Tuesday, November 9, 2021

 

Người bạn, Người đồng chí

Thành ngữ Pháp có câu: "Le moi est haïssable! - nói về cái tôi rất dễ ghét!" Tại sao bắt đầu bài giới thiệu sách của một người bạn bởi thành ngữ nầy? Vì viết, nói về Mai Thanh Truyết, giới thiệu những bài viết của Mai Thanh Truyết, một người bạn, một người đồng chí là nói ra những cái tâm tư tuy là giấc mơ, là tâm huyết của bạn nhưng cũng là của tôi nữa. Nói về Mai Thanh Truyết, nói về sách, nói về bài viết của Mai Thanh Truyết là nói về mình. Nói về những giấc mơ của mình.

Lần đầu bỡ ngỡ:

Hòa đàm Paris năm 1968. Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy được Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cử sang Paris cố vấn phái đoàn Việt Nam Cộng Hòa. Mùa Đông 1969, tôi nhận điện thoại từ Paris cho biết là Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy cần gặp tôi. Nhớ lại từ 1964 khi Bác sĩ Nguyễn Tôn Hoàn và Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy trở về nước tham chánh tôi chưa gặp lại hai chú bác ấy. Tôi vẫn thường gọi Bác sĩ Nguyễn Tôn Hoàn là Bác Tư và Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy là Chú Ba; chú Ba gọi là tôi phải lên ngay. May quá, năm ấy tuy làm phụ giảng (assistant) ở Viện Nghiên Cứu Quốc tế ở Toulouse, tôi không có giờ dạy học mà chỉ làm quản thủ cho thư viện của Viện thôi, và tôi có thể xin nghỉ một tuần, bù vào ngày nghỉ mùa hè để lên Paris gặp chú Ba.

Chú Ba muốn được giới thiệu những người tin tưởng để đưa Chú Ba đi gặp đồng bào ở Âu châu. Dĩ nhiên, vùng nào đều có thổ công đó. Vùng Toulouse và phụ cận mình lo được chứ những vùng khác phải làm sao tìm cho được thổ công, vừa đáng tin cậy, vấn đề an ninh và an toàn cho giáo sư Huy, phải quen biết nhiều, có uy tín.

Tôi đã biết Mai Thanh Truyết trước rồi, nhưng thật sự, trong dịp ấy, chúng tôi mới quen nhau. Mai Thanh Truyết đang học Tiến sĩ Hóa học ở Besançon, một thành phố nằm ở miền Đông xứ Pháp, một trong những vùng lạnh nhứt nước. Với cặp mắt nhìn thẳng, nụ cười cởi mở, và cái ít gặp nơi người Việt ta, kể cả ở những sinh viên du học thời bấy giờ là "đúng giờ ". Mai Thanh Truyết là "con người đúng giờ", và tôi cũng thế, nên mới ngày đầu làm việc chung, tuy mới quen nhau, hai thằng đã y hẹn, "đúng giờ" và đã nghéo tay dễ dàng với nhau. Truyết "khó tánh" hơn tôi, dễ nổ, dễ "quạu" khi gặp những ai đi trễ giờ, hay làm sai hay  "quá du di không đúng với những giao ước", Truyết rất khoa học, chỉ "hoặc đúng hoặc sai" thôi, tôi dân luật nên thường "tùy trường hợp, tùy điều kiện" hơn.

Tuy dễ nhịn nhục hơn Truyết, nhưng vẫn "bực mình", nhưng nhờ Nam kỳ tánh, nên đành lầm bầm "chửi thề", cho đỡ đau dạ dầy. Vả lại, "chửi thề", ít "thất đức" hơn vì "mình chửi mình nghe", - ba tui dạy tui dzậy - vì khi mình chửi mắng người ta, mình bị tổn đức, và gây ơn oán giang hồ. Có lẽ vì vậy, ngày nay, tôi rất "dễ chửi thề". 

Chúng tôi lúc ấy chỉ lo cho công việc chung, không có thời gian làm quen và nói chuyện riêng; nên cả hai chúng tôi đều không ai giới thiệu vợ con với nhau cả. Và sau hai ngày ở Besançon, Truyết lãnh trách nhiệm vừa lái xe đưa Giáo sư đi vừa lo tổ chức những cuộc nói chuyện của Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy, tôi hết nhiệm vụ, hết ngày phép nên về lại Toulouse. Và chúng tôi cũng bặt tin nhau, chẳng ai gọi ai cả. Tại sao? Chính tôi ngày nay vẫn không hiểu.

Hội ngộ giữa Sàigòn:

Tháng 7 năm 72, sau khi An Lộc được giải tỏa, tôi được giải ngũ và biệt phái trả về bộ Giáo dục, Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy, lúc bấy giờ trách nhiệm lãnh đạo Tân Đại Việt và Phong trào Quốc gia Cấp tiến, giao cho tôi hai công tác:

-         Một là, tổ chức Trí thức vận. Tôi đi tìm và gặp Mai Thanh Truyết sau đó hơn một năm trời tức là năm 1973 tại Sài Gòn; sau đó, tôi rủ Truyết đi cùng tôi đến gặp Chú Ba Huy. Sau mấy năm không gặp nhau mà trông Truyết đã già dặn hẳn, có một tấm vóc rất "giáo sư", rất "lãnh đạo", một người đang dấn thân và sẵn sàng dấn thân. Tuy mới gặp lại nhau, nhưng chúng tôi, sau khi bắt tay nhau, đi vào thẳng vấn đề, như vừa xa nhau ngày hôm qua. Truyết và tôi được Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy, anh Ba chỉ thị lập thành một tổ riêng biệt, bí mật, tổ chức mạng lưới giáo chức. Chúng tôi tìm gặp những chuyên viên trong ngành giáo dục để tổ chức một mạng lưới giáo dục cho Việt Nam hậu chiến tranh.

Thừa lệnh Giáo sư, tôi đã giới thiệu Truyết vào Đảng và Truyết bí mật «Tê Đơ» Tân Đại Việt tại nhà Ông Cụ tôi, là anh Ba Xướng, đường Nguyễn Duy Dương, sau lưng trường Nam Sinh Mù chợ An Đông. Hôm ấy có mặt Giáo sư do ông cậu tôi là Thiếu tá Nguyễn Trọng Đệ chở đến. Hệ thống Trí thức Vận, Truyết và tôi, bị cạnh tranh rất mạnh bởi ảnh hưởng của ông cố vấn về sau Tổng trưởng Bộ Dân Vận là anh Hoàng Đức Nhã, cũng là anh bạn đồng môn trung học Lycée Yersin với tôi.

-         Công tác thứ hai nằm trong suy nghĩ tổ chức một Trường Đại học có nhiệm vụ năng luyện những quản trị gia chuyên nghiệp. Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy giao cho tôi và anh Trần Minh Xuân dựng một Viện Đại Học thương mãi, «Trường Cao đẳng Thương mãi Minh Trí». Công tác là phải tạo một lớp cán bộ cán sự và chủ sự trong những ngành công thương nghiệp tư doanh của mạng lưới kinh tế tương lai của Việt nam.  Tôi làm nhiệm vụ đảm nhận trách nhiệm Trường Cao Đẳng Minh Trí với giáo sư Trần Minh Xuân. Truyết lúc ấy đang làm việc ở Đại học Sư Phạm Sài Gòn và cũng có vị trí tổ chức ở Viện Đại học Cao Đài, Tây Ninh, nên không cùng tôi trong công tác ấy. 

Mạng lưới Đại học Sư phạm, Đại học Cao Đài, Cao Đẳng Minh Trí đan với mạng lưới Quốc Gia Hành Chánh và các sĩ quan Quân đội Việt Nam Cộng Hòa sẽ củng cố vai trò của Đảng Đại Việt và các đảng viên Đại Việt tái thiết một Việt Nam hậu chiến tranh, với một tư tưởng, một lý thuyết, trong một đồng thuận nhứt định mà chất keo là tư tưởng và lý thuyết Đại Việt. Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy, Giáo sư Nguyễn Văn Bông đã gieo rắc cán bộ hành chánh của nền Cộng hòa Việt Nam với những ý niệm, quan niệm, tư tưởng cho một nền tảng chánh trị, hành chánh công minh, sáng sủa, với những quan niệm rõ ràng về dân chủ hiến định thực sự, đối trọng ngang tầm với một  đối lập xây dựng, kiểm soát (Nguyễn Văn Bông), với những chu kỳ thay phiên cầm quyền (Nguyễn Ngọc Huy) Quan niệm "Check and Balance" biến thành tập tục chánh trị dân chủ. Cùng với hai Giáo sư, cũng cần nên nhắc đến Ký giả Phạm Thái Nguyễn Ngọc Tân, tức anh Bảy Bớp đi gieo những hạt giống dân chủ.

Và hiện nay, cả ba con chim đầu đàn đã đi vào thiên cổ. Xin đốt lên một nén hương để tưởng niệm Ba Vị đàn anh trong gia đình Đại Việt.

Đến phiên chúng tôi, anh Trần Minh Xuân và tôi, chúng tôi lãnh sứ mạng gieo rắc và tổ chức mạng lưới cán bộ dân sự tương lai đóng góp cho mạng lưới quản lý các công thương nghiệp tư doanh cho Việt Nam thời hậu chiến tranh. Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy đã nghĩ đến thời hậu chiến ngay từ những năm 70 của thế kỷ trước.

Viện Đại học Cao đẳng Thương mại Minh Trí khai giảng mùa nhập trường năm 1974 và tan hàng cùng với đất nước vào ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Những ngày mất ngày tháng

Sau ngày Việt Nam Cộng Hòa tan hàng rã ngũ, anh em tứ tán bốn phương trời, tù đày cực nhọc nhiều hơn thoải mái sung sướng. Ba tôi và hai em tôi đi tù, tôi giữ trách nhiệm quản lý công ty BGI La Ve, nước đá, nước ngọt, núp bóng qua ngày.

Còn bạn tôi, Truyết, chỉ một thời gian ngắn sau ngày 30 tháng 4, bị "mời" ra khỏi ban giảng huấn vì một tội danh, tuy không nói ra, nhưng qua những người đồng nghiệp, đó là tội "có tinh thần quần chúng" mà chế độ không thể chấp nhận một "đức tánh" chỉ dành riêng cho cán bộ đảng cộng sản mà thôi. Nhưng, với cái thông minh và tài năng của nghề nghiệp trong một cái ngành rất hiếm có ở Việt Nam, Truyết được một cán bộ ở Thành ủy lưu ý và mời về phụ trách Trạm Sản Xuất Thí Nghiệm, một tiền thân của Trung tâm Nghiên cứu Sản xuất thử, và sau cùng cho đến hiện tại là Ủy ban Khoa học thành phố ngụ tại 244 Đường Điện Biên Phủ, Sài Gòn.

Truyết cũng phải nín thở sang sông. Nhưng chúng tôi cũng bắt liên lạc lại với nhau. Cái hy hữu là chính những cán bộ quân quản Việt cộng ái mộ tài nghệ anh Tiến sĩ hóa học Mai Thanh Truyết giới thiệu Mai Thanh Truyết với tôi, Giám đốc một công ty sử dụng rất nhiều hóa chất, từ kỹ nghệ lạnh đến nước ngọt, la-ve...

Ban ngày, chúng tôi, hai chuyên viên, có đôi lần gặp nhau ở văn phòng tôi, đường Hai bà Trưng. Nhưng tối đến, tôi thường, cùng các nhơn viên ra bến tàu hóng mát, ăn hột vịt lộn nhậu la de, và bạn Truyết cũng "tình cờ" có dịp ra hóng mát ở bến tàu nhập bọn với chúng tôi. Chúng tôi giữ rất bí mật, không bao giờ gặp riêng hai đứa, cạnh chúng tôi, luôn luôn có người, hoặc là dân BGI làm việc cùng tôi, hay giáo chức quen với Truyết, có khi có cả cán bộ quân quản BGI nhập bọn với dân la-ve.

Trong cảnh tranh sáng tranh tối của bến tàu, chúng tôi cầm tay nhau, cố gắng ngó mắt nhau khích lệ lẫn nhau. Tôi không một lần hỏi thăm gia đình Truyết, xem vợ con Truyết thế nào? Cũng như Truyết không bao giờ hỏi thăm tình cảnh vợ con tôi.

Bạn với nhau cả nửa đời người, hai đứa chúng tôi vẫn không biết tên những đứa con của nhau. Gia đình Truyết, tôi chỉ thực sự gặp lần đầu, khi gặp nhau lại ở Mỹ năm 1994. Vợ chồng Truyết trái lại, đã đến thăm cha mẹ tôi sau năm 1978, sau khi Truyết ở tù về và trước khi vượt biển.  

Rồi đến phiên tôi đi tù, rồi đến phiên Truyết đi tù, Chúa Phật thương chúng tôi nên gởi anh bạn Truyết vào phòng giam của tôi. Chúa thương tôi nên tôi được bà vợ đầm la ó làm khó dễ với cơ quan công an quản thúc, nên tôi được đặc biệt thăm nuôi dồi dào và tử tế hơn những người tù khác. Để trả ơn Chúa, mâm cơm hằng ngày của tôi luôn luôn có những người bạn thay phiên chia sẻ, vì vậy tôi được hân hạnh làm quen với rất nhiều bạn, mà trong đời sống xã hội bình thường của Việt Nam tôi không có dịp gặp: những nhà văn nhà thơ văn nghệ sĩ, những tu sĩ, những cậu bé gan dạ anh hùng rải truyền đơn chống cộng sản như: các anh Nhà thơ Trần Dạ Từ, Họa sĩ Đằng Giao, Giáo sư Ma Xuân Đạo,  Linh mục Nguyễn Hữu Lễ, Nhà báo Đinh Quang Anh Thái thời còn là một cậu học sinh lưu lạc, bác cựu Đại sứ Nguyễn Quý Anh, các Luật sư Mai Văn Lễ, Vũ Ngọc Truy, các đồng môn Lycée Yersin Luật sư Trần Danh San, Luật sư Nguyễn Hữu Giao, các Thầy Vũ Quốc Thông... và nhiều bạn nữa nay không nhớ hết tên xin quý vị tha lỗi cho.

Thời gian Truyết ở tù chung phòng với tôi, Truyết ăn chung mâm cùng tôi và Đinh Quang Anh Thái. Thái không biết chúng tôi đã là anh em với nhau từ trước, vì tôi đối đãi với Truyết như là một người mới quen trong tù, sau nầy có thể qua Mỹ, Thái mới biết anh em chúng tôi quen nhau từ lâu.

Nhờ là chuyên viên trong ngành chuyên môn, nên Việt cộng không xem Mai Thanh Truyết là ác ôn và Truyết được thả ra sau một thời gian "dằn mặt". Còn tôi tiếp tục lật vài cuốn lịch nữa trước khi "được" hay "bị" trục xuất đuổi về "xứ vợ" tháng 6 năm 1980.

Tái ngộ

Năm 1989, sau bao năm tháng lưu lạc tha phương cầu thực ở châu Phi và châu Âu, tôi bỏ tất cả về định cư ở Poitiers và trở lại ngành dạy học. Hè 1994, nhờ vào ngành Giáo dục nên có nghỉ hè, tôi đi Mỹ thăm gia đình em gái, đây lần đầu tôi đi Mỹ. Và tôi gặp lại Mai Thanh Truyết và gia đình Bác sĩ Nguyễn Tôn Hoàn. Mặc dù với Đảng, tôi đã bắt lại liên lạc với Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy ngay từ những năm 1980 khi tôi vừa đặt chân đến đất Pháp, nhưng sau đó, vì cuộc sống bên kia biển Địa Trung Hải nên tôi không có dịp sinh hoạt với nhóm của giáo sư Huy ở Paris. Vả lại Giáo sư Huy vẫn muốn tôi giữ tung tích kín, vì ông cần sử dụng tôi trong những công tác đặc biệt. Ông thường gọi điện thoại để giao cho tôi những công tác ngoài đoàn thể. Bác sĩ Nguyễn Tôn Hoàn cũng thế, khi gặp lại tôi, ông cũng không muốn để tôi lộ mặt ra. Và đối với Mai Thanh Truyết cũng thế.

Đấu tranh

Gặp lại Truyết, câu đầu tiên là "bồ vẫn như ngày nào với mình sống chết có nhau" "Song sao Truyết vậy", và bắt tay cái cụp, chúng tôi có chụp bức hình kỷ niệm ấy, không biết Truyết, bồ còn giữ không? Mình trân quý nó lắm!

Và bạn Mai Thanh Truyết từ năm 2005, đã chấp nhận ra ánh sáng cùng với tôi điều hành Đại Việt Quốc Dân Đảng nên tôi mới kể chuyện nầy, trước là để cám ơn Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy đã dành cho tôi những ưu ái đặc biệt, sau cũng để giới thiệu bạn Mai Thanh Truyết.

Và chúng tôi, ngay những ngày ấy đã nhận rõ và chia vai trò với nhau: vai trò của Truyết phải trau dồi tài nghệ nghề nghiệp và để tái tạo một trận đánh trên lãnh vực khoa học, đánh vào cái chỗ yếu của Việt Cộng: môi sinh, môi trường, hóa chất, nước, nước thải, rác, hóa chất độc hại, cùng những vấn đề nhức nhối của Nhơn loại, và chỗ yếu của những nước kém phát triển và yếu kém về mặt quản trị. Vì đó là nghề của Truyết, Truyết sẽ đem nghề nghiệp, sở trường khả năng mình phục vụ cho chánh trị và đấu tranh cho dân chủ và tự do cho Việt Nam. Dùng nghề nghiệp, sở trường, và tấm lòng son sắt đối với quê hương của mình biến thành vũ khí đấu tranh chánh trị.

Còn vai trò tôi?

Tầm thường hơn, bổn phận tôi là tôi sẽ làm ông từ đường rán giữ cái nhà Đại Việt.

Gặp nhau lần đầu hai anh em đã thấy rõ chiến trường tương lai sẽ do môi sinh và môi trường chủ động, sông ngòi, nguồn nước, không khí, ô nhiễm, phân bón, rác rưới, nước thải... nói tóm lại kinh tế càng phát triển để nuôi sống con người, càng phải quản lý chặt chẽ và khoa học những đầu nguồn và những phế thải của sự sống của con người. Nói tóm lại phải biết phát triển bền vững và biết quản lý nguồn sống. Môi trường sẽ là một đề tài chánh trị lớn, trị nước an dân vẫn sẽ do chánh trị, kinh tế nhưng chánh trị kinh tế là quản trị với môi trường, với đạo đức, trong sạch trong sáng, luật lệ phân minh và sống với quốc tế liên lập, khu vực, vùng, hợp đồng qua lại thế lưỡng lợi (Win-Win situation).

Những lý thuyết chánh trị, Cộng sản chủ nghĩa hay Tư bản chủ nghĩa chỉ dựa trên những lý thuyết phát triển kinh tế và tổ chức xã hội không nghĩ đến vai trò của Thiên nhiên và Môi trường đối với con người.

Nói tóm lại, các chủ thuyết chánh trị đều tranh dành cầm quyền làm chủ căn nhà và tổ chức làm ăn trong một căn nhà, nhưng không một ai nghĩ phải làm sao bảo quản căn nhà, sửa cái cột, lợp cái mái, sơn cái tường, đào cái giếng... Hãy học bài học canh tác của người Thượng miền Cao nguyên Nam Trung phần, họ canh tác xoay vần trên nhiều thửa ruộng khác nhau, họ luôn luôn chừa một thửa ruộng bỏ "góa", không canh tác một năm để đất ruộng ấy nghỉ (terre en jachère). Chặt cây đốn rừng thì phải trồng cây mới... phải sống với thiên nhiên, phải bảo quản thiên nhiên. Không khí, nước dùng, sông ngòi biển cả, rừng núi không phải là vô tận, phải biết quản lý và quản lý một cách khoa học. 

Đề tài sông Mê kông và sự sống còn của đồng bằng sông Cửu Long, anh em Hội Khoa học & Kỹ thuật mà Mai Thanh Truyết là một thành viên nòng cốt đã thấy và đã báo động với cộng đồng Việt Nam Hải ngoại và thế giới từ những năm '90 của thế kỷ trước. Rồi Chất độc Da Cam, rồi nước thải, rồi những bãi rác, Bauxite... mỗi đề tài Mai Thanh Truyết nêu ra là những mũi tên bắn thẳng vào kẻ thù.

Tiếng nói của Mai Thanh Truyết là tiếng nói của một nhà khoa học.

Tiếng nói chánh trị của Mai Thanh Truyết là tiếng nói một nhà khoa học có trách nhiệm.

Trên bàn viết tại nhà Truyết, tôi thấy một tấm "phướng" ghi bài thơ của một Phật tử tên Phổ Kiên (hiện nay là một Đại Đức) gửi cho Truyết ngày 21/9/2003 nhân chuyến viếng thăm nhà máy xử lý nước, nơi Truyết làm việc ở West Covina. Bài thơ có nội dung như sau:

Bồ tát thanh lương thủy

Thường du bất cánh không

Chúng sanh thủy cấu tịnh

Bồ đề ảnh hiện trung

 

Bốn câu thơ trên cũng nói lên phần nào con người của Truyết mong hướng đến!

Tiến sĩ Mai Thanh Truyết không chống cộng vì cộng sản nó ngu nó dốt, nó khát máu, nó lưu manh, tóm lại nó không giống mình.

Tiến sĩ Mai Thanh Truyết chống cộng và chỉ trích, phê bình vào cái bê bối, cái vô trách nhiệm của những tay lãnh đạo Việt Nam, đang vì lòng tham tàn phá môi trường và đất nước chúng ta. Bù lại, TS Mai Thanh Truyết đề xướng ra những giải pháp hay phương cách nhằm giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường cũng như vấn nạn arsenic hay thạch tín trong nguồn nước ở Việt Nam.

Truyết chứng minh với dư luận cộng đồng Việt Nam trong và ngoài nước, với dư luận thế giới, rằng hành động phản quốc của nhà nước Cộng sản đương quyền của Việt Nam khi cho Tàu khai thác Bô xít ở Cao Nguyên Nam Trung phần Việt Nam là một hành động bán nước, vì về mặt kinh tế không có cái lợi gì cả mà chỉ phá nước hại dân, phá hoại môi trường vùng cao nguyên. Về mặt chánh trị làm chia rẽ đoàn kết dân tộc Việt, giữa các sắc tộc Thượng, Chàm và Việt (CSBV gọi là Kinh). Trung Cộng, khi trúng thầu (thực sự do Trung Cộng cầu kết với Cộng sản Việt Nam) khai thác Bauxite, khi trúng thầu xây nhà máy điện nguyên tử ở Ninh Thuận, Phan Rang là đang có âm mưu cắt vùng Đông Dương làm đôi bằng cách tổ chức lại bình nguyên Bolloven với chương trình Đặc khu Kinh tế Bolloven (gồm tỉnh Attopeu - Nam Lào, tỉnh Mondolkiri - Bắc Cao Miên và vùng cao nguyên Nam Trung phần), cùng tỉnh Bình Thuận - Phan Rang - Phan Rí, thành một vùng tự trị cho anh em dân tộc Thượng Chàm.

Hôm qua, Mai Thanh Truyết có mặt ở mọi mặt trận khoa học của Việt Nam, ngày hôm nay với những bài viết về sự hâm nóng trái đất Mai Thanh Truyết đang có mặt trong cuộc chiến của cả nhơn loại, đang lo cho cái sống còn của quả địa cầu và nhơn loại.

Mai Thanh Truyết lo cho địa cầu, lo cho tương lai nhơn loại. Mai Thanh Truyết vì có cái suy nghĩ của một nhà khoa học có trách nhiệm của những quốc gia đang phát triển, và cần phát triển, nên Mai Thanh Truyết không quá khích như những Đảng Xanh của thế giới các nước tiên tiến Âu Mỹ, đang có lý thuyết là đi ngược lại hay ngừng hẳn quá trình phát triển của các quốc gia. Các Đảng Xanh Âu Mỹ vì sống ở những xã hội sang giàu của thế giới tư bản, đang chống lại sử dụng nhiên liệu hầm mỏ cho rằng lạm dụng, phung phí và phá hoại môi trường, đòi dân chúng thế giới hãy bớt hay ngừng phát triển để khỏi tàn phá địa cầu. Nhưng các Đảng Xanh ấy quên các nước chậm tiến như Việt Nam của chúng ta cần phát triển, cần sử dụng cây rừng để có giấy, cần phân bón để canh tác, cần những hột giống đã được cũng cố hay thay đổi gène để chống sâu rầy (OGM-Organisme à gène modifié)... cần dầu mỏ nhiên liệu để có năng lượng cần cho phát triển...

Quả địa cầu ngày mai sẽ phải nuôi sống 9 tỷ dân, không biết tổ chức, bảo quản đàng hoàng sẽ có nạn đói, thiếu nước, thiếu đất canh tác sẽ là những vấn nạn nan giải.

Mai Thanh Truyết và tôi, hai anh em cùng một cái nhìn đấu tranh, chúng tôi chống cộng vì Cộng sản sau khi cướp chánh quyền bằng bạo lực, không biết quản trị đất nước, chống chủ nghĩa tư bản mà ngày nay chạy theo tư bản hỗn loạn, miệng nói xã hội chủ nghĩa mà hành động chống xã hội...

Chúng tôi đấu tranh cho dân chủ trở lại Việt Nam, cho người dân Việt Nam lấy lại quyền tự quyết, cho Việt Nam lấy lại Tự do...

Chúng tôi chống nhà nước đương quyền Cộng sản vì họ bất lực trước sự xâm lăng của Trung Cộng, vì họ ươn hèn không một tiếng phản đối khi lãnh thổ bị xâm lấn, khi người ngư phủ Việt Nam bị tàu lạ mang biển số Trung Cộng đụng chìm.

Chúng tôi đấu tranh chống Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền vì họ đang bán đất cho Trung Cộng, bán biển cho Tàu.

Sách là người, lời văn là tâm sự. Mai Thanh Truyết suốt những năm tháng qua cạnh tôi và các đồng chí chiến hữu thân hữu đại gia đình Đại Việt luôn luôn bằng ngòi bút, bằng những buổi nói chuyện trải lòng, trải giấc mơ của những anh em đồng chí chúng tôi. Tiến sĩ Mai Thanh Truyết, người bạn hiền, anh bồ tèo, với cái tên gọi rất hóa học, do các bạn Tây đồng môn gọi Truyết là "Méthane". Tôi dốt từ khoa học không biết Việt Nam ta gọi méthane là gì, nhưng méthane là khí tự nhiên của những cơ thể đang phân hủy tạo thành có thể biến thành khí đốt và năng lượng. MaiThanh – Méthane Truyết hiện quản lý một nhà máy lọc nước, nước dơ nước bẩn nước phế thải vào nhà máy, qua một quá trình biến thành nước trong, nước sạch và có thể thành nước uống.

Tái tạo, luợm nhặt, thay đổi sử dụng lại. "Không có gì tự sanh ra, không có gì tự hủy hoại, tất cả chỉ sự thay đổi - Rien ne se crée, rien ne se perd, tout se transforme" Truyết đang áp dụng câu nói bất hủ của ông đàn anh Truyết, nhà hóa học đại tài Pháp Antoine Lavoisier 1743-1794. Cũng như anh em đấu tranh chúng ta, những bài viết của Mai Thanh Truyết là những bài viết đấu tranh chánh trị chống độc tài cộng sản nhưng với những câu chuyện, những dẫn chứng, những biện minh khoa học.

Hãy đọc Mai Thanh Truyết để cùng đi với Mai Thanh Truyết trên một con đường đấu tranh cho sự tồn vong của dân tộc Việt Nam.

Hãy đọc Mai Thanh Truyết để cùng chúng tôi những đồng chí, những chiến hữu những thân hữu với Đại Việt, cùng đi trên con đường chủ thuyết Dân tộc Sanh tồn. Các chủ thuyết chánh trị hiện hành đều dựa trên những biện minh kinh tế và tổ chức xã hội. Dân tộc sanh tồn chúng tôi dựa trên con người.

Dân tộc sanh tồn là cái không gian sanh tồn của dân tộc Việt. Đảng trưởng Trương tử Anh, Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy đã dẫn dắt chúng tôi đi trên con đường ấy. Đảng trưởng dẫn những người cha chú chúng tôi đấu tranh chống Pháp dành Độc lập, cho dân Việt. Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy dẫn chúng tôi đi trên con đường dân chủ hiến định, tam quyền phân lập, đối lập thay quyền, tự do bầu cử, đa nguyên đa đảng.

Hãy đọc Mai Thanh Truyết để cùng chúng tôi đấu tranh cho Dân tộc Sanh tồn, đấu tranh cho cái không gian sanh tồn.

Mỗi dân tộc có một không gian sanh tồn, một môi trường sanh tồn không ai xâm lấn ai. Tôi trọng không gian sanh tồn anh, anh trọng không gian sanh tồn tôi.

Nam Quốc sơn hà Nam đế cư,

Tuyệt nhiên định phận tại thiên thư.

 

Hai câu muôn thuở của danh tướng Lý Thường Kiệt ngay từ đời Nhà Lý đã nói đến cái Không gian Sanh tồn của dân tộc Việt. Vua Nam ở nước Nam. Dân Việt ở đất Việt.

Hãy đọc Mai Thanh Truyết, để cùng chúng tôi tôi đòi lại cho dân Việt Nam cái quyền Dân tộc Sanh tồn của người dân Việt Nam, cho đất nước Việt Nam, quyền tự quyết của người dân Việt, cho đất nước Việt, cho không gian sanh tồn Việt. Không gian Sanh tồn dân tộc Việt do người Việt bảo quản người Việt quản lý.

Lúc xưa cha chú chúng ta chống Pháp để bảo vệ không gian sanh tồn, đòi quyền tự quản của không gian sanh tồn.

Hai mươi năm chống cộng cũng để bảo vệ cái không gian sanh tồn của người Việt Tự do, bảo vệ cái Quốc gia Việt Nam, cái không gian Sanh tồn dân tộc Việt. Khi miền Nam Việt Nam mất ngày 30 tháng 4 năm 1975, lúc ấy mọi người mới thấy rõ không gian sanh tồn người Việt không còn nữa, trốn chạy, tỵ nạn chỉ để tìm không gian sanh tồn mà thôi.

Hãy đọc sách Mai Thanh Truyết để cùng anh em chúng tôi chia sẻ con đường Dân tộc Sanh tồn để mãi mãi chúng ta có một không gian sanh tồn cho dân tộc Việt.

Cám ơn bạn Truyết đã gom lại thành sách những bài viết từ mấy năm nay, tâm sự tâm huyết của hai chúng mình, Truyết đã trải dài biến thành những dòng chữ.

Sách bạn sẽ là một đóng góp lớn cho công việc chung của tất cả các đồng chí và hai anh em chúng ta. Bạn sẽ tiếp tục cùng mình và các đồng chí lèo lái con thuyền Đại Việt. Đảng trưởng nhìn ta, anh Tư nhìn ta, anh Ba nhìn ta, anh Bảy, cậu Đệ, anh Ba Xướng... Truyết có nhớ ngày Truyết Tê Đơ, anh Ba Xướng dặn mình cái gì không? "Đường chông gai lắm, hai thằng nhớ nhẫn nại...  thua nhịn đã đành, thắng cũng phải biết nhịn".

Nhẫn nại nhé bạn!

Bạn viết bài là bạn mài gươm dưới trăng đó.

Hồi Nhơn Sơn July 4th, 2013.

Phan Văn Song





 


 ­­ 

 




Monday, November 8, 2021

 

COP26 cập nhựt ngày thứ bảy 6/11/2021

 

Chuyển qua với thời sự nổi bật khác, hội nghị quốc tế về khí hậu toàn cầu đang diễn ra tại Glasgow, nhật báo kinh tế Les Echos ghi nhận : “COP 26: tuần thứ hai căng thẳng.

COP 26 còn một tuần để đưa thương lượng về mặt kỹ thuật và chính trị đi sâu hơn, với hy vọng đưa ra những quyết định quan trọng cho mục tiêu bảo vệ bầu khí hậu chung của trái đất như : khuôn khổ các thị trường cacbon quốc tế, tức là cách thức, quy định hạn ngạch trao đổi giữa các nước hay các thị trường tư nhân về lượng phát thải khí cacbon gây hiệu ứng nhà kính. Hay vấn đề về hỗ trợ tài chính của những nước giàu cho các nước nghèo, dễ bị tác động của biến đổi khí hậu…. Kết quả thương lượng của tuần này mang tính quyết định cho thành công hay thất bại của hội nghị Glasgow. Nhưng đây lại là những vấn đề rất khó thương lượng, vì liên quan đến kinh tế và tài chính.

Les Echos ghi nhận, trong tuần đầu của COP26, đã có nhiều sáng kiến quan trọng được đưa ra. Đã có 80 nước chính thức ký cam kết từ nay đến 2030 giảm 30% phát thải khi methane, một loại khí phát thải chính gây hiệu ứng nhà kính, chủ yếu từ hoạt động nông nghiệp. Khoảng hai chục nước trong đó có Hoa Kỳ và Canada cam kết ngừng cung cấp tài chính đầu tư cho năng lượng hóa thạch trên quy mô quốc tế ngay từ năm 2022. Khoảng bốn chục nước trong đó có Ba Lan đã ký tuyên bố « chuyển từ than đá sang năng lượng sạch ». Một loạt nước khẳng định sẽ đạt trung hòa cacbon, như với Ấn Độ vào năm 2070, hay Việt Nam vào năm 2050.

Tuy nhiên tất cả những sáng kiến tích cực đó vẫn chỉ là hứa hẹn không hề có ràng buộc pháp lý, nhiều tổ chức phi chính phủ lấy làm tiếc.


Những lời hứa ở COP26 ngày 6/11/2021:

·       Bộ trưởng Nông nghiệp Mỹ cho biết nông nghiệp Mỹ đã sẵn sàng đối phó với biến đổi khí hậu

·       Liên hiệp quốc cho biết sắp hết than (trong lúc đó thống kê cho biết trữ lượng các mỏ than ở Mỹ còn đủ dùng cho…250 năm nữa!)

·       Bộ trưởng Năng lượng nói Hoa Kỳ cần 'tham gia cuộc chơi' về chuyển đổi năng lượng sạch

·       Hàng chục quốc gia hứa sẽ loại bỏ dần than đá

·       Các mục tiêu khí hậu mới được công bố cho các môn thể thao trên toàn thế giới

·       "Nước Mỹ đã xuất hiện", Biden nói về thời gian tại hội nghị thượng đỉnh

·       Biden, các nhà lãnh đạo thế giới thúc đẩy bảo tồn rừng toàn cầu

·       Jeff Bezos nói về cam kết khí hậu trị giá 10 tỷ đô la của mình

·       Mỹ đệ trình chiến lược dài hạn lên LHQ

 

 


 


 

Thưa Quý vị,

Xin chuyển bài viết của tác giả Vũ Thế Thành nói về vụ tịch thu và đốt sách “đồi trụy, phản động” ngay vừa sau ngày 30/4/1975. Có thể nói đây là một làm của một tập đoàn vô não, không khác chi thời Tần Thủy Hoàng bên Tàu.

 

***

 

VĂN CHƯƠNG VIỆT NAM CỘNG HÒA  

VŨ THẾ THÀNH

 

Cô bạn (trẻ) tặng tôi quyển sách của Erich Maria Remarque, bản dịch trước 75 mà em kiếm được ở tiệm sách cũ. Remarque là nhà văn người Đức mà có thời tôi “ngốn” hầu như không sót cuốn nào. Ông viết như thì thầm kể chuyện, chẳng lý luận, triết lý gì cao siêu cả, nhưng rất buồn, và rất người. Thời Hitler, Remarque phải sống lưu vong, tác phẩm bị cấm và bị đốt. Bây giờ, cầm sách của ông trên tay, tôi lại nhớ đến thời sau 1975, thời sách bị cấm và bị đốt ở Sài Gòn.

 

Sách bị tịch thu, chất đống lên xe ba gác chở đi thì tôi chứng kiến, còn có đem đốt hay không thì tôi không thấy.

 

Tôi cũng phải “cúng dường” vài chục cuốn sách (cũng còn giấu được một mớ), trong đó có hai quyển của Remarque: “Chiến hữu” và “Một thời để yêu, một thời để chết”. Có phải thừa tiền đâu mà mua sách làm kiểng. Toàn là tiền “bán cháo phổi” ngoài giờ, cân nhắc lắm mới dám mua một quyển, còn không thì thuê sách đọc. Đêm chia tay, cạn nguyên xị rượu đế. Sách “đồi trụy phản động”, nọc độc văn hóa đế quốc Mỹ mà như tình nhơn, quẳng xuống, rồi lại cầm lên mân mê, thì thầm, “Mai tao sẽ chất đống ngoài cửa để người ta mang tụi mày đi hóa thân thành tro. Duyên đến đây là hết, nhưng nợ còn. Tao sẽ nhớ tụi mày. Nợ thằng nào nhiều, tao nhớ thằng đó nhiều…”

 

Hơn 40 năm nay đâu có đọc lại Remarque, vậy mà dạo này thỉnh thoảng tôi vẫn nhớ, dù nhớ tên người này xọ tên người kia, dù nơi này biến thành nơi nọ, nhưng đại khái tình tiết chưa quên sạch. Vẫn nhớ. Nhớ và ngẫm.

 

Sách khoa học kỹ thuật được phép giữ lại, nhưng cũng có cách ra đi của nó. Một trường hợp tôi biết, ảm đạm hơn là tôi chia tay “đồi trụy phản động”. Một giáo sư tu nghiệp ở Mỹ về một ngành kỹ thuật. Ông được xem là hàng đầu trong lãnh vực đó ở miền Nam lúc đó, khi về nước đem theo một số sách chuyên môn, coi như gia sản nghề nghiệp. Vài năm sau 75, ông âm thầm bán sách trang trải cuộc sống. Thằng bạn tôi, một kỹ sư trẻ, gom hết tiền dành dụm, rụt rè tìm đến nhà vị giáo sư mua quyển sách ao ước và cũng nhân thể ra mắt, trò chuyện với thần tượng. Giáo sư đóng cửa phòng, không tiếp, chỉ cho vợ ra, đưa sách và báo giá. Tên hậu bối trả tiền, cầm sách thờ thẫn ra về. Giao dịch diễn ra lặng lẽ đến nặng lòng, cứ như thời Đông Châu liệt quốc. Đời cơm áo sinh tồn, sao mặn chát thế này!

 

Với dân kỹ thuật thì sách technology và handbook của Mỹ sánh ngang hàng… thê tử. Có những ngày tháng tôi đã cày cục copy bằng tay, vừa viết, vừa dịch nhẩm trong đầu một quyển handbook mượn được, nên hiểu được loại sách đó trân quý với dân trong nghề đến cỡ nào. Vật bất ly thân mà phải chia tay thì còn tê tái nào hơn. Đã đành, bán cái mình sở hữu để sinh tồn đâu có gì phải thẹn, nhưng bán sách, bán cái gia sản nghề nghiệp, thì chẳng khác gì bán cả ước mơ, hoài bão… Ông giáo sư biết thẹn. Tên hậu bối biết thẹn, biết thẫn thờ, biết chia sẻ cái thẹn với tiền bối. Trí thức là người biết thẹn. Tôi gọi cả hai là trí thức.

 

Nhưng không phải “trí thức” nào cũng biết thẹn. Đâu cần phải “diện bích” cả chục năm như ai đó mới ngộ ra một chủ nghĩa sai hay đúng, hiện thực hay mụ mị. Mẹ tôi, một người đàn bà mù chữ (nghĩa đen), thấy người ta đấu tố nhau trong cải cách ruộng đất, con tố cha, vợ tố chồng… bà hãi, hãi cho đến chết vẫn còn hãi. Với bà, nghèo chịu được, khổ chịu được, đói chịu được, nhưng đảo lộn luân thường đạo lý như thế thì không… Liệu cứu cánh có biện minh cho phương tiện được chăng? Mà cứu cánh gì? Là ấm no hay quyền lực? Ngay cả về mặt kinh tế, trong thời chiến tranh lạnh người ta cũng đã thấy cái “ưu việt” của làm chủ tập thể và hưởng theo nhu cầu rồi.

 

Hoài bão hay lựa chọn của con người, nhiều khi khởi đầu bằng cảm xúc hơn là lý trí. Lý trí đến sau đó để hợp lý hoá hậu quả của cảm xúc. Nhưng lý trí cũng giúp con người phản tỉnh để nhận ra mình đã làm đúng hay sai. Sai lầm là thuộc tính của con người. Trí thức là người biết sai, biết thẹn để sửa sai.

 

Nhưng nhiều người tuyên bố, nếu được làm lại từ đầu, họ vẫn lựa chọn như cũ. Thật đẹp và lãng mạn! Thế ra, phản tỉnh chỉ bộc phát khi hậu quả của cảm xúc bị thiệt thòi thôi sao? Chọn cái xấu, đập cho chết cái ít xấu hơn là đúng, là đẹp?

 

Nhưng chiến tranh, đau thương, mất mát, độc lập (thật sự), đói nghèo, số phận của một dân tộc đâu phải là chuyện lãng mạn.

 

Một bậc đàn anh đồng môn của tôi, trước 1975 phụ trách vài mục âm nhạc, văn hóa cho đài phát thanh, mà cũng là tay sừng sỏ trong giới xuất bản. Sau 1975, khốn đốn vô cùng, nhưng đoạn tuyệt hẳn với nghề viết lách, làm chân lon ton, chạy vặt cho một nhà xuất bản. Vài năm trước, gặp ông giám đốc mới có mắt nhìn người, cất nhắc cho làm biên tập sách. Ông huynh trưởng mắc bệnh “muội đèn” của Cao Bá Quát, thấy đoạn văn hay nhưng phạm húy, tiếc, không nỡ cắt. Ông anh không cắt, thì đời cắt ông anh. Ông lại tiếp tục làm chân lon ton. Thân già bốn mươi ký lô, tính luôn giày dép và quần áo, đã bền bỉ chọn một thái độ sống như thế. Người ta có thể không cho viết, nhưng không thể bắt mình viết theo ý người ta. Ngòi bút có máu, báo chí sách vở còn lưu giữ cả đấy, không chơi bài ba lá với lịch sử được đâu.

 

Cô bạn tặng tôi quyển sách của E. M. Remarque là dân… “gia công”, một từ lóng để chỉ con cái của những người tập kết ra Bắc hồi năm 54. Bọn trẻ sinh ra ở Bắc và trở về Nam sau 75. Tôi hỏi đùa,

 

“Thế em là dân Sài Gòn hay người Hà Nội?” – “Là dân Sài Gòn chứ! Hà Nội chỉ là nơi cha mẹ “gia côn” ra em thôi. Em lớn lên ở Sài Gòn, học Tiểu học ở Sài Gòn, bạn bè Sài Gòn…”

 

Tội nghiệp! Sài Gòn khi em lớn lên đã là thành phố buồn hiu, dè dặt và nhẫn nhục, một thành phố “trầm cảm” với dăm ba người mất trí nghêu ngao hát bên hè phố, hay những người một thời cầm bút, cầm phấn, bây giờ đạp xích lô, vá xe đầu đường, bơm mực bút bi…

 

Đầu thập niên 80, sách cũ loại tự điển hay kỹ thuật được bày bán công khai, nhưng sách “đồi trụy phản động” thì phải lén lút. Hồi đó làm nghiên cứu, tôi thường ra… chợ trời sách ở đường Đặng Thị Nhu. Chỉ một sạp duy nhất có quyển “Handbook of Chemical Engineers”, giá bốn chỉ vàng. Khi cần tra cứu là tôi đến đó giả vờ xem sách, ráng nhớ mấy con số, rời xa xa khỏi sạp là rút sổ tay ghi lại. Đến riết, chủ sạp quen mặt biết ý, chỉ tay, “Cầm lấy, đọc thoải mái!” Có một cảm thông kỳ lạ giữa người mua, kẻ bán và tên đọc sách “cọp”.

 

Phước đức bảy đời là những người buôn bán sách cũ. Họ chứng kiến những khoảnh khắc chia tay não lòng của người bán, và những thèm thuồng tri thức của người mua. Chợ sách (cũ) khác chợ đời. Chợ buồn bã, trầm mặc như số phận đời người… Những dấu son chữ ký còn trên sách hẳn đã làm kẻ bán đoạn lòng, người mua nao lòng. Đọc mà lúc nào cũng bồi hồi nghĩ đến chủ nhân trước của sách…

 

Cô bạn tôi, Sài Gòn có gì để em tự hào về gốc gác? Cha mẹ em là cán bộ trí thức, nên nhà nhiều sách “ngụy” (để tham khảo) hơn là máy móc tiện nghi… Em đọc lén. Khổ thân em! Những gì em đọc khác với những gì em học ở trường. Đó là chưa kể họ hàng em nội ngoại, bên thua, bên thắng (cuộc)… Trong lớp học, em phải viết ra những điều không phải em nghĩ. Nói và làm, đúng và sai, khẩu hiệu và thực tế cứ lộn tùng phèo trong đầu. Những thực tế tréo ngoe làm em có đôi chút phá rào, cảm nhận đúng sai. Em tự hỏi, nhưng ai trả lời?

 

Làm việc ở nước ngoài gần hai mươi năm, ngày trở về, em thấy một Sài Gòn hào nhoáng hiện đại nhìn đâu cũng thấy building, cầu vượt… nhô lên từ những bãi nhà tôn, ổ chuột. Có những người giàu nhanh quá, siêu nhanh giữa bầu không khí ô nhiễm (đen lẫn bóng). Hàng rong bị săn đuổi giữa những hàng xe hơi lộng lẫy. Em đứng tần ngần ở quán cà phê đường Huỳnh Tịnh Của, ngắm nghía căn nhà cũ kỹ gần sáu bảy chục năm. Đẹp quá! Chẳng còn là bao những căn nhà xưa như thế này, cũng không còn những con phố yên tĩnh. Mọi thứ ồn ào và tương phản đến lạ lẫm. Em thở dài, Sài Gòn bây giờ như bức tranh lập thể siêu thực. Sài Gòn không còn là Sài Gòn của em nữa. Sài Gòn muộn màng của em cũng không còn, thì Sài Gòn một thời của tôi ở đâu?

 

Có lần em buột miệng, “May mà cha em mất rồi, chứ nếu còn sống…” Em không phải là người duy nhất nói với tôi điều đó. Vài bạn bè tôi, cha mẹ họ thuộc hàng “công thần”, trong những lúc trà dư tửu hậu cũng nói thế. Độc lập là khát khao của cả dân tộc, chứ đâu phải của riêng ai. Độc lập bị tham vọng quyền lực đánh lận nên mới ra nông nỗi thế này. Người bạn (già) của tôi ở Hà Nội nói: “Các anh bị đau một, chúng tôi bị đau những hai lần.”

 

Tôi là độc giả thầm lặng của facebook “CLB cuộc chiến chống ung thư”, nơi những con người tuyệt vọng chia sẻ với nhau từng mẩu hy vọng. Trong đó có một status thế này: “Cha tôi đã không qua khỏi, còn một ít thuốc giảm đau, bạn nào cần, tôi xin tặng lại.” Đọc mà nhòe cả mắt…

 

Quyển sách cô bạn tặng, “Tình yêu bên bờ vực thẳm”, bản dịch của Huỳnh Phan Anh, chỉ lật vài trang đầu, tôi đã nhận ra một Remarque quen thuộc: …Hãy để tôi đi, nàng thì thầm. Ravic không nói gì, siết chặt tay nàng hơn nữa. Ravic có cảm tưởng nàng không trông thấy chàng, và xuyên qua chàng, dường như nàng đang nhìn vào cõi xa xăm nào đó, trong đêm tối trống vắng.

 

Con người trong tác phẩm của Remarque thường là những số phận bị săn đuổi, với những ước mơ, tính toán thật giản dị và tử tế. Tử tế với những người bạn tình cờ biết nhau một đêm, tử tế cả với chính kẻ thù của mình. Con người bị săn đuổi, nên lúc nào cũng vội vã, họ cảm nhận được giá trị của chia sẻ, của khoảng khắc tồn tại và yêu thương.

 

Một thời triết lý vụn đã qua, mọi thứ đã lụi tàn trong ngọn lửa “đồi trụy và phản động”. Hồi trước đốt sách, nhưng liêm sỉ còn kháng cự ít nhiều. Bây giờ liêm sỉ bị thiêu rụi bởi thực dụng, bởi đạo đức giả, bởi diêm dúa của đồng tiền và quyền lực. Con người bị cầm tù bởi “hiệu ứng” Stockholm mất rồi!

 

Trong “Một thời để yêu, một thời để chết”, tôi nhớ lõm bõm câu (đại ý): Không cần phải cứu vãn những giấc mơ, mà phải cứu vãn niềm tin. Niềm tin còn, thì giấc mơ tự nó sẽ phục hồi.

 

Bốn mươi sáu năm rồi đấy! Cuộc đời có khi tràn ngập những tuyệt vọng, nhưng đúng là niềm tin cần được cứu vãn. Tôi cần niềm tin. Đất nước này cần niềm tin. Niềm tin sự thật sẽ không bị vùi lấp. Niềm tin cái xấu sẽ bị đào thải: Nước nâng thuyền, nước cũng có thể lật thuyền.

 

  Vũ Thế Thành

Đà Lạt vào Thu 2021












Monday, November 1, 2021

 

SUY NIỆM VỀ SỰ CHẾT NHÂN THÁNG CÁC LINH HỒN

          Chúng ta sắp bước vào tháng 11 là tháng mà toàn thể Giáo hội dùng và nhắc cho chúng ta nhớ cầu nguyện cho Các đẳng Linh hồn. Thành thử thiết tưởng đây là dịp để chúng ta cùng nhau suy niệm về sự chết.

          Đạp dưới chân hai con người vừa sa ngã là tổ tiên của nhân loại, từ Địa đàng, Thần Chết đã vụt đứng lên một cách đắc thắng, cất tiếng thét vang, rúng động cả Thiên đình, và bắt đầu tung lưỡi hái của y, gieo khắp thế gian một mùa khủng khiếp.

          1- Thấy bóng Thần Chết, con cháu Evà đã có những thái độ nào?

          Thưa trước hết, có lắm người thầm nhủ: Cuộc đời qua nhanh, phải mau mau hưởng thụ. “Chơi xuân kẻo hết xuân đi. Cái già sồng sộc nó thì theo sau”. Họ tìm cách thỏa mãn tối đa ba bản năng của con người: bản năng quyền lực, bản năng truyền sinh và bản năng sinh tồn, có khi bằng cách bất chính đáng, vô đạo đức. Họ đắm chìm trong muôn lạc thú cõi trần, có khi một cách thô bỉ đê tiện: Vục mõm chúi đầu, cuồng yêu vội sống!

          Có những kẻ lại nhìn Thần Chết với vẻ triết lý, ra chiều anh dũng. Họ cho rằng ý nghĩa cuộc đời là trở nên điểm tựa cho bánh xe lịch sử tiến tới: ta chết đi nhưng nhân loài tồn tại! Là để tiếng muôn năm, lưu danh thiên cổ, bằng những việc kinh thiên động địa, như nhà bác học vô thần Stephen Hawking từng phát biểu: “Tôi không sợ chết, song tôi không vội chết. Tôi có quá nhiều thứ muốn làm”. Nhưng những kẻ tìm ý nghĩa sống-chết theo kiểu ấy phải chăng sẽ vẫn bình thản tâm hồn khi Tử thần đã lấp ló ngoài cửa? Hay là họ vẫn sẽ có thái độ dưới đây như tất cả mọi phàm nhân lúc cận kề cái chết?

          Thái độ đó là tâm hồn tê tái vì bao dứt bỏ đớn đau: dứt bỏ những ước vọng thiết tha, những lạc thú trần đời; từ giã những thân thuộc luyến thương, những công trình còn dang dở. Thái độ đó là tâm hồn hoảng sợ trước những lỗi lầm quá khứ, trước cảnh vô định tương lai. Lịch sử từng ghi nhận triết gia vô thần nổi tiếng Voltaire đã trải qua giờ chết cách khắc khoải, kinh hoàng và tuyệt vọng[1].

          Tất cả những tâm tình tiêu cực này đi liền với việc chấm dứt hơi thở, phân rã thể xác, làm nên hành vi nhân linh tối hậu của mỗi cá nhân mà người ta gọi là cái chết, hậu quả của tội lỗi. Đang khi đó thì con vật cũng đi tới chỗ tiêu vong thân thể nhưng chẳng hề có những tâm tình như vậy, nên các nhà thần học, chẳng hạn linh mục Karl Rahner, không gọi đó là chết mà chỉ gọi đó là ngã quỵ, lụi tàn, tiếng Pháp là succomber (xem Karl Rahner, Herbert Vorgrimler, Petit Dictionnaire de Théologie catholique. Tủ sách Livre de Vie, mục từ Mort).

          2- Đứng trước Sự Chết, loài người đã có những ý nghĩ nào?

          Trước hết, qua kinh nghiệm trước mắt, nhiều người cho đó là cùng đường, mạt vận; là sự kết thúc phi lý của cuộc đời (nhất là đối với những ai đang trên đường chiến thắng hiển hách, thành công rực rỡ, hưởng thụ tràn trề). Nhiều kẻ cho đó là phát súng hạ gục người đang tiến bước, là lưỡi kéo cắt dây sinh mạng đang kéo dài, theo như thần thoại Hy Lạp về ba nữ thần số mệnh: Họ có trong tay cuộn chỉ số mệnh của mỗi người, một bà quay cuộn chỉ, một bà quyết định độ dài sợi chỉ và một bà cắt chỉ.

          Người ta cũng hình dung Sự Chết như một hữu thể linh thiêng, gọi là Tử thần, xưa nay chỉ biết xây tù nhốt muôn thế hệ, tạo dựng một vương quốc vốn chỉ là bóng tối đêm đen, trong đó các vong hồn sống vất vưởng chập chờn, ôm mối sầu đến thiên thu bất tận, như từng là lối hình dung của Cựu Ước trước thời các sách Khôn ngoan, của đa phần tôn giáo hay của tín ngưỡng bình dân. Hoặc người ta hình dung trong đó, được gọi là cõi âm, chỉ có những cô hồn, những ma đói ngày đêm mong chờ thân thuộc ở cõi dương cúng quẩy thức ăn và đốt hàng mã các vật dụng, như lối suy nghĩ của những kẻ mê tín dị đoan hiện thời.

          Người ta cũng chỉ thấy bàn tay của Thần Chết luôn mải mê tiêu diệt. Y ngày đêm đưa muôn loài trở lại cõi hư vô, chôn tấm thân giá lạnh xuống đáy mồ, vùi kỷ niệm vào hố sâu quên lãng. Mà quả thật như vậy, vì nào ai thoát được móng vuốt của Thần Chết, vì nào ai chẳng thấy lưỡi hái của y soàn soạt khắp ruộng đời, gặt một mùa bội thu những tử thi, nhất là trong những cuộc đại chiến thế giới hay đại dịch toàn cầu. Bản thân Tử Thần vì thế luôn đắc chí, tưởng mình chiến thắng mãi, cho đến một hôm…

          3- Nhìn về Sự Chết, Kitô hữu đã có những quan niệm nào?

          Cho đến một hôm Tử thần đã bất ngờ gục ngã! Nơi ngực y, một gươm thần đã đâm thâu. Gươm thần Thập giá! Trên mình y, một chiến thắng thần đã đạp mạnh. Chiến thắng thần mang tên Giêsu Kitô, khi Người sống lại sáng ngày Phục sinh, ra khỏi huyệt mộ cho Tử thần vào thế chỗ. Khi bước vào chỗ chôn vùi mình, y còn nghe sau lưng tràng cười khanh khách và giọng nói chế diễu: “Hỡi tử thần, đâu là chiến thắng của ngươi? Hỡi tử thần, đâu là nọc độc của ngươi?” (1Cr 15,55).

          Và kể từ giây phút đó, Chúa Kitô biến chốn ngục tù gớm ghiếc mà Tử thần đã xây từ muôn vạn thuở thành phòng ngủ, phòng đợi. Xin nhớ lại, chữ “nghĩa trang” tiếng Việt dịch từ chữ “cimetière” tiếng Pháp. Chữ “cimetière” lại dịch từ chữ “coemeterium” tiếng Latinh. Chữ “coemeterium” lại dịch từ chữ “koimeterion” tiếng Hy Lạp, vốn có nghĩa là phòng ngủ, phòng đợi. Ngủ thì có lúc người ta thức dậy, đợi thì có lúc sự việc xảy ra.

Đấng Phục Sinh đã biến ngục tối của Tử thần thành phòng đợi khang trang cho những ai tin Người, nơi đó họ chờ sống lại cả xác hồn trọn vẹn, để vui hưởng hạnh phúc đến muôn đời. Còn nấm mộ, đồng minh thân thiết của Tử thần, thì nhờ Chúa Kitô mà trở thành vườn ươm hạt giống phục sinh, sẽ nở thành cây trong ngày xuất hiện Trời mới Đất mới. Như hình ảnh con sâu nằm trong cái kén, chờ đến lúc chui ra hóa thành con bướm xinh đẹp bay trong bầu trời rực rỡ. Một hình ảnh Chúa dùng để giúp hiểu rõ sự sống lại mà những kẻ để ý không nhiều. Người ta đọc thấy trên bia mộ của thi sĩ Công giáo thời danh Paul Claudel người Pháp (1868-1955) có ghi hàng chữ: “Nơi đây lưu giữ di hài và mầm sống của Paul Claudel”.

          Cái chết, mà nhân loại tưởng là bức tường sắt mà cuối đường cuộc sống ai nấy phải đụng vào, đầu vỡ toang, thân nát bét, thì nay trở thành ngưỡng cửa dẫn vào chốn vĩnh cửu thiên thu, nơi thế giới của Thiên Chúa chí từ, để con người bắt đầu một cuộc đời bất diệt. Như lời nhạc sĩ tài hoa Amadeus Mozart từng nói: “Tôi cảm ơn Chúa đã độ lượng ban cho mình cơ hội để hiểu rằng cái chết là chìa khóa mở cánh cửa dẫn tới chân hạnh phúc”. Chúa Giêsu đã từng nói Người là cửa. Ai qua Người, tức là chết trong niềm tin vào Người, thì được sống lại và đạt tới sự sống, sự sống đích thực.

          Là đột ngột chấm dứt, khiến có kẻ phải thốt lên: phi lý không cùng, rồi nguyền rủa “Con Tạo đa đoan”, Ông Trời không có mắt, thì cái chết nay trở nên sự kết thúc, hoàn thành của mọi công trình tốt đẹp mà chúng ta đã nỗ lực thực hiện chốn trần gian, để ung dung đi vào nơi ân thưởng, hưởng niềm vui của Chủ mình, như dụ ngôn các Nén bạc mà chúng ta vừa nghe hôm Chúa nhật 33 Thường niên năm A (Mt 25,14-30)

          Nhờ sự phục sinh của Chúa Kitô, cái chết không còn là sự chôn vùi vĩnh viễn muôn giá trị tinh thần ta từng thủ đắc, nhưng là lúc kiện toàn viên mãn, bước thăng hoa triển nở đến vô cùng của tài năng, của tình yêu. của đức hạnh, Lúc đó chúng ta không còn than vãn theo nhạc sĩ Thành Tâm trong bài hát “Làm sao dám mơ”: “Làm sao dám mơ rằng có, một tình yêu sẽ không phai nhòa. Một mùa xuân không tàn úa, một hạnh phúc muôn năm vững bền”.

Thưa rằng trong vĩnh cửu, tức trong thế giới của Thiên Chúa, chỉ có Tình yêu trọn vẹn, Mùa xuân bất tận, Hạnh phúc toàn mãn mà thần học gọi là Toàn phúc (Béatitude). Đó là chưa kể thể xác phục sinh của chúng ta sẽ lành lặn và trở nên mỹ miều. Nhiều người trải qua “Kinh nghiệm cận tử” đã nhìn thấy thân thuộc quá vãng và tàn tật của mình lại trở nên đầy đủ tứ chi và xinh đẹp như những thiên thần.

          Trước niềm tin đầy lạc quan phấn khởi và có cơ sở vững vàng của chúng ta như vậy, Thần Chết sẽ xuất hiện thế nào? Chắc chắn không phải trong dạng một bộ xương người mặc áo choàng đen phủ từ trên xuống dưới, chỉ lộ cái đầu lâu trắng hếu, tay cầm lưỡi hái sáng loáng và sắc ngọt. Không, Thần Chết sẽ xuất hiện dưới hình hài Gioan con Giacaria, nghĩa là dưới dạng vị Tiền hô loan báo Chúa đến. Nên chúng ta sẽ thanh thản đón chờ. Vì sau lưng Thần Chết sẽ là thánh Phêrô tay cầm chìa khóa mở cửa Thiên Đàng, và sau lưng Thánh Phêrô là Thiên Chúa cứu độ của chúng ta, Đấng là Chân Thiện Mỹ tuyệt đối, Ánh Sáng tuyệt vời và Hạnh phúc tuyệt diệu.

          Trên đây là những suy tư suy niệm của chúng ta về cái chết, sự chết, thần chết. Nhưng hy vọng đó là những gì mà các Đẳng linh hồn đang cảm nghiệm thực sự. Nếu e rằng họ chưa cảm nghiệm được vì còn phải thanh luyện, thì chúng ta hãy tiếp tục cầu nguyện cho họ.

          Linh mục Phêrô Phan Văn Lợi,

          Tổng Giáo phận Huế.

Ghi chú: Ở Pháp ngày 1/11 là ngày Lễ Các Thánh – Toussaint (tous les Saints)




 

 

Thưa Quý vị,

Để trả lời một câu hỏi trong đề thi tú tài Pháp năm 2015 tại Pháp:” Chính trị có được thoát ra khỏi sự bắt buộc của sự thật?”

Năm 2015, sau ngày thi triết, báo Le Figaro đã làm một việc thật hay: họ đem đề triết của ban khoa học “Chính trị có được thoát ra khỏi sự bắt buộc của sự thật?” đề nghị các nhà chính trị Pháp, gồm một số bộ trưởng và nghị sĩ thi lại thử coi. Nhiều người đã hăng hái hưởng ứng. Và họ gây nên một cuộc thảo luận sôi nổi, thậm chí căng thẳng.

·       Aurélie Filipetti, cựu Bộ trưởng Bộ Văn hóa (đảng Xã hội), nói: “Tôi thấy đây là một đề hay. Là thời sự vĩnh cửu của chính trị. Đây là mối quan hệ giữa hành động và đạo đức. Đề tài đầy tính thời sự”.

·       Jean Pierre Chevènement, nguyên Bộ trưởng, nghị sĩ, từng là ứng viên tổng thống, trịnh trọng: “Không, chính trị không được thoát khỏi sự bắt buộc của sự thật. Hãy nhớ lại cuốn sách của Pierre Mendès France, Sự thật dẫn đường cho những bước đi lớn của họ. Đấy là lịch sử của những nhà cộng hòa lớn đã làm nên nước Pháp hiện đại. Họ dựa trên một nền giáo dục tập thể chân chính và nhận được một sự ủng hộ vững chắc của nhân dân.

·       Sự thật, đấy là chọn lựa tốt, và không phải ai cũng ngang tầm được với nó”. Nhà báo Philippe de Villiers chặt chẽ: “Nếu chính trị thoát khỏi sự bắt buộc của sự thật, thì nó sẽ chết vì điều đó, và đấy đúng là trường hợp hiện nay. Chính trị, chính trị thật sự, phải được thiết lập trên sự tôn trọng đặc quyền đối với lợi ích chung.

·       Trong các thời kỳ suy thoái, mọi thứ đều trở thành nói dối. Hãy nhớ hô ngữ nổi tiếng của nhà văn Nga Soljénitsyne: “Thôi, đừng nói dối nữa!”. “...Cũng có người hơi nước đôi.

·       Trên Twitter, Fançois Fillon (người vừa dẫn đầu vòng 1 trong cuộc bầu cử ứng viên tổng thống của phái trung hữu chuẩn bị cho cuộc bầu cử lớn năm 2017) dè dặt: “...Tuy nhiên họ (các nhà chính trị) biết rõ về điều này: giữa sự thật và chính trị, các quan hệ thường rất căng thẳng...”.

·       Benoît Hamon, cựu Bộ trưởng Bộ Giáo dục (thuộc đảng Xã hội cánh tả), tránh trớ, ông chỉ tỏ ý đối lập những người coi hành động chính trị phải “hướng đến cái lý tưởng, và do vậy dấn mình vào một cuộc tìm kiếm sự thật” và những người “nhân danh chủ nghĩa thực dụng, căn cứ vào thực tế” để bằng lòng (với một kiểu hành động) “thích hợp”. Tuy nhiên, cũng có người ít thận trọng hơn.

·       Eric Woerth (đảng “Những người Cộng hòa”) cho rằng sự minh bạch (transparence) là không thể tuyệt đối: “Không phải mọi sự đều phải nói ra hết”.

·       Duy bà Rama Yade, thuộc Liên minh Dân chủ và Độc lập, thì một mực dứt khoát: “Vâng, chính trị vượt ra ngoài sự bắt buộc của sự thật. Thậm chí tôi sẽ nói rằng nó từ chối điều đó (sự thật). Vả chăng đấy là điều tác động đến tôi nhiều nhất qua kinh nghiệm của tôi. Tôi công nhận và lấy làm tiếc về điều đó, ba lần than ôi!”. Bà còn hăng hái bộc lộ với phóng viên Le Figaro dàn ý bài bà sẽ làm nếu bà đi thi hôm nay. Trong phần thứ nhất bà sẽ đặc biệt nêu lên rằng: “Chính trị giải quyết một đòi hỏi cao hơn đòi hỏi của sự thật; chẳng hạn ý tưởng về sự cân bằng xã hội”. Sau đó bà sẽ triển khai ý tưởng rằng: “Điều quan trọng không phải sự thật nói cho đến cùng, mà là sự thật của nó (của xã hội)”. Cuối cùng, trong phần thứ ba, bà sẽ bàn về những hệ quả của thực trạng ấy... Người chấm sẽ không coi nói thế này mới đúng, ngược lại là sai, mà chú trọng xem thí sinh biện luận như thế nào cho chủ kiến của mình. Tức cô hay cậu ta tư duy ra sao. Học phổ thông mười hai năm là để có cái tư duy đó. Độc lập, sáng suốt, sâu sắc.

(Trích từ một bài viết trên FB nhưng sau khi Copy/Paste, tìm lại không thấy nữa. Sorry tác giả)  







 

 


 

Danh sách 21 trường Đại học không được Mỹ công nhận: (Đại Học MA)

Trên trang web cá nhân mới đây (đầu tháng 7), TS Mark A.Ashwill đã nêu đích danh 21 trường Đại Học hiện có mặt tại VN không được công nhận bởi các cơ quan kiểm định giáo dục có thẩm quyền từ Hoa Kỳ:

 1. ĐH quốc tế Adam (Adam International University) thuộc Tiểu bang Georgia.

 2. ĐH Akamai (Akamai University) thuộc Tiểu bang Hawaii.

 3. ĐH American City (American City University) thuộc Tiểu bang California.

 4. ĐH Di sản Mỹ (American Heritage University) nằm ở phía Nam California.

 5. ĐH American Pacific (American Pacific University). Đây là ĐH được đặt tại TP  Sài Gòn.

6. ĐH quốc tế American Pacific (American Pacific University – International) thuộc Tiểu bang New Mexico/ California.

 7. ĐH Apollo (Apollo University) Tiểu bang California.

 8. ĐH quốc tế Đại Tây Dương (Alantic International University) thuộc Tiểu bang Hawaii.

 9. ĐH Capstone (Capstone University) Tiểu bang California.

10. ĐH Cosmopolitan (Cosmopolitan University).

11. ĐH Frederick Taylor (Frederick Taylor University) thuộc Tiểu  bang California.

12. ĐH Honolulu (Honolulu University) thuộc Tiểu bang Hawaii.

13. ĐH Irvine (Irvine University) thuộc Tiểu bang California.

14. ĐH Quốc tế Mỹ (International American University) thuộc Tiểu bang California.

15. ĐH Kỹ thuật Paramount (Paramount University of Technology) thuộc Tiểu bang California.

16. ĐH Pebble Hills (Pebble Hills University) thuộc Tiểu bang Pennsylvania.

17. ĐH Preston (Preston University) thuộc Tiểu bang California.

18. ĐH Tây Nam Mỹ (Southwest American University) thuộc Tiểu bang California.

19. ĐH Nam Thái Bình Dương (Southern Pacific University) thuộc Tiểu bang Delaware.

20. ĐH quốc tế Washington (Washington International University) thuộc Tiểu bang Pennsylvania.

 

21. ĐH quốc tế Berkeley (Berkeley International University), thuộc Tiểu bang Delaware.

(Tin chuyển qua Email )

Xin liên lạc với Tòa Đại sứ Hoa Kỳ ở Việt Nam để tố cáo những người mang bằng cấp từ các đại học trên.

Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ xử tội rất nghiêm những cáo buộc về hành vi giả mạo hoặc sai phạm trong việc thị thực bằng cấp. Các thông tin Quý vị cung cấp cho chúng tôi sẽ được bảo mật và sẽ chỉ được viên chức Lãnh sự và các nhân viên của Chính phủ Hoa Kỳ đang làm việc về trường hợp xin thị thực cụ thể đó biết. Chúng tôi cần Quý vị báo cáo một cách trung thực và ngắn gọn nhưng đầy đủ thông tin hết mức có thể.

Nếu Quý vị có thông tin cụ thể về một trường hợp giả mạo hoặc sai phạm, xin vui lòng gửi email cho chúng tôi tại địa chỉ:

 

Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Hà Nội: HanoiFPU@state.gov

Lãnh sự quán Hoa Kỳ tại Thành phố Hồ Chí Minh: HCMCFPU@state.gov