đó sẽ làm cho các nước theo dõi, mặc dù không có hình phạt pháp lý nào đối với các quốc gia không thể đáp ứng thỏa thuận. 

Các quốc gia nhỏ và quốc gia đang phát triển thấy đây là một câu hỏi liệu họ sẽ nhận được sự trợ giúp đặc biệt từ các quốc gia giàu khi bị thiên tai do sự thay đổi khí hậu gây nên hay không?

Có lẽ chính vì vậy mà tạp chí Economist, ngay trong số 19/12-2015 đến 1/12016 đã nêu ra hai đề tựa: "Hopelessness and Determination" và "Green light: What to expect after the deal that exceeded expectations" - Vô vọng và Quyết tâm" và "Đèn xanh: Điều gì sẽ xảy ra sau thỏa thuận vượt quá sự mong đợi".

Như vậy rõ ràng là, ngay cả những quốc gia nêu ra nguyên nhân và hậu quả của sự thay đổi khí hậu cũng như đề xướng những hành động cần có của cá nhân, quốc gia v.v…để giải quyết vấn đề đặt ra, dư luận khắp thế giới vẫn đặt nghi vấn cho những hành động trong tương lai, ngay từ khi mối quan tâm đã được khơi dậy từ Thượng đỉnh Rio de Janeiro từ năm 1992!

Những hoài nghi về biến đổi khí hậu

a-    Phản đối của dân sống ở các hải đảo

Triển vọng khơi dậy sự hoài nghi trong các đại biểu của các nước đang phát triển ở Paris, hầu hết vẫn tin rằng bất kỳ thỏa thuận nào đạt được sẽ chỉ là sự lập lại những lời hứa không được thực hiện vốn đã thấy tại các cuộc họp thượng đỉnh trước đây về khí hậu mà thôi.

Ông Tony De Brum, ngoại trưởng Quần đảo Marshall, đã họp với các thành viên của đảng Cộng hòa tại Quốc hội Hoa Kỳ, và cho biết họ đã nói với ông rằng, "Đừng quá tin chắc vào những gì sẽ có được ở Paris bởi vì chúng tôi không chắc nó sẽ khởi động  trong nước."

Đặc biệt là các hải đảo, nạn nhân chính của hiện tượng biến đổi khí hậu. Trên thế giới có tổng cộng 44 đảo quốc. Tuy chỉ chiếm có 1% dân số toàn cầu, và là những quốc gia nghèo nhất, nhưng tiếng nói của những quốc gia này đang đè nặng lên các cuộc thương lượng.

Libération trong bài phóng sự cho biết, các đảo quốc nhỏ không đồng tình với mức hạn chế tăng nhiệt độ ở 2°C mà phải là ở mức 1,5°C. Đại diện đảo Maurice cho rằng: « Không phải chính các đảo quốc làm biến đổi khí hậu, mà chính họ mới là nạn nhân, đang gánh chịu hậu quả của hiện tượng này. Các quốc gia gây ô nhiễm phải hiểu là chúng tôi cần một cách giải quyết khác khác và đặc biệt hơn».

b-   Hoa Kỳ chia rẽ

Thỏa thuận về khí hậu toàn cầu đang phân chia hai luồng ý kiến trái chiều mang tính đảng phái ở thủ đô của Mỹ. Ngay sau khi kết thúc COP21, TT Barack Obama hân hoan phát biểu ngay sau khi thỏa thuận được công bố:"Thỏa thuận này sẽ có nghĩa là ít ô nhiễm khí carbonic hơn là đe dọa tới hành tinh của chúng ta, và thêm nhiều công ăn việc làm và tăng trưởng kinh tế hơn được thúc đẩy bởi đầu tư vào carbon thấp", 

Nhưng những nghị sĩ thuộc Đảng Dân chủ trong Quốc hội đã ồ ạt lên Twitter ca ngợi thỏa thuận này. Thế nhưng những nghị sĩ Đảng Cộng hòa thì khác, họ đã tuyên bố phản đối ngay cả trước khi đạt được thỏa thuận trên.

"Tổng thống Obama đã hứa sẽ cắt giảm mạnh sản lượng năng lượng của Mỹ," Thượng nghị sĩ Cộng hòa John Barrasso phát biểu:"Người dân Mỹ chống đối gửi tiền tới nguồn quỹ khí hậu bất chính của Liên Hiệp Quốc." Cũng cần nên nhớ, Obama ngay sau khi chấm dứt Thượng đỉnh COP21 đã đóng góp 1 tỷ US$ vào Quỹ LHQ.

Trong một thông cáo, lãnh đạo khối Đa số Thượng viện Mitch McConnell chỉ trích thoả thuận là "không thể thành tựu được" và "dựa trên một kế hoạch năng lượng nội địa mà có phần chắc là bất hợp pháp, đã bị một nửa các bang khởi kiện để đình chỉ, và đã bị Quốc hội bỏ phiếu bác bỏ."

c- Ấn Độ đòi công bằng

Thủ tướng Ấn độ Narendra Modi đã đòi điều mà ông gọi là ''Công lý về Khí hậu''.

Sau quá trình công nghiệp hóa trong những thế kỷ vừa qua, các nước giàu có trách nhiệm lớn trong việc phát thải các loại khí gây hâm nóng trái đất. Các nước giàu giờ đây khó thể nào áp đặt các nước đang phát triển phải kềm hãm tăng trưởng của họ, để giúp chống biến đổi khí hậu.

Ấn Độ biện minh cho quan điểm của mình và đòi được quyền phát triển. New Delhi chỉ cam kết nhân lên gấp 20 lần mức sản xuất năng lượng mặt trời, và dùng 40% năng lượng sạch để sản xuất điện lực từ đây cho tới năm 2030. Theo Le Monde, Ấn Độ trước hết bảo vệ quyền lợi riêng: “Ở một đất nước mà hàng trăm triệu gia đình chưa có nhà vệ sinh, không có đủ điện nước để sinh hoạt, thì việc chống biến đổi khí hậu vẫn là một điều gì đó còn trừu tượng xa vời, một thứ xa xỉ phẩm mà người nghèo chưa dám nghĩ tới”.

Hiện tại, Ấn Độ vẫn còn xử dụng than đá và dầu là nguồn điện năng chính cho quốc gia nầy, chiếm 71%. Làm sao quốc gia nầy thực hiện được lời hứa là cho đến năm 2022 (dự trù trong Agenda 2023), sẽ tăng nguồn năng lượng mặt trời lên 100GW, trong lúc hiện tại, Ấn Độ chỉ sản xuất được 5GW cho nguồn năng lượng nầy mà thôi!

d- Việt Nam lại đi ăn mày

Sau 13 ngày hội họp, cùng  với sự thoả thuận chung giữa Việt Nam và các quốc gia tài trợ, Việt Nam được cho vay 15,50 tỷ Mỹ kim với mức lời phải chăng, và sẽ được phân phối trong vòng 3-5 năm tới để đẩy mạnh việc xử dụng năng lượng xanh, và giảm lượng sử dụng than đá. CSVN còn đưa ra kế hoạch là sẽ đẩy mạnh để giảm lượng than đá dùng từ 31% (trong năm 2020) xuống còn 20% trong năm 2030. Sự thật là, hiện nay Việt Nam vẫn đang thực hiện dự án xây cất 10 nhà máy than nhiệt điện cho đến năm 2040. Như vậy, lời hứa của Việt Nam và sự trợ giúp của LHQ hoàn toàn tương phản!

Thay lời kết

Chủ tịch Thượng đỉnh COP 28, Ông Sultan Ahmed Al Jaber tuyên bố:”Không có khoa học nào hoặc không có kịch bản nào nói rằng việc loại bỏ nhiên liệu hóa thạch là điều sẽ đạt được mức 1,5°C.” Ông cho biết thêm:”Động thái này sẽ không cho phép phát triển kinh tế xã hội bền vững, trừ khi chúng ta muốn đưa thế giới trở lại thời kỳ đồ đá.”



Chính quyền Biden đã đưa ra hai tuyên bố tại hội nghị COP28 diễn ra  ở Dubai mà họ cho rằng sẽ cứu trái đất khỏi nạn biến đổi khí hậu.

Các chính sách này không có khả năng thay đổi nhiệt độ quả địa cầu dù chỉ một phần mười độ, nhưng chúng có thể phá hủy nền kinh tế công nghiệp của Hoa Kỳ ở Thế Kỷ 21 như chúng ta đã biết.

·       Đầu tiên, Nhóm Biden tuyên bố sẽ ngừng xây tất cả các nhà máy phát điện mới chạy bằng than đá ở Hoa Kỳ. Điều này xảy ra ngay sau khi cơ quan Bảo Vệ Môi Trường của Tổng Thống Biden cho biết năm nay cơ quan này sẽ áp đặt các quy định mới về khí thải của nhà máy phát điện mà các nhà máy chạy bằng than đá hầu như không thể tuân thủ. Điểm mấu chốt của chính quyền Biden là “Không Còn Than Đá Nữa. Dứt khoát”!

·       Phó Tổng Thống Kamala Harris đã công bố các quy định mới vào ngày hôm sau nhằm “giảm mạnh lượng khí mê-tan từ ngành dầu khí tự nhiên”.C

·       Chính quyền Biden gọi khí methane là “chất siêu ô nhiễm” mà họ muốn loại bỏ vì nó “mạnh hơn nhiều lần so với carbon dioxide”. Nhưng methane thực chất chỉ là một loại hydrocarbon có nguồn gốc từ khí tự nhiên. Việc loại bỏ khí methane trên thực tế là lệnh cấm đối với các nhà máy điện dùng khí tự nhiên.

·       Cựu Phó TT Al Gore, người từng đoạt giải Oscar qua quyển sách “An inconvenient truth” năm 2009, trong đó đã từng dự báo là:”Vào năm 2015, thành phố New Orleans sẽ …chìm dưới nước biển”. Bạn có tin nhà “tiên tri không có bằng cấp” nầy không? Al Gore đã đưa ra cảnh báo nghiêm khắc về hậu quả tiềm ẩn của biến đổi khí hậu, cho thấy việc không hành động có thể dẫn đến việc phải di dời tới một tỷ người. Trong một cuộc phỏng vấn gần đây trên CNN ngày 26/12/2023, Gore đã vẽ ra một bức tranh về một tương lai nơi “những người tị nạn khí hậu” bị buộc phải vượt qua biên giới quốc tế do thảm họa môi trường, dẫn đến sự gia tăng “chủ nghĩa độc tài và độc tài dân túy”. Biến đổi khí hậu có thể khiến hàng tỷ người mất nhà, đe dọa khả năng quản trị toàn cầu. Đây là phần nham hiểm nhất của câu chuyện này mà không ai trong chính quyền Biden nói cho bạn nghe: “Việc xóa bỏ các nhà máy phát điện chạy bằng than đá và khí đốt tự nhiên sẽ tàn phá mạng lưới điện của Hoa Kỳ.”

Như vậy, những quy định trên đây, nếu được thực hiện, sẽ gây ra tình trạng mất điện và mất điện luân phiên trên khắp đất nước, giống như những gì chúng ta đã thấy ở California. Đây là bước khởi đầu của một nước Mỹ với các chính sách triệt để chống xử dụng nhiên liệu hóa thạch.

Cái gì sẽ bù đắp cho lượng điện năng bị mất, đặc biệt là khi nhu cầu về lưới điện sẽ tăng lên gấp bội trong những năm tới vì phe nhóm "xanh" muốn toàn bộ mạng lưới ô tô và xe tải được cung cấp năng lượng bằng cách sạc điện từ lưới điện?

Nói cách khác, chính quyền Biden muốn tăng gấp đôi nhu cầu về mạng lưới điện, đồng thời muốn đóng cửa hơn một nửa nguồn điện của quốc gia, là những nguồn năng lượng đáng tin cậy nhất! (Tỷ lệ năng lượng hóa thạch ở Mỹ chiếm 60% tổng sản lượng điện năng toàn quốc. Báo cáo của Viện Năng lượng Anh (EI) cho thấy nhiên liệu hóa thạch chiếm 82% tổng mức tiêu thụ năng lượng của thế giới năm 2022).

Phải làm điều gì đó!



Các nhóm biến đổi khí hậu chen chúc ở Dubai vừa qua, cùng với hơn 190 nguyên thủ quốc gia và 97.000 dự thính viên trong suốt 13 ngày nhóm họp, được lặp đi lặp lại bởi các chính trị gia “đà điểu vùi đầu trong cát” như John Kerry, ông này đã ngoan ngoãn khuyến cáo rằng người Mỹ sẽ phải giới hạn đi máy bay, đặc biệt là bay ra nước ngoài, phải ít phụ thuộc vào xe hơi, và nên thay vào đó bằng phương tiện công cộng hoặc xe đạp. Còn các ông chủ lớn có quyền dùng máy bay riêng đi đây đi đó khắp nơi.

Hơn 2.100 học giả trong nhiều lãnh vực khác nhau đến từ hơn 80 quốc gia đã nêu lên tuyên bố "một phát biểu đạo đức và chính trị" (a moral and political statement) để các nhà lãnh đạo toàn cầu suy gẫm. Cần phải kể đến vài trong số những người ký tên là những học giả nổi tiếng và được nhiều người biết đến bao gồm triết học và ngôn ngữ học Noam Chomsky (MIT); nhà khoa học thực tiễn Stephan Lewandowski (Đại học Bristol); nhà khoa học khí hậu Michael E Mann (PSU); nhà văn và nhà môi trường Bill McKibben (Middlebury College); nhà sử học và khoa học gia Naomi Oreskes (Harvard); và triết học đạo đức Peter Singer (Princeton).

Robert Watson, cựu chủ tịch Hội đồng liên chính phủ về biến đổi khí hậu, than thở: “Các quốc gia cần tăng gấp đôi và gấp ba cam kết giảm thiểu vào năm 2030 để phù hợp với mục tiêu Paris”. Trời ạ, điều này nghe giống như một hiệp ước mà chúng ta chắc chắn nên tham gia và cần phải thanh toán các hóa đơn.

Rốt ráo ra, chúng ta cần nhận biết rằng, vấn đề thay đổi khí hậu toàn cầu không phải là một vấn đề thuần túy môi trường là còn là nhiều vấn đề đạo đức và đạo lý nữa.

Thay vì chạy theo những “giả thuyết” không có chứng minh khoa học vững chắc, chúng ta cần nhìn vào thực tế của vấn đề, nhìn về từ phía sau, những võ đoán của cái gọi là những nhà khoa học có định hướng. Và một hướng đi mới trước biến đổi khí hậu, chúng ta cần giải quyết nhiều vấn đề đó là:

•         Làm cách nào để sống được trong một bầu trời có lượng khí nhà kính cao?

•         Làm cách nào để phát triển nông phẩm trong điều kiện khí hậu khắc nghiệt như hạn hán hay ẩm ướt, nóng bức hay lạnh lẽo?

•         Làm cách nào để bảo vệ nguồn protein trong thiên nhiên như gia súc trên đất, trong không khí, và thủy sản trong nước trong các điều kiện trên?



Và, nếu lãnh đạo các quốc gia đã phát triển không mở đường, chính dân chúng sẽ tự vạch đường mà đi.

Sau cùng, câu hỏi được đặt ra là từ nay cho đến năm 2030, Hành pháp Biden có khả năng thực hiện và hoàn tất bất cứ mục tiêu nào trong 17 muc tiêu đề ra trong Agenda 30/30 hay không?

Hay đó chỉ là một hình thức “bẩy xập” để chiếm hữu 30% đất và biển của người dân, một hình thức truất hữu giống như các chế độ xã hội chủ nghĩa?

Mai Thanh Truyết

Un Chameau qui passe

Houston December 24, 2023