Từ Iran đến Việt Nam: Trừng phạt
Hội nhập - Con đường phát triển – Phần II
Trong những năm gần đây, cuốn sách “Iran dưới các lệnh trừng phạt: Một xã hội chịu nhiều áp lực - L’Iran sous sanctions: Une société sous pression” của nhà nghiên cứu chiến lược người Pháp Joris Cuynet đã thu hút sự chú ý của nhiều học giả quan tâm đến quan hệ quốc tế và chính sách phát triển. Cuốn sách phân tích tác động của hơn bốn thập niên trừng phạt kinh tế đối với Iran của Tây phương. Từ đó, một thực tế đáng suy nghĩ cho chúng ta là sự trừng phạt có thể làm suy yếu nền kinh tế, nhưng không nhất thiết làm thay đổi thể chế chính trị. Quan trọng hơn, người chịu hậu quả nặng nề nhất thường là xã hội dân sự và đời sống của người dân bình thường.
Hay ngược lại, sự giao
thương, công cuộc trao đổi văn hóa, và việc hội nhập kinh tế mới là con đường dẫn
đến sự thay đổi lâu dài?
1-
Iran
dưới áp lực trừng phạt
Sau cuộc Cách mạng Iran -
Iranian Revolution, Iran trở
thành một trong những quốc gia bị trừng phạt nhiều nhất trên thế giới. Hoa Kỳ
và sau đó là nhiều quốc gia Tây phương
áp đặt hàng loạt biện pháp kinh tế nhằm gây áp lực lên chính quyền
Tehran, đặc biệt liên quan đến chương trình hạt nhân và vai trò của Iran tại
Trung Đông.
Các biện pháp này bao gồm hạn
chế xuất cảng dầu, phong tỏa tài sản tài chính, cấm vận thương mại và cô lập hệ
thống ngân hàng. Kết quả là nền kinh tế Iran chịu nhiều biến động: lạm phát
cao, đồng tiền mất giá, đầu tư nước ngoài giảm mạnh và đời sống người dân gặp
nhiều khó khăn.
Tuy nhiên, điều đáng chú ý là
hệ thống chính trị của Iran vẫn tồn tại và thích nghi. Nhà nước Iran phát triển
một mô hình kinh tế tương đối tự lực, thúc đẩy sản xuất nội địa và xây dựng các
mạng lưới thương mại thay thế. Một số ngành như công nghiệp quốc phòng và khoa
học hạt nhân thậm chí còn đạt được những tiến bộ đáng kể.
Từ góc
nhìn của tác giả Cuynet, sự trừng phạt đã tạo ra một xã hội “dưới áp lực”,
nhưng không làm thay đổi căn bản cấu trúc quyền lực của nhà nước. Đây chính là nghịch lý của chính sách trừng phạt vì chính sách nầy có
thể gây thiệt hại kinh tế, nhưng hiệu quả chính trị của nó lại rất hạn chế.
Lịch sử của nhiều quốc gia cho
thấy, khi một quốc gia mở cửa ra thế giới, xã hội sẽ thường thay đổi nhanh hơn.
2-
Việt
Nam sau 1975 - Một giai đoạn bị cô lập
Lịch sử Việt Nam sau năm 1975
cho thấy một hoàn cảnh có phần nào tương tự. Sau khi chiến tranh kết thúc, Việt
Nam bước vào giai đoạn tái thiết trong điều kiện kinh tế kiệt quệ và bị cô lập
với nhiều nền kinh tế Tây phương. Hoa Kỳ áp đặt cấm vận, hệ thống tài chính quốc
tế đóng cửa, và đất nước phải dựa chánh yếu vào các mối liên quan với khối xã hội
chủ nghĩa.
Hai kế hoạch ngũ niên vào giữa
thập niên 1980 là thời kỳ đầy khó khăn cho Việt Nam với một nền kinh tế kế hoạch
hóa què quặt vì áp dụng triệt để chuyên chính vô sản, kinh tế tập trung bộc lộ
nhiều hạn chế. Từ đó phát sinh ra tệ trạng sản xuất thấp, thiếu lương thực, lạm
phát cao và đời sống người dân gặp nhiều thiếu thốn. Trong hoàn cảnh đó, xã hội
Việt Nam cũng trải qua một trạng thái “chịu áp lực” tương tự như mô tả của
Cuynet về Iran.
Đọc cuốn sách về Iran, người
Việt Nam dễ dàng nhận ra một sự tương đồng lịch sử. Sau năm 1975, Việt Nam cũng
trải qua một giai đoạn bị cô lập và cấm vận quốc tế kéo dài gần 20 năm.
Đặc biệt từ từ giai đoạn 1975
– 1994, trong thời kỳ này, Hoa Kỳ áp đặt cấm vận kinh tế và Việt Nam bị cách ly
trong hệ thống tài chính quốc tế thương mại với phương Tây, và gần như không
còn tồn tại.
Hậu quả là trong những năm
1980, thể hiện một giai đoạn cực kỳ khó khăn cho Việt Nam qua việc thiếu lương
thực, lạm phát cao, hệ thống tem phiếu với một nền kinh tế bao cấp què quặc.
Trong nhiều khía cạnh, xã hội
Việt Nam trong giai đoạn nầy cũng giống như Iran, một xã hội sống dưới áp lực
của sự cô lập quốc tế.
Và cũng giống Iran, các biện
pháp cô lập quốc tế không làm thay đổi chế độ chính trị.
Ngược lại, trong nhiều giai đoạn
nó còn làm tăng tinh thần chống ngoại bang và các thế lực quốc tế, và quan trọng
nhứt là củng cố tính chính danh của nhà nước.
Điều này cho thấy một thực tế
là các lệnh trừng phạt hiếm khi tạo ra thay đổi chính trị nhanh chóng.
Tuy nhiên, Việt Nam, ngay sau
khi TT Clinton mở cánh cửa bang giao với Việt Nam năm 1995, ngay sau đó, Việt
Nam đã đưa ra một quyết định mang tính bước ngoặt là cải cách kinh tế và mở cửa
ra thế giới từ đầu năm 1986 qua chính sách “Đổi mới” một lần nữa qua chính sách
Phát triển kinh tế
xã hội chủ nghĩa (XHCN) theo định hướng kinh tế thị trường (KTTT). Chính mô hình này vận dụng
cơ chế thị trường để phân bổ nguồn lực, cạnh tranh, nhưng đặt dưới sự quản lý của
Nhà nước pháp quyền XHCN, hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, công bằng và
văn minh.
Chính sách Đổi Mới “lần
2” đánh dấu sự chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa sang một mô hình kinh tế
thị trường mang định hướng xã hội. Những cải cách này bao gồm trao quyền sản xuất
cho nông dân, khuyến khích kinh tế tư nhân, thu hút đầu tư nước ngoài và từng
bước hội nhập với hệ thống kinh tế toàn cầu.
Những thay đổi nầy đã tạo ra một
chuyển biến sâu sắc. Từ một nền kinh tế thiếu lương thực, Việt Nam trở thành một
trong những nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới. Tốc độ tăng trưởng kinh tế
trong nhiều thập niên đạt mức cao, hàng chục triệu người thoát khỏi nghèo đói
và mức sống của xã hội được cải thiện đáng kể.
Quan trọng hơn, Việt Nam dần dần
phá vỡ tình trạng cô lập quốc tế. Các mối liên lạc ngoại giao được mở rộng,
thương mại phát triển nhanh và đất nước trở thành một thành viên tích cực của
nhiều tổ chức kinh tế toàn cầu.
3-
Bài học
từ hai con đường
So sánh Iran và Việt Nam cho chúng
ta thấy một điểm chung của cả hai quốc gia Iran và Việt Nam đều phải đối diện với
áp lực bên ngoài và những khó khăn nội tại. Tuy nhiên, con đường mà mỗi nước lựa
chọn đã tạo ra những kết quả khác nhau.
Một, Iran nhấn mạnh vào sự tự lực và
kháng cự trước áp lực quốc tế. Mô hình này giúp duy trì chủ quyền và khả năng tự
chủ trong một số lĩnh vực, nhưng cũng khiến nền kinh tế chịu nhiều hạn chế.
Hai, Việt Nam, ngược lại, chọn con đường
hội nhập và cải cách bằng cách mở cửa nền kinh tế và tham gia vào hệ thống
thương mại toàn cầu. Từ đó, đất nước đã tạo ra những cơ hội phát triển mới.
Bài học quan trọng ở đây không
phải là quốc gia nào “đúng” hay “sai”, mà là nhận thức rằng trong thời đại toàn
cầu hóa, sự kết nối với thế giới thường mang lại nhiều cơ hội phát triển hơn là
sự “tự/bị” cô lập.
4-
Những
thách thức mới của Việt Nam
Dù đạt được nhiều thành tựu,
Việt Nam vẫn đứng trước những thách thức lớn trong giai đoạn phát triển từ sau
khi mở cửa năm 1986 như:
·
Bẫy thu nhập trung bình: Khi
lợi thế lao động giá rẻ dần mất đi, nền kinh tế cần chuyển sang dựa nhiều hơn
vào công nghệ và sáng tạo.
·
Cạnh tranh địa chính trị: Việt
Nam nằm giữa các cường quốc lớn như Hoa Kỳ và Trung Cộng, đòi hỏi
chiến lược ngoại giao và kinh tế cân bằng.
·
Khủng hoảng môi trường và tài nguyên: Tình
trạng ô nhiễm, sự biến đổi khí hậu và sự suy thoái nguồn nước là thách thức lớn
đối với Việt Nam. Các sự kiện trên theo thời gian, đã là chậm lại mức phát triển
quốc gia nhưng không cân bằng với việc bảo vệ môi trường.
· Quản trị và thể chế:
Có cải cách hành chính và tăng hiệu quả
quản trị là điều kiện quan trọng để thu hút đầu tư và phát huy sáng tạo xã hội.
Nhưng việc cải cách diễn ra chậm do sức trì của những cán bộ bảo thủ và giáo điều
khiến cho công cuộc phát triển quốc gia vướng nhiều trở ngại, khó bắt kịp đà tiến
triển của thế giới. Từ đó, khiến cho “mức tuổi lao động” ngày càng “già” đi trước
khi Việt Nam…bước vào bẩy thu nhập trung bình.
Nhưng,
dù sao đi nữa, qua thời gian, Việt Nam lần lần có những hướng đi dù chậm chạp,
và cũng đã vướng phải không ít thất bại trong kế hoạch phát triển, nhưng rồi
cũng tăng tốc phát triển hàng năm từ 6 – 10% trong thập niên 2010.
5-
Kết luận
Cuốn sách L’Iran sous
sanctions: Une société sous pression không chỉ là một nghiên cứu về
Iran, mà là một lời nhắc nhở về một thực tế trong chính trị quốc tế:” Việc trừng phạt kinh tế là một vũ khí mạnh, nhưng
không phải lúc nào cũng nhắm đúng mục tiêu.”
Đôi
khi nó làm tổn thương xã hội nhiều hơn là làm thay đổi quyền lực.
Và khi nhìn lại lịch sử Việt
Nam sau 1975, ta thấy một điều rõ ràng, con đường giúp một quốc gia thay đổi và
phát triển bền vững không phải là cô lập, mà là hội nhập với thế giới.
Lịch sử cho thấy một chân lý bất di bất dịch là quyết định vận
mệnh và tương lai một quốc gia không chỉ nằm ở hoàn cảnh quốc tế, mà ở khả năng
thích nghi, cải cách và phát huy năng lực toàn xã hội của chính quốc gia đó.
Iran dưới áp lực trừng phạt và
Việt Nam sau 1975 chứng minh rằng áp lực bên ngoài chỉ là một phép thử, mà
chính quyết định đúng đắn của quốc gia mới định hình được tương lai. Việt Nam
đang đứng trước thời kỳ lịch sử mới, khi công nghệ, trí tuệ nhân tạo, và chuyển
đổi xanh tạo ra cơ hội chưa từng có.
Nhìn lại câu chuyện của Iran
qua cuốn L’Iran sous sanctions: Une société sous pression của Joris
Cuynet, và so sánh với kinh nghiệm lịch sử của Việt Nam sau năm 1975, ta thấy
rõ một quy luật của lịch sử phát triển là số phận của một quốc gia không chỉ do hoàn cảnh quốc tế quyết định, mà chánh
yếu là do khả năng thích nghi và cải cách của chính quốc gia đó.
Những thập niên sắp tới sẽ là
một giai đoạn quyết định đối với Việt Nam. Chúng ta có thể hình dung ba kịch bản
tương lai Việt Nam
·
Kịch bản thứ nhất là kịch bản tăng trưởng
bền vững. Nếu Việt Nam tiếp tục cải cách thể chế, nâng cao chất lượng giáo
dục, thúc đẩy khoa học công nghệ và bảo vệ môi trường, đất nước có khả năng
vươn lên và thoát khỏi ngưỡng cửa “thu
nhập trung bình” vào giữa thế kỷ XXI. Trong trường hợp này, Việt Nam có thể trở
thành một trung tâm sản xuất công nghệ, dịch vụ và đổi mới sáng tạo của khu vực
Đông Nam Á.
·
Kịch bản thứ hai là kịch bản tăng trưởng
chậm lại. Nếu cải cách thể chế và đổi mới khoa học, công nghệ diễn ra chậm,
Việt Nam có thể rơi vào tình trạng “bẫy thu nhập trung bình”. Nền kinh tế vẫn
tăng trưởng nhưng ở tốc độ thấp hơn, trong khi các quốc gia khác trong khu vực
tiến nhanh hơn.
·
Kịch bản thứ ba là kịch bản bất ổn phát
triển. Nếu các vấn đề môi trường, bất bình đẳng xã hội và cạnh tranh địa
chính trị không được quản lý tốt, những yếu tố này có thể tạo ra những thách thức
lớn đối với sự ổn định và phát triển lâu dài của đất nước.
Tuy nhiên, lịch sử Việt Nam đã
nhiều lần chứng minh rằng dân tộc này có khả năng thích nghi mạnh mẽ trước những
biến động của thời đại. Từ một đất nước bị tàn phá bởi chiến tranh, Việt Nam đã
từng bước vươn lên thông qua những quyết định cải cách quan trọng như chính
sách Đổi Mới.
Trong bối cảnh thế giới đang
bước vào một thời đại mới của công nghệ, trí tuệ nhân tạo và chuyển đổi xanh,
cơ hội của Việt Nam vẫn còn rất lớn. Với một dân số trẻ, tinh thần học hỏi mạnh
mẽ và vị trí địa chiến lược quan trọng trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương,
Việt Nam có những điều kiện thuận lợi để tiếp tục phát triển.
Nhưng để biến tiềm năng thành
hiện thực, đất nước cần tiếp tục đi theo con đường đã chứng minh hiệu quả: mở
cửa, cải cách, phát huy trí tuệ của toàn xã hội và đặt lợi ích lâu dài của quốc
gia lên trên mọi lợi ích cục bộ.
Nếu làm được điều đó, tương
lai của Việt Nam trong vài thập niên tới có thể không chỉ là một quốc gia phát
triển về kinh tế, mà còn là một xã hội bền vững, sáng tạo và có đóng góp tích cực
cho hòa bình và tiến bộ của khu vực cũng như của thế giới.
Nếu biết kết hợp khả
năng sáng tạo của con người với tầm nhìn chiến lược quốc gia, Việt Nam có
thể trở thành một quốc gia phát triển mạnh mẽ, sáng tạo và bền vững. Những quyết
định hôm nay chính là nền móng cho những tiên liệu cho tương lai, một
tương lai mà Việt Nam không chỉ phát triển kinh tế mà còn trở thành hình mẫu về
trí tuệ, sáng tạo và ổn định trong khu vực Đông Nam Á.
Tóm lại, cuốn sách L’Iran
sous sanctions: Une société sous pression còn nhắc nhở thế giới rằng: “cô
lập và trừng phạt có thể tạo áp lực, nhưng không phải lúc nào cũng tạo ra thay
đổi tích cực cho xã hội.”
Mai
Thanh Truyết
Houston
– Tháng 3-2026
No comments:
Post a Comment