Tuesday, August 25, 2026

 

Chính sách của Hoa Kỳ đối với Việt Nam như thế nào sau khi NQ 23 ra đời...

 

Eyes in the Dark: Vietnam-Era Scopes and the Birth of Night Vision |  Swampfox Optics

 

Được ban hành vào ngày 2 tháng 8 năm 2026, Nghị quyết số 23-NQ/TW của Bộ Chính trị Việt Nam đã định nghĩa lại cộng đồng người Việt ở nước ngoài với quy mô 6,5 triệu người là một "nguồn lực chiến lược quốc gia", thay vì chỉ đơn thuần là nguồn cung cấp kiều hối. Từ góc độ của Hoa Kỳ – bao gồm cả cộng đồng người Mỹ gốc Việt đông đảo – sự chuyển dịch từ trạng thái kết nối thụ động sang hợp tác cùng kiến ​​tạo này được xem là một bước tiếp cận thực tiễn và hướng tới công nghệ cao. Các thay đổi chính và phản ứng từ phía Hoa Kỳ: Vượt ra ngoài phạm vi kiều hối, các nhà quan sát nhận thấy Hà Nội không còn chỉ tìm kiếm hỗ trợ tài chính hay sự giúp đỡ gia đình, mà đang hướng tới việc tiếp cận tài sản trí tuệ, các mạng lưới khoa học tiên tiến và chuyên môn về công nghệ cao (như trí tuệ nhân tạo và bán dẫn). Phản ứng của cộng đồng hải ngoại: Cộng đồng người Mỹ gốc Việt tại Bờ Đông Hoa Kỳ và các khu vực khác đã thảo luận sôi nổi về khuôn khổ chính sách này. Nhiều chuyên gia và kỹ sư coi đây là lời mời gọi đầy thiện chí để tham gia đóng góp, mặc dù các phản ứng rất đa dạng, từ sự hào hứng hợp tác về mặt kỹ thuật cho đến thái độ thận trọng khi đánh giá môi trường pháp lý và môi trường làm việc tại Việt Nam. Thách thức về thể chế: Các nhà phân tích tại Hoa Kỳ chỉ ra rằng để chính sách này thành công, Việt Nam cần vượt qua tư duy chỉ đặt câu hỏi về việc cộng đồng hải ngoại có thể làm gì cho đất nước, thay vào đó cần chủ động cải cách văn hóa làm việc trong nước, tăng cường tính minh bạch và hoàn thiện cơ sở hạ tầng nghiên cứu để thu hút và đáp ứng nhu cầu của nhân tài toàn cầu.

Send feedback

Nếu đặt Nghị quyết 23-NQ/TW ngày 2/8/2026 vào toàn thể mối quan hệ Mỹ–Việt hiện nay, thì Hoa Kỳ sẽ không xem NQ23 như một vấn đề có thể làm đảo ngược chính sách đối với Việt Nam. Nhưng Washington có thể đặc biệt chú ý đến cách NQ23 được triển khai đối với cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ. Điểm quan trọng cần thiết là phải tách chính sách của Hoa Kỳ đối với Việt Nam ra khỏi chính sách của Hoa Kỳ đối với người Việt Nam tại Hoa Kỳ. Cần phải tách bạch hai vấn đề nầy.

1- Chính sách lớn của Mỹ đối với Việt Nam: “Hợp tác chiến lược, nhưng có điều kiện”

Mối liên quan Mỹ–Việt đã được nâng lên hàng Đối tác chiến lược - Comprehensive Strategic Partnership từ tháng 9/2023. Và trong năm 2026, dấu hiệu hợp tác vẫn thể hiện rất rõ là Hoa Kỳ tiếp tục coi trọng mối quan hệ với Việt Nam, trong khi hợp tác quốc phòng cũng đang tiến triển; chuyến thăm Đà Nẵng của hàng không mẫu hạm USS George Washington cuối tháng 7 là một dấu hiệu rất đáng chú ý. Nhưng chính quyền Trump hiện nay đặt nặng hơn nhiều vào việc thương mại công bằng và có tính giao hoán (reciprocity), chống hàng hóa chuyển tải qua Việt Nam từ một quốc gia thứ ba để né tránh thuế quan Mỹ, vẫn xem Việt Nam nằm trong chuỗi cung ứng quốc gia, xem trọng vấn đề an ninh kinh tế, quan sát chặt chẽ những mánh khóe của Trung Cộng, và đặt nặng vấn đề quốc phòng và trục Indo-Pacific.

Chẳng hạn, Washington đang gây sức ép với Việt Nam về vấn đề trans-shipment và gian lận xuất xứ. Và Hà Nội cũng đã tuyên bố sẽ đối thoại và giải quyết vấn đề này trong khuôn khổ quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện. Nói cách khác: NQ23 không phải là trung tâm của chính sách Mỹ đối với Việt Nam.

2- Mối quan ngại của Hoa Kỳ về NQ23

Đó là 6,5 triệu người Việt Nam ở nước ngoài, trong đó cộng đồng người Việt ở Mỹ chiếm hơn 50%. NQ23 đã thay đổi đáng kể cách Việt Nam nhìn cộng đồng người Việt hải ngoại, không chỉ là đối tượng cần vận động về quê hương, mà được đặt cộng đồng vào vị trí một nguồn lực chiến lược cho phát triển và vị thế quốc gia. Các tài liệu công bố sau NQ23 cũng nhấn mạnh việc huy động nguồn lực của cộng đồng này.

Washington sẽ không phản ứng với NQ23 chỉ vì NQ23 muốn gần gũi người Việt hải ngoại. Điều đó hoàn toàn bình thường. Nhưng Washington sẽ quan tâm nếu việc “kết nối” ấy chuyển thành tác động, gây áp lực hoặc kiểm soát chính trị đối với những người đang sinh sống tại Hoa Kỳ.

Đây có thể được xem là một đường ranh giới rất quan trọng trong mối bang giao Việt – Mỹ, và Mỹ có thể nhìn NQ23 theo ba hướng khác nhau:

·       “Gắn kết cộng đồng hải ngoại - Diaspora engagement”: Nếu Việt Nam nói người Việt ở nước ngoài là người Việt Nam hãy đầu tư, chuyển giao kỹ thuật, về thăm quê, đóng góp khoa học, giáo dục, kinh tế...thì Hoa Kỳ không có lý do gì để phản đối. Thậm chí Washington có thể coi đây là hoạt động bình thường của một quốc gia đối với cộng đồng kiều dân của mình.

·       “Ảnh hường xuyên quốc gia - Transnational influence”: Nếu các cơ quan Việt Nam tìm cách gây ảnh hưởng tới sinh hoạt chính trị của người Việt tại Mỹ, vận động các tổ chức người Việt theo định hướng có chũ đích của Hà Nội, gây áp lực lên những người có quan điểm bất đồng, và sử dụng các tổ chức, cá nhân trung gian để tác động chính trị v.v… thì vấn đề trở nên khác. Lúc đó Hoa Kỳ không còn nhìn đây đơn thuần là một “chính sách riêng rẻ đối với kiều bào” nữa. Nó có thể trở thành vấn đề “ảnh hưởng từ nước ngoài /sự đàn áp xuyên quốc gia -  foreign influence / transnational repression”. Và đây mới là chỗ NQ23 cần được theo dõi kỹ.

·       “Nếu có hành động cưỡng ép trên lãnh thổ Mỹ”: Đây là mức độ nghiêm trọng nhất trong quan hệ ngoại giao giữa hai quốc gia. Nếu các hành động trên xảy ra trên đất Mỹ những hành động đối với người Việt như sau: đe dọa, theo dõi, cưỡng ép, trả đũa người bất đồng chính kiến đang ở Mỹ, hoặc sử dụng người hoặc tổ chức tại Mỹ để gây áp lực. Lúc đó, Hoa Kỳ sẽ phản ứng theo luật pháp Hoa Kỳ, chứ không căn cứ vào việc Việt Nam gọi đó là “công tác người Việt Nam ở nước ngoài”. Đây cũng chính là một điểm cần nhấn mạnh là NQ23 tự thân không phải là “khủng bố”, nhưng một số phương thức thực thi ngoài lãnh thổ nếu xảy ra có thể trở thành vấn đề an ninh/pháp luật của Hoa Kỳ.


NQ23 có thể vừa có lợi cho Việt Nam, vừa làm Washington chú ý hơn đến Việt Nam. Bởi vì, nếu NQ23 càng thành công trong việc huy động cộng đồng Việt ở Mỹ thì giá trị chiến lược của cộng đồng này càng lớn, càng làm cho  Washington càng quan tâm đến việc Việt Nam tương tác với cộng đồng đó như thế nào. Đây không nhất thiết là một đối đầu, mà có thể chỉ là sự giám sát bình thường của một quốc gia đối với kiều bào của mình mà thôi.

Từ những nhận xét ở phần trên về NQ23, thiết nghĩ, không nên đặt câu hỏi theo hướng “Mỹ sẽ chống NQ23 hay không?” Câu hỏi chính xác hơn cần phải đặt là:“NQ23 sẽ được Hoa Kỳ đánh giá như thế nào khi nó được khai triển trong cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ?” Và câu trả lời hiện nay là:”Washington sẽ tiếp tục hợp tác rất mạnh với Hà Nội về kinh tế, thương mại, chuỗi cung ứng, quốc phòng và chiến lược Indo-Pacific; đồng thời sẽ không bỏ qua vấn đề nhân quyền, pháp quyền và bất kỳ dấu hiệu can thiệp hoặc cưỡng ép xuyên quốc gia nào.” Đó là một chính sách “hợp tác – cạnh tranh – kiểm soát -  “cooperate + compete + monitor”, chứ không phải “đối đầu với Việt Nam”.

Và sau cùng, NQ23 có thể tạo ra một không gian mới cho thế hệ trẻ người Việt ở Mỹ, nếu Hà Nội thực sự muốn (cộng thêm sự thành tâm) thu hút trí thức, khoa học gia, doanh nhân, chuyên gia trẻ và thế hệ người Việt sinh ra ở nước ngoài, thì đây là một hướng tích cực. Còn nếu mục tiêu sâu xa lại là đưa cộng đồng người Việt hải ngoại trở lại dưới sự kiểm soát chính trị của Nhà nước Việt Nam, thì đó sẽ là một câu chuyện hoàn toàn khác. Và chính thế hệ trẻ Việt - Mỹ sẽ nhận thức được đâu là sự thành tâm, và đâu là một âm mưu của Việt Nam đưa họ vào…rọ!

3- Trường hợp Trịnh Xuân Thanh  

Xin nói ngay, NQ23 không làm Hoa Kỳ thay đổi căn bản chính sách đối với Việt Nam, nhưng NQ23 có thể làm Washington quan tâm hơn đến ảnh hưởng của Việt Nam đối với cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ. Và rằng đây chính là chỗ NQ23 “mới” hơn NQ36 năm 2004. NQ23 càng mở rộng và tỏ ý thiện chí hơn với người Việt hải ngoại thì càng ít có lý do để Mỹ lo ngại. Ngược lại, nếu việc thực thi đi theo hướng kiểm soát, gây áp lực hay can thiệp vào đời sống chính trị của người Việt tại Mỹ, thì vấn đề sẽ không còn là NQ23 nữa, mà trở thành vấn đề pháp luật và an ninh của Hoa Kỳ. Đó cũng là lý do người viết vẫn giữ nguyên nhận định trước đây là không cần “đánh” NQ23 tới tấp tưng bừng hoa lá, vì NQ23 chỉ ra đời mới ba tuần lễ, thiết nghĩ chúng ta cần nên quan sát cách NQ23 được thực thi thêm một thời gian nữa. Chính thực tiễn thực mới quyết định lịch sử sẽ đánh giá NQ23 như thế nào.

Trường hợp Trịnh Xuân Thanh ở Đức là một ví dụ rất rõ về ranh giới giữa “chính sách đối với kiều dân” và “hành động cưỡng chế xuyên quốc gia”. Xin nhắc lại vụ TXT:”Vụ Trịnh Xuân Thanh xảy ra tại Berlin vào tháng 7/2017. Bộ Ngoại giao Đức khi đó tuyên bố việc bắt cóc trên lãnh thổ Đức là một vi phạm trắng trợn luật Đức và luật quốc tế; Đức yêu cầu Việt Nam xin lỗi và bảo đảm không tái diễn.”

Nếu giả sử NQ23 bị biến thành một công cụ đe dọa ở Mỹ, qua những hành động liệt kê dưới đây:

·       Đe dọa người Việt đang sống ở Mỹ;

  • Theo dõi hoặc quấy nhiễu những người bất đồng chính kiến;
  • Ép buộc họ phải im tiếng;
  • Đe dọa thân nhân của họ ở Việt Nam;
  • Sử dụng người trung gian tại Mỹ để gây áp lực;
  • Hoặc nghiêm trọng nhất, tổ chức bắt cóc, hành hung hay cưỡng ép đưa một người từ Mỹ về Việt Nam.

Hoa Kỳ sẽ không còn xem đó đơn thuần là “thực hiện NQ23” nữa. Nó sẽ được đặt vào một phạm trù pháp lý và an ninh khác: transnational repression- TNR- đàn áp xuyên quốc gia. (Xin mời đọc các bài viết trước về vấn đề nầy của cùng tác giả trên FB). FBI hiện định nghĩa TNR chính là việc một chính phủ nước ngoài vượt qua biên giới để đe dọa, bịt tiếng nói, cưỡng ép, quấy rối hoặc gây hại cho người trong cộng đồng diaspora/exile tại Hoa Kỳ. FBI cũng nói rõ những hành vi này có thể vi phạm luật liên bang Hoa Kỳ.

Và điều đáng chú ý là FBI còn liệt kê “âm mưu bắt cóc - attempted kidnapping” như một hình thức đàn áp xuyên quốc gia. Khi đó phản ứng của Hoa Kỳ sẽ khác Đức năm 2017 ở một điểm rất quan trọng là Đức phản ứng mạnh vì một chủ quyền quốc gia bị xâm phạm trên lãnh thổ Đức. Hoa Kỳ cũng sẽ nhìn như vậy, nhưng nếu xảy ra tại Mỹ, vấn đề còn có thêm một biện pháp mạnh nữa là …nạn nhân đang được pháp luật và Hiến pháp Hoa Kỳ bảo vệ.

Một người Việt có thể là công dân Mỹ, thường trú nhân, hoặc thậm chí chỉ là người đang cư trú hợp pháp tại Mỹ. Họ vẫn ở dưới quyền tài phán của Hoa Kỳ khi ở trên lãnh thổ Mỹ. Vì vậy, nếu một cơ quan hoặc cá nhân hoạt động thay mặt cho chính phủ nước ngoài tổ chức bắt cóc người đó trên đất Mỹ, Washington sẽ không nói đó là chuyện nội bộ của Việt Nam, mà ngược lại, đây có thể trở thành vấn đề trực tiếp của FBI, Bộ Tư pháp và cơ quan an ninh quốc gia Hoa Kỳ. FBI hiện nói rất rõ rằng TNR đe dọa chủ quyền của Hoa Kỳ và các quyền tự do của người dân, và đôi khi vi phạm  cả luật liên bang.

Từ đó, phản ứng của Mỹ sẽ diễn ra theo nhiều giai đoạn, không nhất thiết ngay lập tức là “trừng phạt Việt Nam”. Đây là điều rất quan trọng.

·       Giai đoạn thứ nhứt: Nếu có một vụ việc cụ thể như VN bắt cóc một người Việt trên đất Mỹ chẳng hạn, FBI có thể điều tra: - Ai làm - Ai điều khiển - Tiền từ đâu - Có liên quan đến cơ quan chính phủ Việt Nam không - Có người Việt Nam tại Mỹ làm trung gian không? V.v… Đây là giai đoạn xác lập chứng cứ.

·       Giai đọan thứ hai: Nếu có đủ bằng chứng, Mỹ có thể truy tố những người trực tiếp tham gia. Đây là điểm khác căn bản với việc chỉ lên tiếng ngoại giao. Nếu, một người Việt ở Mỹ nhận chỉ thị từ một chính phủ nước ngoài để đe dọa hoặc cưỡng ép một người khác không thể tự bảo vệ mình bằng câu:“Tôi chỉ thi hành Nghị quyết 23”, vì nghị quyết của một quốc gia không miễn trừ cho một cá nhân khỏi luật hình sự Hoa Kỳ.

·       Giai đoạn thứ ba: Đây mới là vấn đề ngoại giao. Nếu điều tra cho thấy có sự điều khiển hoặc tham gia của cơ quan nhà nước Việt Nam, câu chuyện sẽ lớn hơn rất nhiều. Washington có thể, triệu tập hoặc phản đối ngoại giao, yêu cầu Việt Nam giải thích, yêu cầu chấm dứt hoạt động, hành động quyết liệt như trục xuất cá nhân, hay khai báo “người không còn ưu đãi - persona non grata” đối với nhân viên ngoại giao trong trường hợp thích hợp, ạn chế hoặc thay đổi hợp tác trong một số lĩnh vực ngoại giao hay thương mại, và tùy theo mức độ nặng hay nhẹ, quan trọng hay không, Mỹ sẽ áp dụng những biện pháp pháp lý hoặc chính sách thích ứng tùy trường hợp.

4- Khi nào NQ23 trở thành “đàn áp xuyên quốc gia - TNR ”

Giả sử trong tương lai có một chuỗi sự kiện đến từ việc sử dụng NQ23, như việc Việt Nam xác định một số người Việt hải ngoại là “đối tượng cần xử lý”, các cơ quan hoặc tổ chức liên quan với những người này … đe dọa, theo dõi, gây áp lực v.v… và người đó bị hành hung hoặc bị bắt cóc tại Mỹ. Khi đó, NQ23 không còn được nhìn như một nghị quyết về người Việt hải ngoại nữa. Nó sẽ trở thành bằng chứng cần xem xét để xác định mục đích, chính sách hoặc động cơ của những người thực hiện hành vi trên. Đây là “lằn ranh đỏ” mà Hà Nội cần phải hiểu

Có thể nói rất ngắn gọn, Việt Nam có quyền vận động người Việt ở nước ngoài yêu nước, đầu tư, về nước, hợp tác khoa học, đóng góp cho quê hương; nhưng, Việt Nam không có quyền dùng chính sách qua NQ23 đó để cưỡng ép một người đang sống tại Hoa Kỳ phải tuân theo ý chí chính trị của Hà Nội. Và lại càng không thể dùng nó để biện minh cho hành động phạm pháp trên lãnh thổ Hoa Kỳ.

FBI hiện có hẳn một chương trình về Đàn áp xuyên quốc gia – TNR. FBI nói rằng các chính phủ nước ngoài có thể nhắm tới những người bất đồng chính kiến, nhà báo, nhà hoạt động nhân quyền, đối thủ chính trị và những thành phần khác trong các cộng đồng hải ngoại – diaspora, nhưng, đặc biệt, như FBI Dallas mới tháng 4/2026 còn công khai cảnh báo rằng TNR là khi một quốc gia nước ngoài hoặc người làm việc cho quốc gia đó vượt biên giới để đe dọa, bịt miệng, cưỡng ép, quấy rối hoặc gây hại - intimidate, silence, coerce, harass, or harm cộng đồng tị nạn tại Mỹ.

Như vậy, rõ ràng là không cần phải chờ đến một vụ “Trịnh Xuân Thanh thứ hai” thì Washington mới quan tâm. Thêm nữa, những hành động nhỏ hơn cũng có thể được ghi nhận, điều tra và tích lũy thành một bức tranh lớn hơn.

Tóm lại, NQ23 có thể được chia làm hai loại dưới mắt người Mỹ:

·       Người Việt ở nước ngoài là một bộ phận của dân tộc, hãy trở về, hợp tác, đầu tư, đóng góp trí tuệ. Nếu thực hiện như vậy, Mỹ gần như không có lý do để phản đối.

·       Người Việt ở nước ngoài phải chịu ảnh hưởng hay điều khiển chính trị từ Việt Nam; người chống đối sẽ bị theo dõi, đe dọa hoặc xử lý. Nếu đi theo hướng này, thì đó là một câu chuyện hoàn toàn khác. Và nếu vượt đến lãnh thổ Mỹ thì nó có thể chuyển từ cách thẩm định NQ23 như là một chính sách đối với cộng đồng người Việt ở nước ngoài chịu ảnh hưởng từ Việt Nam qua sự đàn áp xuyên quốc gia ảnh hưởng lên  vấn đề an ninh quốc gia và việc thực thi pháp luật của Hoa Kỳ. Xin nhắc lại một lần nữa là FBI đã xác định TNR là một vấn đề có thể ảnh hưởng đến chủ quyền Hoa Kỳ và có thể vi phạm luật liên bang.

5- Suy nghĩ riêng của người viết

Không nên đánh giá NQ23 bằng những gì người ta nghi ngờ hay sợ nó có thể làm; phải đánh giá NQ23 bằng hành động thực tế của Nhà nước Việt Nam đối với người Việt hải ngoại trong những ngày sắp đến.


Nếu NQ23 được sử dụng để đe dọa, cưỡng ép hoặc đàn áp người Việt trên đất Mỹ, thì chính cách thực thi đó có thể biến NQ23 từ một chính sách đối ngoại/kiều bào thành một vấn đề an ninh và pháp luật của Hoa Kỳ. Và nếu đi đến mức bắt cóc, hành hung hoặc tổ chức hành động cưỡng chế trên đất Mỹ, thì bài học Trịnh Xuân Thanh ở Đức năm 2017 cho thấy đây có thể trở thành một cuộc khủng hoảng ngoại giao nghiêm trọng, đồng thời kéo theo điều tra và xử lý theo pháp luật Hoa Kỳ.

Hoa Kỳ sẽ không phán xét NQ23 qua lời văn của Nghị quyết, mà qua hành động của Việt Nam đối với người Việt hải ngoại. NQ23 có thể là một cây cầu Việt–Mỹ nếu được thực thi bằng hòa giải và thiện chí; nhưng nếu trở thành công cụ đàn áp xuyên quốc gia, chính NQ23 có thể trở thành nguồn gây căng thẳng nghiêm trọng giữa Hà Nội và Washington.

Thời gian và thực tế sẽ trả lời.

“Đừng chỉ nhìn NQ23 qua văn bản; hãy nhìn NQ23 qua hành động.”

Mai Thanh Truyết

Con đường Việt Nam

New Jersey – 19-8-2026

Wednesday, August 19, 2026

 Từ Sông Mekong đến Biển Đông


Lời người viết: Hội thảo về “Việt Nam: 50 năm sau chiến tranh” do Texas Tech University ở Lubbock, Texas tổ chức vào ngày 11 – 12-4-2025, trong đó, người viết có đóng góp nhận định dưới đây:” “Mekong River – Should China Be Taken to International Court?

·         What is the conflict regarding the Mekong River?

In Asia, a dispute exists over the Mekong River, which flows through Cambodia, Vietnam, Laos, and Thailand. This conflict centers on the construction of dams by various countries and the exploitation of the river's resources.

·         Who is to blame for the Mekong River's issues?

Environmentalists and experts point to the 11 dams built by China on the Upper Mekong within its borders. They argue that these dams are contributing to historic flooding and droughts, damaging fish spawning areas and disrupting local communities.

·         What is the biggest issue facing the Mekong River?

The Mekong River, though it may appear healthy on the surface, is suffering from a range of serious problems. These include dam construction, overfishing, deforestation, plastic pollution, and the adverse effects of climate change.

·         What is the biggest threat to the Mekong River?

The most significant threats are the hydropower dams on the Mekong and its tributaries. These dams can drastically alter the river's flow, disrupt fish migratory patterns, and destroy spawning grounds.

·         What has China done to the Mekong River?

During droughts, Chinese dams blocking the river exacerbate conditions downstream, leading to food insecurity for nearly 60 million people in Cambodia, Laos, Thailand, and Vietnam, who rely on the river for agriculture and fisheries.

·         Who controls the Mekong River?

In 2015, China established the Lancang-Mekong Cooperation, an organization that manages the shared use of the Mekong River. Its members include Cambodia, Laos, Myanmar, Vietnam, and Thailand.

 

Sau hơn một năm, người viết có thêm những suy nghĩ tiếp. Xin chia xẻ cùng độc giả.

 

***

Tóm tắt: Sông Mekong là một trong những hệ thống sông lớn và quan trọng nhất của châu Á, tạo nên một không gian sinh thái, kinh tế, văn hóa trải dài qua bảy quốc gia: Trung Cộng, Tây Tạng, Myanmar, Lào, Thái Lan, Cambodia và Việt Nam. Đối với Việt Nam, Mekong không chỉ là một nguồn tài nguyên nước. Dòng sông này là nền tảng hình thành Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), một vùng đất có vai trò chiến lược về nông nghiệp, thủy sản, kinh tế và ổn định xã hội.

Tuy nhiên, trong vài thập niên qua, hệ thống sông Mekong đang chịu nhiều áp lực cùng một lúc do việc thay đổi dòng chảy do các công trình kiểm soát nước ở thượng nguồn, sự suy giảm phù sa, việc khai thác tài nguyên quá mức, sự biến đổi khí hậu, việc nước biển dâng sâu vào lục địa, và việc sạt lở và lún đất. Những biến đổi này đặt ra một câu hỏi lớn:”Đây có còn là một vấn đề môi trường đơn thuần, hay đã trở thành một vấn đề an ninh quốc gia?”

Bài viết dưới đây trình bày ba luận điểm chính:

·         Thứ nhất, vấn đề Mekong cần được nhìn nhận dưới góc độ luật pháp quốc tế về nguồn nước xuyên biên giới, trong đó mọi quốc gia có quyền sử dụng nguồn nước nhưng đồng thời có nghĩa vụ không gây tổn hại đáng kể cho các quốc gia khác.

·         Thứ hai, an ninh nguồn nước và an ninh biển của Việt Nam có mối liên hệ trực tiếp. Một đồng bằng sông Cửu Long suy yếu sẽ ảnh hưởng đến sức mạnh kinh tế, xã hội và khả năng bảo vệ không gian biển của quốc gia.

·         Thứ ba, giải pháp lâu dài không chỉ nằm ở khả năng kiện tụng quốc tế, mà còn cần một chiến lược tổng hợp gồm khoa học, ngoại giao, pháp lý và chuyển đổi mô hình phát triển.

Thông điệp chính yếu của bài viết là bảo vệ sông Mekong, không chỉ là bảo vệ một dòng sông, mà còn là bảo vệ nền tảng sinh tồn của một dân tộc và trách nhiệm đối với những thế hệ Việt Nam mai sau.

1-    Một dòng sông – Một vận mệnh

Trong lịch sử nhân loại, những nền văn minh lớn thường được sinh ra bên cạnh những dòng sông như Sông Nile tạo nên nền văn minh Ai Cập cổ đại, Sông Hoàng Hà gắn liền với lịch sử Trung Hoa, Sông Tigris và Euphrates là cái nôi của vùng Lưỡng Hà. Đối với Đông Nam Á, sông Mekong giữ một vai trò tương tự, trấn giữ một dòng sinh mệnh dân tộc, nhứt là ở miền Nam Việt Nam với chín khúc Cửu Long. Dòng sông bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng, chảy qua nhiều quốc gia trước khi đổ ra Biển Đông tại Việt Nam, đã nuôi dưỡng hàng chục triệu con người trong nhiều thế hệ. Riêng vùng Đồng bằng Sông Cửu Long là một minh chứng sống động cho sức mạnh kiến tạo của thiên nhiên.

Qua hàng ngàn năm, phù sa sông Mekong đã bồi đắp đất đai, hình thành các vùng canh tác màu mỡ, nuôi dưỡng một cộng đồng cư dân năng động, và   tạo nên một nền văn hóa sông nước đặc thù. Nhưng, cũng chính sự phụ thuộc sâu sắc đó cũng đã tạo nên nhiều điểm yếu, mà hôm nay, miền Nam Việt Nam phải trả một giá rất đắt vì nhiều nguyên nhân cả khách quan lẫn chủ quan. Đó là, một đồng bằng được sinh ra từ phù sa sẽ rất dễ tổn thương khi nguồn phù sa ấy bị suy giảm, một vùng đất sống nhờ dòng chảy tự nhiên sẽ chịu tác động mạnh khi dòng chảy ấy bị thay đổi.

Ngày nay, câu chuyện Mekong không còn chỉ là câu chuyện của người nông dân miền Tây nữa, mà nó liên quan đến nguồn an ninh lương thực quốc gia, sự phát triển kinh tế, vấn đề ổn định xã hội, việc bảo vệ môi trường và chiến lược quốc gia trong thế kỷ XXI.

2- Từ một dòng sông thiên nhiên đến một không gian địa chính trị

2.1- Đặc tính đặc biệt của các dòng sông xuyên biên giới: Không giống một tài nguyên nằm hoàn toàn trong lãnh thổ một quốc gia, sông Mekong như các dòng sông quốc tế có một đặc điểm căn bản là bất cứ hành động của một quốc gia nào có dòng sông chảy xuyên qua cũng có thể tạo ra hậu quả cho nhiều quốc gia khác. Một quyết định xây dựng đập, chuyển nước hoặc khai thác quá mức ở thượng nguồn có thể ảnh hưởng đến dòng chảy, phù sa, thủy sản, nông nghiệp, và quan trọng nhứt là sinh kế của người dân sống ở hạ nguồn.

Vì vậy, trong luật pháp quốc tế hiện đại, quyền sử dụng nguồn nước luôn đi kèm trách nhiệm. Không một quốc gia nào có thể lập luận rằng là dòng sông nằm trên lãnh thổ của tôi, nên tôi có toàn quyền quyết định. Bởi vì dòng nước không dừng lại ở đường biên giới địa lý hay chính trị.


2.2- Vị trí đặc biệt của Trung Cộng trong hệ thống sông Mekong: Trung Cộng là một quốc gia nằm trên thượng nguồn của sông Mekong. Điều này tạo ra một lợi thế địa dư đặc biệt là toàn quyền kiểm soát nguồn nước đầu vào, xây dựng các công trình thủy điện lớn, và có khả năng điều tiết dòng chảy. Đứng về mặt nguyên tắc và pháp lý quốc tế, quyền phát triển thủy điện là một quyền hợp pháp của mỗi quốc gia, tuy nhiên, bất cứ một phát triển nào trên dòng chính của sông Mekong cần phải được sự đồng thuận của tất cả quốc gia có dòng Mekong chảy qua. Đó là một trong những điều kiện tiên quyết của Mekong River Committee - MRC. Tuy nhiên, câu hỏi quan trọng được đặt ra là quyền phát triển của quốc gia thượng nguồn kết thúc ở đâu, và trách nhiệm đối với các quốc gia hạ nguồn bắt đầu từ đâu?

Đây chính là trung tâm của tranh luận về Mekong trong thế kỷ XXI.

3-    Những tác động môi trường lên Đồng bằng sông Cửu Long

3.1- Đồng bằng sông Cửu Long – ĐBSCL: Muốn hiểu được mức độ quan trọng của sông Mekong đối với Việt Nam, chúng ta cần hiểu một nguyên lý địa chất căn bản là ĐBSCL không phải là một vùng đất cố định, nó là một hệ thống sống luôn vận động và di chuyển. Trong hàng ngàn năm, mỗi mùa nước nổi, Mekong mang theo một lượng lớn bùn tức phù sa, cát, khoáng chất, chất hữu cơ, và quan trọng nhứt là tôm cá đẻ loại. Những vật chất này được lắng đọng dần theo thời gian, tạo nên một vùng đất màu mỡ ngày nay. Hay nói một cách hình tượng, mỗi hạt phù sa của Mekong chính là một viên gạch xây dựng nên miền Nam Việt Nam và cứ thế kéo dài mũi Cà Mau … dường như vô tận.

Nhưng, từ khi nguồn vật liệu ấy bị suy giảm, đồng bằng không còn được "bồi đắp" mà bắt đầu chuyển sang trạng thái "bị bào mòn", và hiện trạng “mũi Cà Màu kéo dài”, ngày hôm nay đã chấm dứt! Đổi lại, là tình trạng sói mòn và sạt lở!

3.2- Suy giảm phù sa – cuộc khủng hoảng âm thầm: Trong quá khứ, người dân miền Tây quen với hình ảnh, mỗi năm đến mùa nước nổi đem cá về, dòng sông mở rộng, đất đai được bồi thêm sau mỗi mùa lũ. Ngày nay, quy luật tự nhiên đó đang thay đổi, mà một trong những nguyên nhân quan trọng là sự giữ lại trầm tích trong các hồ chứa lớn ở


thượng nguồn.

Khi nước đi qua các hồ chứa ở thượng nguồn, tốc độ dòng chảy giảm, vật chất nặng lắng xuống, lượng phù sa ở hạ lưu giảm. Và, hậu quả không xảy ra ngay lập tức, mà đây là một dạng khủng hoảng chậm, không giống như một trận bão phá hủy trong vài giờ, mà nó diễn ra qua nhiều năm, nhiều thập niên. Và dĩ nhiên, một khi hậu quả trở nên rõ rệt, việc phục hồi trở lại tình trạng ban đầu sẽ vô cùng khó khăn.

3.2. Sạt lở: Khi đồng bằng bắt đầu mất đất, một trong những biểu hiện rõ nhất của việc mất cân bằng phù sa là tình trạng sạt lở. Các khu vực ven sông, ven biển đối diện với dòng chảy thay đổi, thiếu vật chất bồi đắp, việc khai thác cát quá mức, sự sụt lún do khai thác nước ngầm. Bây giờ, một đồng bằng vốn được xây dựng qua hàng ngàn năm có thể bị mất đi chỉ trong vài thế hệ.

Điều đáng lo ngại nhứt là sự sạt lở không chỉ làm mất đất, mà còn làm mất nhà cửa, đường sá, trường học, cộng đồng dân cư, và nhứt là ký ức văn hóa lần lần bị xóa tan. Một vùng đất biến mất như tình trạng ĐBSCL hiện nay, không chỉ là sự mất mát về vật chất, mà còn là sự mất mát về con người. Hiện tại, cửa Ba Lai, Bến Tre ở Tiền Giang trở thành một “cống thoát nước”, và cửa Bassac, ở Hậu Giang hoàn toàn biến mất.

3.3- Xâm nhập mặn - Sự thay đổi cân bằng giữa sông và biển: Một đồng bằng ven biển luôn tồn tại sự cân bằng tự nhiên giữa dòng nước ngọt từ sông và nước mặn từ biển. Khi lưu lượng dòng nước ngọt suy giảm, nước biển có điều kiện tiến sâu hơn vào đất liền. Hậu quả là người dân hai bên dòng sông thiếu nước sinh hoạt, cây trồng bị ảnh hưởng, hệ sinh thái đảo lộn. Từ đó mọi năng suất nông nghiệp hay chăn nuôi đều bị giảm thiểu trầm trọng. Trong suốt 5 năm qua, kể từ mùa lúa Đông Xuân ở ĐBSCL năm 2919 hầu như mất trắng trên 200.000 mẫu do dòng chảy ở ở Tiền Giang và Hậu Giang xuống thấp hơn 200 m3/giây vào tháng 4 hàng năm do việc Trung Cộng ngăn chặn dòng chảy ở đập Cẩm Hồng nằm ngay trên dòng chóng sông Mekong sát cạnh biên giới Lào.

3.4- Thủy sản Mekong - Sự suy giảm của một hệ sinh thái cổ xưa: Sông Mekong từng được xem là một trong những con sông có đa dạng sinh học thủy sản cao nhất thế giới. Nguồn cá Mekong không chỉ là thực phẩm, mà là một nguồn thu nhập chính của người dân, là nguồn văn hóa, là truyền thống của hàng chục triệu người.

Các thay đổi về dòng chảy, về thời điểm lũ lụt, về lộ trình di cư của cá, của nơi sinh sản … không còn nằm trong tính toán hay dự trù của người dân sống chung quanh, mà hoàn toàn tùy thuộc/lệ thuộc vào những quyết định của Trung Cộng mà thôi.

3.5- Sụt lún đất ở ĐBSCL - Một nguy cơ thường bị bỏ quên: Ngoài những tác động từ bên ngoài, ĐBSCL còn có một vấn đề nội tại, đó là tốc độ sụt lún đất. Các nguyên nhân gây ra hiện tượng trên bao gồm việc khai thác nước ngầm quá mức và việc xây dựng qua tải, làm cho thiên nhiên mất đi sự cân bằng tự nhiên của đồng bằng. Một thí dụ: tỉnh Trà Vinh đã đào hơn 40.000 giếng đóng dành cho chăn nuôi cá, và trồng trọt, khiến cho mặt đất bị lún hơn 50 cm!  Khi đất thấp dần, nước biển chảy người vào lục địa, làm cho ngập lụt gia tăng. Vì vậy chi phí thiết lập đê điều và chi phí bảo vệ đất tăng lên.

3.6- Biến đổi khí hậu: ĐBSCL đang ở vị trí đặc biệt nhạy cảm trước sự biến đổi khí hậu. Các yếu tố cùng lúc tác động, làm cho dòng chảy thay đổi ở thương nguồn, giảm thiểu phù sa chuyển về hạ nguồn. Từ nhiệt độ tăng làm cho mưa thất thường, giảm thiểu lưu lượng nước, làm cho nước biển xâm nhập sâu vào đồng bằng. Từ việc khai thác tài nguyên, việc đô thị hóa làm mất dần diện tích đất dành cho nông nghiệp và chăn nuôi. Đây là một bài toán hết sức phức tạp vì không có một nguyên nhân duy nhất.

3.7- Từ môi trường đến an ninh quốc gia: Điểm quan trọng nhất chúng ta cần rút ra là những biến đổi môi trường không chỉ là câu chuyện của các nhà khoa học. Chúng liên quan trực tiếp đến an ninh lương thực, mà ĐBSCL là vùng sản xuất lương thực quan trọng, liên quan đến an ninh kinh tế, trong đó, nhiều ngành kinh tế phụ thuộc vào vùng đất này, liên quan đến an ninh xã hội vì đã làm suy giảm sinh kế có thể tạo ra áp lực di cư. Việc mất đất ven biển đồng nghĩa với việc cần phải thay đổi không gian sinh tồn. Vì vậy, An ninh môi trường chính là một phần của an ninh quốc gia trong thế kỷ XXI.

Qua trên, chúng ta thấy dòng sông Mekong đang đứng trước một nghịch lý từ là một dòng sông từng tạo nên sự phồn thịnh của ĐBSCL, nay có thể trở thành yếu tố quyết định sự tồn tại của vùng đất này. Điều quan trọng là Việt Nam từ nay cần phải chuyển từ suy nghĩ "ứng phó với khủng hoảng", để chuyển sang “chuẩn bị cho tương lai".

4-    Việt Nam có thể kiện Trung Cộng về vấn đề sông Mekong hay không?

4.1- Từ khoa học môi trường đến trách nhiệm pháp lý quốc tế: Trong bất kỳ tranh chấp môi trường xuyên biên giới nào, khoa học và pháp lý luôn gắn liền với nhau. Đối với sông Mekong, câu hỏi không đơn giản là "Trung cộng có xây đập hay không?" mà là:”Việc khai thác và điều tiết dòng Mekong ở thượng nguồn có gây ra thiệt hại đáng kể, không hợp lý và thiếu sự hợp tác cần thiết đối với các quốc gia hạ nguồn hay không?

Đây mới là trọng tâm của luật quốc tế.

4.2- Những nguyên tắc căn bản của luật quốc tế về nguồn nước xuyên biên giới: Trong nhiều thập niên qua, cộng đồng quốc tế đã hình thành một số nguyên tắc nhằm điều chỉnh việc sử dụng các dòng sông chung. Ba nguyên tắc quan trọng nhất là:

* Nguyên tắc sử dụng công bằng và hợp lý - Equitable and Reasonable Utilization: Đây là nguyên tắc căn bản có nội dung như sau:”Mỗi quốc gia trong một lưu vực sông quốc tế có quyền sử dụng nguồn nước để phát triển kinh tế và xã hội”. Tuy nhiên, quyền đó phải được cân bằng và được sự đồng thuận với quyền lợi của các quốc gia khác. Hay nói một cách khác là một quốc gia có quyền sử dụng nước, nhưng không có quyền biến nguồn nước chung thành lợi ích riêng của mình. Các yếu tố thường được xem xét gồm số dân phụ thuộc vào nguồn nước, nhu cầu kinh tế, điều kiện tự nhiên, khả năng thay thế nguồn nước, và mức độ ảnh hưởng đến quốc gia khác.

* Một khi áp dụng vào Mekong, Trung Cộng có quyền phát triển kinh tế vùng Tây Nam; nhưng Việt Nam cũng có quyền được duy trì dòng chảy cần thiết để bảo đảm đời sống của hàng chục triệu người dân vùng hạ lưu. Đó là nguyên tắc không gây thiệt hại đáng kể (No Significant Harm Principle), một nguyên tắc có ý nghĩa đặc biệt đối với trường hợp Mekong. Theo nguyên tắc này:Một quốc gia không được tiến hành các hoạt động trên lãnh thổ của mình gây thiệt hại nghiêm trọng cho quốc gia khác như: - Một nhà máy xả độc chất qua biên giới - Một công trình làm thay đổi nghiêm trọng nguồn nước hay làm lệch dòng chảy – Hay một hoạt động khai thác phá hủy hệ sinh thái chung.

* Trong trường hợp Mekong, Việt Nam cần chứng minh có sự thay đổi đáng kể trong hệ thống thiên nhiên của dòng sông như giảm phù sa, thay đổi chu kỳ lũ lụt, dòng chảy bị sụt giảm do khai thác quá mức hay chuyển dịch dòng chảy ở thượng nguồn. Thứ đến, có mối liên quan hay hệ lụy khoa học rõ ràng giữa hoạt động thượng nguồn và hậu quả hạ nguồn.

Đây là điểm khó nhất, vì ĐBSCL còn chịu ảnh hưởng của sự biến đổi khí hậu, nước biển dâng, và các họat động khai thác nội địa. Do đó, cần những nghiên cứu rất nghiêm chỉnh để phân biệt từng nguyên nhân.

Một điểm rất khó nữa là Việt Nam cần phải chứng minh rằng những thảm họa trên cần phải được chứng minh và đo lường. Ví dụ như diện tích đất mất, thiệt hại kinh tế như thế nào, mức suy giảm thủy sản, và ảnh hưởng lên cộng đồng và xã hội cụ thể ra sao v.v…

4.3- Bổn phận và trách nhiệm thông báo, trao đổi thông tin và hợp tác: Luật quốc tế hiện đại không chỉ nói về quyền, mà còn nhấn mạnh về trách nhiệm hợp tác giữa các quốc gia có chung một dòng sông như sông Mekong.

Đối với các dự án lớn có khả năng ảnh hưởng xuyên biên giới, quốc gia thực hiện cần cung cấp thông tin, đánh giá tác động môi trường, cùng nhau tham vấn với các nước liên quan. Đây là một điểm rất quan trọng đối với sông Mekong, vì vấn đề không chỉ nằm ở việc có gây thiệt hại hay không mà còn nằm ở việc các quốc gia hạ nguồn có được tham gia vào quá trình ra quyết định hay không nữa?"

5- Các tiền lệ quốc tế quan trọng

Để tìm hiểu khả năng pháp lý của Việt Nam, thiết nghĩ cũng cần nhìn vào một số trường hợp điển hình.

5.1- Vụ Hungary – Slovakia về đập Gabčíkovo–Nagymaros, 1997: Đây là một vụ án nổi tiếng tại Tòa án Công lý Quốc tế - International Court of Justice – ICJ. Vấn đề tranh chấp liên quan đến dự án thủy điện trên sông Danube.

Các điểm quan trọng mà Tòa nhấn mạnh gốm có:

  • Phát triển kinh tế không thể tách rời trách nhiệm bảo vệ môi trường;
  • Quốc gia phải cân nhắc quyền lợi của các bên cùng chia sẻ nguồn nước;
  • Bảo vệ môi trường là một yếu tố của luật quốc tế hiện đại.

Từ đó, chúng ta có thể hình dung được bài học cho sông Mekong là phát triển thủy điện không thể chỉ dựa trên lợi ích của quốc gia xây dựng công trình, mà cần phải được sự chấp thuận của các quốc gia liên quan.

5.2- Vụ Argentina – Uruguay về nhà máy giấy trên sông Uruguay, 2010: Tranh chấp này liên quan đến nguy cơ ô nhiễm dòng sông chung được tòa nhấn mạnh đến bổn phận  thông báo những nguy cơ có thể xảy ra khi xây dựng nhà máy, về tính pháp nhân trong việc hợp tác, và nhứt là đánh giá tác động môi trường.

Trong trường hợp tên, bài học cho “vụ kiện sông Mekong” là một quốc gia không nhất thiết phải chứng minh bên kia "cố ý gây hại". Việc thiếu minh bạch hoặc không tuân thủ bổn phận hợp tác cũng có thể trở thành một vấn đề pháp lý cho nguyên đơn.

5.3- Vụ Costa Rica – Nicaragua về sông San Juan: Sự việc liên quan đến quyền sử dụng và tác động môi trường tại một dòng sông biên giới ngăn đôi hai quốc gia. Từ đó rút ra bài học là Quyền của chủ quyền quốc gia phải được cân bằng với nghĩa vụ bảo vệ môi trường xuyên biên giới.

6- Việt Nam có thể đưa Trung Cộng ra cơ chế quốc tế nào?

Đây là phần cần nhìn nhận rất thực tế.

6.1- Tòa án Công lý Quốc tế - ICJ: Về nguyên tắc, ICJ là cơ quan quan trọng nhất để giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia. Tuy nhiên, trở ngại lớn là ICJ cần có thẩm quyền xét xử. Thông thường, điều này đòi hỏi các bên đồng ý, hoặc có một điều ước quốc tế cho phép.

Việt Nam không thể đơn phương buộc Trung Cộng ra trước ICJ trong mọi trường hợp, nhứt là TC đạ rút tên ra khỏi Ủy ban Sông Mekong - Mekong River Committee vào năm 1995. Và, hiện tại, chỉ còn Ủy hội Sông Mekong – Mekong River Commission gồm bốn quốc gia Việt – Miên – Lào và Thái Lan mà thôi.

Đây là hạn chế căn bản của luật quốc tế, vì tuy có luật, nhưng quyền cưỡng chế không giống luật trong nội bộ của một quốc gia.

6.2- Tòa án Luật Biển Quốc tế - International Tribunal for the Law of the Sea – ITLOS: Đây là một tòa án chánh yếu giải quyết các vấn đề liên quan đến Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển - United Nations Convention on the Law of the Sea – UNCLOS. Đứng trên bình diện Công ước nầy, sông Mekong có liên quan đến biển vì phù sa


đổ ra Biển Đông làm biến đổi vùng ven biển, và làm thay đổi hệ sinh thái cửa sông ảnh hưởng tiêu cực đến nghề cá của ĐBSCL.

Tuy nhiên, trên thực tế, ITLOS không phải là diễn đàn hoàn toàn phù hợp cho mọi khía cạnh của tranh chấp dòng sông vì các sức ép chính trị của các đại cường.

6.3- Trọng tài quốc tế - International arbitration: Một lựa chọn khác là trọng tài quốc tế, nhưng cũng cần soạn thảo các cơ sở pháp lý có tính thuyết phục, nhắm vào một quy trình phù hợp, và nhứt là có sự tham gia và hợp tác của tất cả các quốc gia liên quan đến vụ kiện.

7- Nhận định chiến lược - Kiện tụng có phải là con đường duy nhất hay không?

Câu trả lời là: Không. Một vụ kiện quốc tế có thể mất nhiều năm, trong khi đó, những thay đổi của dòng sông Mekong, có thể nói, đang diễn ra từng ngày. Do đó, chiến lược hiệu quả hơn cần phải bắt đầu bằng nhiều bước theo thứ tự:

·         Thứ nhứt: Chứng minh thiệt hại bằng dữ liệu và khoa học;

·         Thứ hai: Vận động ngoại giao nhằm tạo sự đồng thuận và ủng hộ quốc tế;

·         Thứ ba: Về mặt pháp lý, cần chuẩn bị hồ sơ cho mọi khả năng, và mọi tình huống bất lợi có thể xảy ra;

·         Thứ tư: Cần giảm thiểu mức độ tổn thương của chính Việt Nam, ngõ hầu tiến tới sự hòa giải và thương lượng giữa hai phía.

Tóm lại, về mặt pháp lý, Việt Nam có những căn bản để nêu vấn đề trách nhiệm quốc tế liên quan đến sông Mekong nhằm đưa Trung Cộng ra các cơ quan hay toà án quốc tế. Nhưng nếu chỉ nhắm vào một chiến lược chỉ dựa vào kiện tụng sẽ không đủ, vì xác suất thành công qua việc chứng minh khả năng kết hợp về những bằng chứng khoa học liên quan đến luật pháp quốc tế, và ngoại giao của Việt Nam khó có thể chống lại sức ép của Trung Cộng trong giai đoạn hiện tại.

Vì sao? Cuối cùng, cũng vì Việt Nam hiện chưa có đủ điều kiện để bảo vệ được dòng sông của mình qua việc tranh luận trong phòng xử án, vì chưa chuẩn bị và xây dựng một tầng lớp chuyên gia có tri thức, uy tín quốc tế, và có đủ năng lực đối đầu với các thế lực phủ đầu như Trung Cộng.

8- An ninh nguồn nước – An ninh sinh thái – Chủ quyền Việt Nam trong thế kỷ XXI

8.1- Khái niệm về chủ quyền trong thế kỷ XXI đang thay đổi: Trong lịch sử, khi nói đến chủ quyền quốc gia, người ta thường nghĩ đến biên giới lãnh thổ về địa dư, quân đội bảo vệ đất nước, và quyền kiểm soát vùng biển và không phận. Đây vẫn là những yếu tố căn bản cho một quốc gia độc lập và tự chủ. Nhưng thế kỷ XXI đặt ra một nhận thức mới là một quốc gia không chỉ cần bảo vệ không gian địa dư, mà còn phải bảo vệ những điều kiện tồn tại của không gian đó.

Những điều kiện ấy bao gồm nguồn nước, đất đai, khí hậu ổn định, an ninh lương thực, và hệ sinh thái bền vững. Một vùng đất trên bản đồ có thể vẫn thuộc chủ quyền của một quốc gia, nhưng nếu đất bị mất dần do việc đô thị hóa, hay sa mạc hóa, nguồn nước suy giảm, hay người dân phải rời bỏ quê hương vì kinh tế, hoặc vì những xáo trộn chính trị nội tại. Tất cả, thể hiện một dạng suy yếu hay đánh mất chủ quyền trên thực tế.

Vì vậy, chủ quyền trong thế kỷ XXI không chỉ là quyền sở hữu lãnh thổ, mà còn là quyền duy trì sự sống và phát triển trên lãnh thổ đó, mà Việt Nam hiện tại chưa chu toàn được hai điều căn bản trên.

8.2- Sông Mekong và Biển Đông - Hai không gian nhưng một hệ thống: Dưới mắt quốc tế, sông Mekong là vấn đề sông ngòi, và Biển Đông là vấn đề biển đảo. Nhưng dưới góc nhìn sinh thái, hai khu vực này liên kết chặt chẽ với nhau và sông Mekong kết thúc tại Biển Đông, và những gì xảy ra trên dòng sông cuối cùng sẽ tác động đến đại dương.

8.3- Phù sa Mekong và sự tồn tại của vùng ven biển: Trong hàng ngàn năm, phù sa sông Mekong đã mở rộng không gian địa dư cho đồng bằng, tạo nên các vùng trù phú ở các cửa sông, nuôi dưỡng rừng ngập mặn, bảo vệ bờ biển… Những vùng đất ven biển này không chỉ có giá trị kinh tế, mà còn là lá chắn tự nhiên chống gió, bão; là nơi sinh sản của tôm cá; cũng là một vùng đệm giữa đất liền và biển, một vùng có khả năng rửa phèn và ngăn chặn nước mặn xâm nhập.

Một khi phù sa giảm do việc xây dựng các đập thủy điện, và việc di chuyển ở thượng nguồn nhằm vào mục tiêu phát triển của các quốc gia ở miền Bắc, làm cho lưu lượng nước bị cắt giảm khi chảy vào Tiến Giang và Hậu Giang. Hậu quả là:

  • Biển có điều kiện lấn sâu hơn;
  • Sạt lở tăng lên;
  • Hệ sinh thái ven biển bị suy thoái.
  • Công cuộc phát triển nông nghiệp và chăn nuôi giảm dần cả về diện tích lẫn năng suất.

Do đó, bảo vệ dòng sông Mekong cũng là bảo vệ hệ thống đường bờ biển Việt Nam.

8.4- Đồng bằng Sông Cửu Long và không gian chiến lược quốc gia: ĐBSCL không chỉ là vùng sản xuất nông nghiệp, mà nơi đây còn là một vùng chiến lược vì nhiều lý do.

An ninh lương thực: Trong nhiều thập niên, ĐBSCL là một trong những vùng sản xuất lúa gạo quan trọng trong cả nước. Nhưng trước tình trạng suy thoái nguồn nước như hiện tại, thiết nghĩ, trong tương lai, câu hỏi không chỉ là:

* Việt Nam sẽ còn sản xuất được bao nhiêu gạo?

* Có còn khả năng xuất cảng hàng 6, 7 triệu tấn gạo hàng năm hay không?

* Có duy trì được năng lực sản xuất hay không?

* Có bảo đảm nguồn nước hay không?

* Có bảo vệ được đất nông nghiệp hay không?

Tất cả vì an ninh lương thực bắt đầu từ an ninh nguồn nước.

Kinh tế biển: Một vùng đồng bằng khỏe mạnh sẽ kích thích và hỗ trợ thủy sản, phát triển các hải cảng biển, tăng trưởng giao thông và chuyển vận hàng hóa. Tất cả kích thích việc giao thương quốc tế và đẩy mạnh kinh tế biển. Ngược lại, một đồng bằng suy thoái sẽ tạo áp lực lên việc di dân, hạ tầng cơ sở bị thoái hóa, và sau cùng ảnh hưởng đến ngân sách quốc gia.

8.5- Không gian sinh tồn của cộng đồng: ĐBSCL là quê hương của trên dưới 20 triệu người. Một câu hỏi quan trọng cần đặt ra, nếu một vùng đất dần dần mất khả năng duy trì cuộc sống, trách nhiệm của quốc gia là gì?

Đây không chỉ là một câu hỏi về kinh tế, mà là một câu hỏi về công bằng xã hội, về đạo lý phát triển, và về trách nhiệm giữa các thế hệ tương lai.

8.6- Sức mạnh địa dư và trách nhiệm của quốc gia thượng nguồn: Có một đặc điểm của các dòng sông quốc tế là quốc gia ở thượng nguồn thường có lợi thế hơn cả. Họ có thể kiểm soát nguồn nước, xây dựng hồ chứa và đập thủy điện, điều chỉnh dòng chảy. Nhưng tất cả lợi thế địa lý này cần phải đi kèm với bổn phận và trách nhiệm.

Một quốc gia mạnh không chỉ là quốc gia có khả năng xây dựng những công trình lớn, mà còn là một quốc gia có trách nhiệm với những tác động môi trường do mình tạo ra. Chính vì lý do đó, trong các công trình xây dựng lớn, đều phải có bảng “nghiên cứu tác động môi trường” (environmental assessment)… trước khi dự án được phê duyệt. Trong trường hợp các dự án nằm trên dòng chính của sông, từ 11 công trình thủy điện bậc thềm, cho đến Đập Cẩm Hồng – Jinghong nằm sát biên giới phía Bắc Lào đều không có nghiên cứu trên.

9- Từ "an ninh quân sự" đến "an ninh toàn diện"

Trong thế kỷ XX, nhiều quốc gia tập trung vào an ninh biên giới, quân sự; nhưng thế kỷ XXI cho thấy những thách thức mới về sự biến đổi khí hậu, suy thoái môi trường, nạn khan hiếm nguồn nước sinh hoạt, và dịch bịnh toàn câu v.v…Một quốc gia có thể có lực lượng quân sự mạnh, nhưng vẫn dễ bị tổn thương nếu thiếu nguồn nước sạch, đất đai bị mất dần do đô thị hóa hay sa mạc hóa, từ đó mất luôn khả năng tự bảo đảm lương thực cung cấp cho người dân.

Do đó, an ninh quốc gia hiện đại, ngoài việc an ninh lãnh thổ, an ninh quốc phòng, an ninh biển đảo, còn có thêm vấn đề an ninh về môi trường, nguồn nước, khí hậu, năng lượng, và lương thực. Và chính sông Mekong nằm ở giao điểm của cả hai loại an ninh trên.

10- Một tầm nhìn mới cho Việt Nam

Qua tất cả những nhận xét ở phần trên, thiết nghĩ, Việt Nam cần chuyển từ suy nghĩ bảo vệ chủ quyền đất nước trước các mối đe dọa quân sự hay chiếm đóng từ “bên ngoài”, sang nhu cầu xây dựng một đất nước đủ những yếu tố bền vững để vượt qua các thay đổi của thế giới trong thế kỷ XXI nầy. Muốn được như vậy, Việt Nam cần đáp ứng những nhu cầu mà một quốc gia tiến bộ hiện tại cần có:

·         Xây dựng một tầng lớp khoa học kỹ thuật có năng lực nhằm bảo vệ tài nguyên quốc gia một khi có tranh chấp quốc tế.

·         Xây dựng một xã hội có trách nhiệm sinh thái, trong đó, người dân được hướng dẫn, được giáo dục, để từ đó, có ý thức rõ ràng về mọi hiểm họa môi trường đến từ thiên nhiên hay do con người. Mỗi người dân cần hiểu rằng việc bảo vệ môi trường không phải là một khẩu hiệu, mà là bảo vệ tương lai của chính mình và các thế hệ tương lai.

Sông Mekong và Biển Đông nhắc nhở chúng ta một điều quan trọng là một quốc gia không chỉ tồn tại bằng đường biên giới trên bản đồ, mà còn tùy thuộc vào dòng nước sông ngòi nuôi dưỡng sự sống, đất đai tạo ra miếng cơm, manh áo, biển cả mở ra tương laic ho dân tộc, và nhứt là những con người có trách nhiệm và khả năng bảo vệ tất cả những điều trên. Vì vậy:

An ninh nguồn nước chính là một phần của chủ quyền quốc gia.

Giữ lấy sông Mẹ Mekong hôm nay là góp phần giữ lấy Việt Nam ngày mai.

Và, tương lai của sông Mekong không chỉ được quyết định ở thượng nguồn dòng sông, mà còn được quyết định trong những lựa chọn của chính chúng ta hôm nay.

11- Vai trò của cộng đồng người Việt hải ngoại

Dưới đây là suy nghĩ riêng và chủ quan của người viết. Xin nêu ra một điểm đặc biệt cần nhấn mạnh về hiện trạng cùa dòng sông Mekong qua cuộc tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Cộng. Qua văn hóa và tình tự dân tộc của tộc Việt từ ngàn xưa, có thể nào biến cố trên trở thành “chất keo” kết dính người Việt trong và ngoài nước.

Cộng đồng người Việt ở nước ngoài có thể đóng góp một lực lượng chuyên gia khoa học kỹ thuật, có một mạng lưới đại học trải rộng khắp các bộ môn công nghệ, có kinh nghiệm quản trị môi trường, và có kết nối quốc tế chặt chẽ.

Còn cộng đồng người Việt trong nước đã được un đúc tinh thần chống ngoại xâm bất diệt hàng ngàn năm qua. Nếu cộng đồng người Việt trong nước, thoát khỏi những ràng buộc, kềm kẹp của chuyên chính vô sản, thì đã đến thời điểm cần nắm tay nhau để cứu một dòng sông Mekong của Đất Mẹ. Và đây, có thể trở thành một điểm gặp gỡ của trí tuệ Việt Nam toàn cầu.

12- Lời kết của người viết

Khi nói về Mekong, chúng ta không chỉ nói về một dòng nước chảy từ thượng nguồn xuống biển, chúng ta đang nói về một phần ký ức của dân tộc Việt Nam. Đó là dòng sông đã nuôi dưỡng những cánh đồng lúa, những vườn cây trái, những làng quê ven sông, những nền văn hóa sông nước đã tồn tại qua bao thế hệ. Dòng sông Mẹ Mekong không chỉ tạo nên đất đai, mà Mekong còn tạo nên một tộc Việt bất khuất.

Ngày hôm nay, dòng sông ấy đang đứng trước những thử thách chưa từng có qua những thay đổi trên thượng nguồn, sự suy giảm phù sa, sự xâm nhập mặn, sự sạt lở của đồng bằng và hiện tượng biến đổi khí hậu đang đặt ra một câu hỏi lớn:”Chúng ta sẽ để lại một Mekong như thế nào cho thế hệ mai sau?”


Đây không chỉ là câu hỏi của các nhà khoa học - Không chỉ là câu hỏi của các nhà quản lý – Mà đây là câu hỏi của lương tâm mỗi con người Việt Nam. Trong lịch sử, mỗi thế hệ đều có một trách nhiệm riêng: - Có thế hệ phải bảo vệ độc lập - Có thế hệ phải xây dựng đất nước - Và thế hệ hôm nay phải đối diện với một thách thức mới là bảo vệ nền tảng tự nhiên để dân tộc có thể tiếp tục tồn tại và phát triển.

Bảo vệ Mekong không có nghĩa là chống lại sự phát triển, ngược lại, đó là tìm kiếm một mô hình phát triển trưởng thành hơn, bền vững hơn. Đó là một mô hình trong đó khoa học được tôn trọng, thiên nhiên được lắng nghe, luật pháp quốc tế được áp dụng công bằng cho mọi quốc gia tự chủ, và con người được đặt ở vị trí trung tâm, đứng trên mọi áp lực.

Đối với vấn đề xuyên biên giới, đặc biệt là quan hệ giữa các quốc gia trong lưu vực Mekong, con đường phía trước cần sự tỉnh táo của tất cả mọi phía.

·         Cần bảo vệ quyền lợi chính đáng của Việt Nam.

·         Cần sử dụng những công cụ của luật pháp quốc tế.

·         Cần dựa trên bằng chứng khoa học.

Nhưng đồng thời, cũng cần một tầm nhìn rộng hơn về một dòng sông không thể được bảo vệ chỉ bằng sự đối đầu, mà một dòng sông chỉ có thể được bảo vệ bằng tri thức, trách nhiệm và sự hợp tác dựa trên sự công bằng và chia xẻ.

Việt Nam có một lợi thế quý giá là có một truyền thống lâu đời của sự gắn bó với đất đai, sông nước và quê hương. Vì vậy, thông điệp cuối cùng của người viết không chỉ dành cho các nhà hoạch định chính sách mà còn dành cho tất cả chúng ta:

Hãy nhìn sông Mẹ Mekong không chỉ bằng đôi mắt của hôm nay, mà còn bằng ánh mắt của những thế hệ Việt Nam chưa ra đời.


Bởi vì, nếu một dòng sông mất đi không chỉ là mất nước, một vùng đất mất đi không chỉ là mất đất. Tất cả là sự mất mát một phần ký ức, một phần văn hóa và một phần tương lai của dân tộc.

Người viết xin được kết thúc bằng một câu hỏi để lại cho thế hệ mai sau:”Khi con cháu chúng ta nhìn về thế kỷ XXI, chúng sẽ nói rằng chúng ta là thế hệ đã để mất dòng sông Mẹ Mekong, hay là thế hệ đã đứng lên bảo vệ dòng sông ấy?

Và câu trả lời sẽ nằm trong những hành động của chúng ta ngày hôm nay.

Mai Thanh Truyết

Con đường Việt Nam

Houston – Tháng 8 - 2026