Monday, November 2, 2026

 


Câu chuyện đi bộ buổi sáng – Phần II

Suy nghĩ Nhất nguyên và Nhị nguyên qua thời gian và tuổi tác

 


Đứng về phương diện triết học:

Nhất nguyên (Monism) là một khái niệm triết học và thần học cho rằng toàn bộ thế giới và thực tại xuất phát từ một bản chất, nguyên lý hoặc năng lượng duy nhất. Các khía cạnh chính của Nhất nguyên gồm:

* Nhất nguyên duy tâm: Cho rằng thực tại cơ bản là tinh thần, ý niệm tuyệt đối hoặc Tâm sáng tạo (ví dụ: tư tưởng của Hegel, một số trường phái triết học/tôn giáo).

* Nhất nguyên duy vật: Cho rằng bản chất của thế giới là vật chất; vật chất có trước và quyết định ý thức (ví dụ: quan điểm của Karl Marx, Friedrich Engels).


* Đối lập: Khác với thuyết nhị nguyên (cho rằng thế giới có 2 thực thể độc lập như tâm và vật) hoặc thuyết đa nguyên (nhiều thực thể).

 

Thuyết nhị nguyên (Dualism) là học thuyết triết học cho rằng thực tế được cấu thành từ hai thực thể hoặc hai nguyên lý độc lập, song song tồn tại và không thể giao hoán đổi lẫn nhau. Dưới đây là các ví dụ tiêu biểu về thuyết nhị nguyên trong triết học, khoa học và đời sống. Descartes cho rằng con người là sự kết hợp của hai bản thể hoàn toàn khác biệt:

- Thể xác (Res extensa): Thuộc về thế giới vật chất, chiếm không gian, có thể cân đo, nhìn thấy và hoạt động theo quy luật vật lý.

- Tâm trí/Tinh thần (Res cogitans): Thuộc về thế giới tư duy, không chiếm không gian vật lý, có khả năng suy nghĩ, cảm nhận và ý thức.


- Mối quan hệ: Hai thể xác và tâm trí này hoạt động song song và tương tác lẫn nhau (ví dụ: khi thể xác bị đau tay, tâm trí sẽ cảm thấy đau đớn).

 

Nhất nguyên và Nhị nguyên không chỉ là hai cách nhìn thế giới, mà còn có thể là hai cách con người trải nghiệm cuộc đời khi thời gian trôi qua và tuổi tác thay đổi. Ba yếu tố trên, thời gian, tuổi tác và sự chuyển biến trong cách nhìn cái Tôi làm cho suy nghĩ về nhất nguyên và nhị nguyên có nhiều thay đổi.

 

1- Khi còn trẻ ta thường nhìn cuộc đời bằng tư duy Nhị nguyên

Tuổi trẻ thường là thời kỳ của những phân biệt rõ ràng. Ta phân biệt thành công với thất bại, được với mất, đúng với sai, ta với người khác, hiện tại với tương lai. Ta thường nghĩ:

Tôi phải đạt được một điều gì đó - Tôi phải đi đến một nơi nào đó - Tôi phải trở thành một người nào đó - Tôi phải sử dụng thời gian để tạo ra kết quả.

Cách suy nghĩ này có giá trị thực tiễn rất lớn. Nếu không biết phân biệt mục tiêu và phương tiện, tốt và xấu, điều cần làm và điều cần tránh, con người khó có thể xây dựng cuộc sống. Nhưng suy nghĩ phân biệt cũng có thể khiến ta luôn cảm thấy mình đang thiếu một thứ gì đó.

Ta đi bộ để giảm cân, để cải thiện sức khỏe, để đạt đủ số bước mỗi ngày. Ta làm việc để thành công, tích lũy để an toàn, học hỏi để tiến bộ. Trong những trường hợp ấy, hoạt động hiện tại thường được đánh giá bằng kết quả mà nó sẽ đem lại trong tương lai. Từ đó, thời gian trở thành một nguồn lực phải được sử dụng; cuộc đời trở thành một hành trình hướng đến những mục tiêu.

Đó không phải là điều sai trái. Vấn đề chỉ xuất hiện khi ta không còn biết tận hưởng chính những gì mình đang làm.

2- Khi tuổi tác tăng lên ta bắt đầu nhìn thấy giá trị của chính cuộc hành trình

Khi đã trải qua nhiều năm tháng, con người có thể nhận ra một nghịch lý là ta đã dành phần lớn cuộc đời để chuẩn bị cho ngày mai, nhưng những gì thực sự cấu thành cuộc đời lại là những ngày hôm nay đã đi qua. Ta làm việc để có ngày nghỉ ngơi. Ta dành dụm để có ngày an nhàn. Ta mong chờ tương lai, rồi một ngày nhìn lại và nhận ra rằng những buổi sáng bình thường, những bữa cơm gia đình, những bước chân trong công viên cũng chính là cuộc đời mình. Lúc này, một sự chuyển biến trong nhận thức có thể xuất hiện.


Thay vì chỉ nghĩ và hỏi: “Tôi đi bộ để đạt được điều gì?” hay “Tôi đã làm được những gì trong đời?” Tới một tuổi nào đó, chợt nhìn lại thấy: “Được đi bộ sáng nay đã là một niềm vui.” Hay tự hòi: “Tôi đã sống những năm tháng ấy như thế nào?”

Đây là sự chuyển dịch từ việc chỉ coi trọng kết quả sang việc nhận ra giá trị nội tại của trải nghiệm. Thiết nghĩ, đây là một sự chuyển biến từ suy nghĩ thiên về phân biệt và mục tiêu sang một cái nhìn có tính thống nhất hơn. Nó có nét gần với cách diễn giải Nhất nguyên mà chúng ta đang bàn, dù không phải mọi người lớn tuổi đều trải qua chuyển biến này, và cũng không thể đồng nhất sự trưởng thành tâm lý với học thuyết Nhất nguyên.

3-    Nhìn thời gian theo Nhị nguyên và Nhất nguyên

Nhị nguyên: Quá khứ – Hiện tại – Tương lai

Quá khứ là điều đã qua. Hiện tại là điều đang làm. Tương lai là điều mong đợi. Ta nhìn cuộc đời như một chuỗi thời điểm phân biệt. Quá khứ có thể là thành tựu hoặc tiếc nuối; hiện tại là phương tiện; tương lai là nơi ta đặt hy vọng.

Nhất nguyên: Cuộc đời là một dòng trải nghiệm


Một dòng đời liên tục: Ký ức tức quá khứ, trải nghiệm hiện tại và những mong đợi cùng góp phần tạo nên con người ta hôm nay. Theo cách nhìn này, quá khứ không hoàn toàn biến mất, nó còn trong ký ức, thói quen và những điều ta đã học. Tương lai chưa đến, nhưng hiện diện trong dự định và hy vọng của ta hôm nay.

Có một điều cần nói rõ, đây là hai lăng kính để suy ngẫm, không phải định nghĩa kinh điển của Nhị nguyên và Nhất nguyên trong triết học. Nhất nguyên không nhất thiết phủ nhận sự khác biệt giữa quá khứ, hiện tại và tương lai.

Điều quan trọng là ta có thể nhận ra rằng ba thời điểm ấy không hoàn toàn tách rời trong kinh nghiệm sống của con người. Anh hôm nay chính là người đã được hình thành bởi những năm tháng trước đây, đồng thời vẫn đang sống và lựa chọn trong hiện tại.

4- Tuổi già: Không phải chỉ còn sống trong hiện tại, mà là biết đặt quá khứ vào đúng vị trí

Khi tuổi tác tăng lên, không nhất thiết ta phải quên quá khứ, từ bỏ tương lai hay ngừng đặt mục tiêu. Những ký ức về gia đình, quê hương, công việc và những dự án đã theo đuổi hàng chục năm vẫn có giá trị sâu sắc.

Tôi nghĩ đến những công trình môi trường tôi từng theo đuổi suốt hơn 50 năm qua, những thử nghiệm thanh lọc nước, cũng như mong muốn xây dựng một trung tâm nghiên cứu để tiếp tục đóng góp cho giáo dục và môi trường Việt Nam. Những việc ấy thuộc về quá khứ, hiện tại hay tương lai? Thật ra, chúng thuộc về cả ba.

  • Quá khứ: Những năm tháng suy nghĩ, thử nghiệm và tích lũy kinh nghiệm.
  • Hiện tại: Tôi vẫn suy ngẫm, đánh giá và tìm cách tiếp tục những điều còn dang dở.
  • Tương lai: Hy vọng những ý tưởng có thể được người khác tiếp nối và tạo ra ích lợi lâu dài.

Một đời người không nhất thiết phải hoàn tất mọi công việc mới có ý nghĩa. Đôi khi, giá trị còn nằm ở những điều ta khởi đầu, những người ta truyền cảm hứng và những hạt giống ta để lại cho thế hệ sau.

Vì vậy, tôi không xem tuổi già như một giai đoạn phải từ bỏ Nhị nguyên để đạt tới Nhất nguyên. Đúng hơn, đó có thể là thời kỳ ta học cách sử dụng tư duy phân biệt khi cần thiết, nhưng không để những phân biệt ấy chi phối toàn bộ cách mình nhìn cuộc đời. Ta vẫn biết thành công khác thất bại, vẫn lập kế hoạch và phân định trách nhiệm. Nhưng ta cũng có thể bình thản hơn trước những điều không hoàn toàn theo ý mình.

Trưởng thành không nhất thiết là thôi phân biệt, có thể là biết khi nào cần phân biệt, và khi nào không cần bám chặt vào sự phân biệt ấy.

5- Trở lại với tôi, nhà tôi và những buổi đi bộ

Tôi đi bộ vì đi bộ. Nhà tôi thích công viên này hơn công viên kia. Khi còn nhìn từ góc độ so sánh, tôi có thể nghĩ rằng vợ mình chưa cảm nhận được niềm vui giản dị mà tôi tìm thấy. Nhưng nếu nhìn rộng hơn, tôi có thể nhận ra rằng mỗi người đang có một cánh cửa khác nhau để bước vào cùng một trải nghiệm.

Nhà tôi chọn công viên mình yêu thích. Tôi tận hưởng những bước chân ở bất cứ công viên nào. Cả hai cùng ra ngoài, cùng vận động, cùng chia sẻ buổi sáng. Ở đây, có một nghịch lý đẹp: hai người không cần suy nghĩ giống nhau để cùng sống hài hòa; sự thống nhất trong đời sống không đòi hỏi mọi khác biệt phải biến mất.

Đó là một ý tưởng mà ta có thể liên kết với tinh thần Nhất nguyên, nhưng vẫn tôn trọng sự đa dạng thực sự giữa hai con người.

6- Một suy gẫm cuối cùng

Xin đặt cạnh nhau ba cách diễn đạt:

  • Tuổi trẻ: Tôi muốn làm chủ thời gian để tạo dựng cuộc đời.
  • Sự trưởng thành: Tôi hiểu thời gian đã góp phần tạo nên con người tôi hôm nay.
  • Sự an nhiên: Tôi không thể giữ lại thời gian, nhưng có thể sống trọn vẹn hơn trong thời gian mình đang có.


Ba điều này không nhất thiết loại trừ nhau. Chúng có thể cùng hiện diện trong một con người ở mọi lứa tuổi. Sau những năm tháng đã sống, tôi thường tự hỏi mình đang dần chuyển từ mong muốn thay đổi thế giới theo những điều mình tin là đúng, sang mong muốn hiểu thế giới sâu sắc hơn và chấp nhận những khác biệt trong đó, hay tôi vẫn muốn tiếp tục thay đổi thế giới, nhưng với một tâm thế khác trước?

Vẫn chưa có câu trả lời hiện nay!

Thân mời xem tiếp Phần III - Từ Nhất nguyên đến Chánh niệm - Một bước chân, một đời người

 

Mai Thanh Truyết

Đường về Chân tâm

Houston – Thu 2026

 

 

Sunday, November 1, 2026

 Câu chuyện đi bộ buổi sáng – Phần I


Cách đây hơn một năm, người viết có viết về câu chuyện những buổi sáng đi bộ cùng Wabi. Đó không chỉ là chuyện dắt chó đi dạo, mà còn là một suy ngẫm về tuổi tác, thiên nhiên và ý nghĩa của đời sống. Sau hơn năm năm đi bộ mỗi sáng cùng Wabi tại những công viên gần nhà ở Houston. Có nhiều công viên lớn nhỏ trong vòng khoảng 5 dặm, những con đường đi bộ dài hơn một dặm, những hồ nước và những triền dốc cao. Anh thích giọt sương còn đọng trên cỏ, ánh nắng ban mai dịu nhẹ trước khi cái nóng Houston tràn đến. Đó là các công viên:

·         Kế bên Home Depot, Beltway 8;

·         Đường Harwin;

·         Góc đường Alief/Dairy Ashford;

·         Đường West Houston;

·         Đường Eldridge.

Và kết luận của bài viết: “Phải chăng tôi đang ban một ân huệ cho Wabi, hay chính Wabi đang đóng vai một vị Bồ Tát, giúp tôi duy trì thói quen đi bộ, gần gũi với thiên nhiên và sống điều độ mỗi ngày?”


Câu chuyện ấy đã đưa đến một ý tưởng sâu sắc hơn là con người không phải là trung tâm duy nhất của sự sống. Wabi cần tôi cho ăn, chăm sóc và bảo vệ. Nhưng Wabi cũng đem đến cho tôi niềm vui, sự vận động, tình cảm không vụ lợi và một lý do để bước ra ngoài mỗi buổi sáng. Hai bên cùng cho và cùng nhận, dù không bên nào cần phải gọi tên điều ấy.

Và có lẽ, trong những buổi sáng bình dị đó, tôi đã thực hành một triết lý sống rất gần với tinh thần nhân bản, biết trân trọng sự sống, biết sống chậm lại và biết rằng chúng ta không hoàn toàn sống cho riêng mình.

Nhưng, sáng nay, một vài suy nghĩ đến sau một buổi đi bộ với “phân nửa của tôi”, người mà tôi đã thành công trong việc thuyết phục… đi bộ suốt ba tháng qua. Và tôi đã thấy được "tâm cảnh đi bộ" của nhà tôi khác. Tôi "đi bộ" chỉ vì ...đi bộ. Còn nhà tôi "đi bộ" là thấy… em thích đi bộ ở park nầy, không thích park kia. v.v.

Cả hai cùng đi bộ chung trong mỗi công viên hàng ngày, mà tâm cảnh khi đi bộ lại khác nhau.

 

 

1-    Tôi đi bộ vì đi bộ


Khi tôi đi bộ, không nhất thiết phải đến một nơi nào, cũng không cần công viên nào đẹp hơn công viên nào.Tôi đi để bước đi. Để vận động. Để cảm nhận sương mai trên cỏ, ánh nắng đầu ngày, không khí trong lành và sự chuyển động của thiên nhiên chung quanh mình. Có thể nói, niềm vui của tôi nằm ngay trong hành động đi bộ, chứ không nằm ở nơi tôi đến.

Tôi không nhất thiết phải tìm kiếm một điều gì khác ngoài chính trải nghiệm đang diễn ra. Đó là một cách sống khá gần với tinh thần chánh niệm, sống trong hiện tại, cảm nhận những gì đang có, thay vì luôn hướng đến một kết quả nào đó.

2- Nhà tôi đi bộ để tìm một nơi mình thích

Còn nhà tôi thì có vẻ khác. Công viên này đẹp hơn, công viên kia không thích bằng; cảnh quan này hợp ý, cảnh quan kia không hấp dẫn. Đối với nhà tôi, địa điểm là một phần quan trọng của niềm vui đi bộ. Điều đó không có gì sai cả. Vì, mỗi người có một cách cảm nhận cuộc sống riêng. Có người thích quá trình đi bộ, có người cần một khung cảnh nào đó dễ chịu để tận hưởng quá trình ấy.

Nếu tôi tìm thấy niềm vui trong chính việc đi bộ, thì nhà tôi có thể tìm thấy niềm vui trong việc đi bộ ở một nơi mình yêu thích. Cùng một con đường, nhưng hai trải nghiệm nội tâm khác nhau.

3- Vậy ai có cách đi bộ đúng hơn?

Có một khác biệt lớn trong đời sống con người hàng ngày:

  • Có người hạnh phúc vì được sống trong từng khoảnh khắc sống;
  • Có người hạnh phúc khi hoàn cảnh chung quanh đáp ứng được sở thích của mình;
  • Có người chú trọng hành trình; có người chú trọng những gì làm cho hành trình trở nên đáng thích thú.

 

Điều đáng quý là sau ba tháng, nhà tôi đã cùng tôi bước ra khỏi nhà mỗi buổi sáng. Có thể tôi chưa chia xẻ được hoàn toàn tâm cảnh của mình với nhà tôi, nhưng chúng tôi đã có thêm một hoạt động chung là … đi bộ buổi sáng.

Và biết đâu, qua thời gian, nhà tôi sẽ dần cảm nhận được niềm vui giản dị của việc đi bộ, không cần công viên nào phải đặc biệt hơn công viên nào, không cần công viên nào “được định danh” là … dành cho người nghèo, người trung lưu, hay dành cho… người giàu! Ngược lại, về phía tôi, cũng có thể khám phá những vẻ đẹp mà trước đây mình không chú ý đến nhờ sở thích riêng biệt của nhà tôi.

Sống chung không nhất thiết phải có cùng một tâm cảnh; đôi khi chỉ cần biết chia xẻ con đường với nhau. Đây là điều tôi cảm nhận sáng nay.

Liệu hạnh phúc gia đình có phải là biết tận hưởng điều mình đang làm, hay chúng ta thường cần những điều kiện phù hợp mới có thể tận hưởng nó? Hỏi tức là đã có câu trả lời rồi…

Đi bộ trong cung cách “nhất nguyên và nhị nguyên”

Câu chuyện đi bộ của chúng tôi bỗng trở thành một ví dụ rất thú vị để bàn về Nhị nguyên và Nhất nguyên. Một chuyện đời thường, nhưng nếu nhìn sâu hơn, ta có thể thấy trong đó cả một vấn đề triết học về cách con người nhận thức và trải nghiệm đời sống.

1- Nhị nguyên - Tôi và việc đi bộ là hai thứ khác nhau

Theo cách nhìn nhị nguyên trong ví dụ này, ta có thể phân biệt chủ thể với đối tượng, người đi bộ với hành động đi bộ, và con người với môi trường xung quanh.

Tôi nói: “Tôi đi bộ chỉ vì đi bộ.”

Nhà tôi lại nói: “Em thích đi bộ ở công viên này, không thích công viên kia.”

 

Chúng ta có thể hình dung hai cách trải nghiệm như sau:


Tôi - Người đi bộ và hành động đi bộ: Tôi chủ động thực hiện việc đi bộ. Địa điểm có thể thay đổi, nhưng mục đích căn bản vẫn giữ nguyên là việc đi bộ. Tôi không cần một công viên đặc biệt mới có thể tận hưởng việc đi bộ.

Nhà tôi - Người đi bộ và khung cảnh: Niềm vui đi bộ gắn liền với sự tương tác giữa người đi bộ và môi trường. Công viên, cây cối, hồ nước hay lối đi góp phần quyết định trải nghiệm “đi bộ” có dễ chịu hay không. Ở đây, sự phân biệt giữa người đi bộ và cảnh quan giúp ta hiểu vì sao hai người có những sở thích khác nhau.

Tuy nhiên, cần nói chính xác rằng phân biệt chủ thể và đối tượng trong một trải nghiệm chưa đồng nghĩa với việc chấp nhận toàn bộ học thuyết nhị nguyên trong triết học. Đây chỉ là một cách áp dụng khái niệm để soi sáng câu chuyện của tôi mà thôi.

2- Nhất nguyên - Người đi bộ, bước chân và công viên thuộc cùng một trải nghiệm

Nếu nhìn theo hướng nhất nguyên, ta có thể thử vượt qua sự phân chia cứng nhắc giữa người đi bộ, hành động đi bộ và môi trường xung quanh. Tôi bước đi. Bàn chân chạm đất. Gió lướt qua người. Ánh nắng chiếu lên con đường. Hơi thở hòa cùng nhịp chân. Chấm hết!

Lúc ấy, tôi không nhất thiết phải suy nghĩ: “Tôi là người đang đi bộ, còn thiên nhiên là đối tượng để tôi ngắm nhìn.” Tôi chỉ đơn giản là … đang đi bộ.


Trong khoảnh khắc ấy, người đi bộ và thế giới chung quanh không còn được cảm nhận như những phần hoàn toàn tách biệt. Chúng cùng tạo nên một kinh nghiệm sống thống nhất. Có thể diễn đạt bằng một câu: Tôi không chỉ đi bộ giữa thiên nhiên; tôi đang sống trong thiên nhiên, và thiên nhiên cũng đang hiện diện trong từng bước chân của tôi.

Đây là cách diễn giải mang tinh thần nhất nguyên. Nó cũng có nét gần gũi với chánh niệm trong Phật giáo, với một số quan niệm về sự thống nhất giữa con người và tự nhiên trong triết học phương Đông.

3- Vậy tôi thuộc Nhất nguyên, còn nhà tôi thuộc Nhị nguyên?

Tôi nghĩ chưa nên kết luận như vậy. Nhưng nếu dùng hai khái niệm ấy như hai lăng kính để suy ngẫm, ta có thể thấy một sự khác biệt đáng chú ý. Cách nhìn thứ nhất khi thấy việc đi bộ để đạt được một trải nghiệm mong muốn. Cách nhìn thứ hai là nhìn việc đi bộ như một trải nghiệm trọn vẹn tự thân.


Tôi có thể đi ở nhiều công viên khác nhau mà vẫn tìm thấy niềm vui trong việc bước đi. Địa điểm là một phần của trải nghiệm, nhưng không phải điều kiện duy nhất quyết định niềm vui. Còn nhà tôi thích công viên này hơn công viên kia. Niềm vui được hình thành qua sự lựa chọn, so sánh và đánh giá những điều kiện bên ngoài. Nhưng điều đáng lưu ý là nhà tôi vẫn có thể sống trọn vẹn trong hiện tại tại công viên mình yêu thích. Và tôi cũng có thể thích một công viên nào đó hơn những nơi khác.

Vì vậy, khác biệt giữa hai người không nhất thiết là khác biệt giữa hai học thuyết triết học. Đúng hơn, đó là khác biệt về nơi mỗi người đặt trọng tâm của niềm vui.

4- Một bước sâu kín hơn khi không còn hỏi “Tôi được gì từ việc đi bộ?”

Nếu tôi đi bộ chỉ vì đi bộ, tôi không nhất thiết đòi hỏi việc đi bộ phải đem lại một thành quả nào khác. Tôi không cần mỗi buổi sáng phải khám phá một công viên mới, nhìn thấy một cảnh đẹp mới hay đạt được một mục tiêu mới. Tôi cứ tiếp tục bước đi. Đi bộ vẫn có thể giúp tôi giữ gìn sức khỏe, duy trì kỷ luật và tận hưởng thiên nhiên. Nhưng trong chính khoảnh khắc đi bộ, tôi không nhất thiết phải liên tục hướng tâm trí đến những kết quả ấy.

Có thể nghĩ đến điều này với một ý tưởng trong triết học và thực hành thiền, một khi thôi đặt mình đối lập với mọi thứ chung quanh, con người có thể cảm nhận sự sống như một dòng trải nghiệm liên tục, thay vì một chuỗi hành động nhằm đạt được những kết quả riêng biệt.


Và ở đây, tôi nhớ đến câu chuyện về Wabi. Ban đầu, tôi đưa Wabi đi dạo. Nhưng chính Wabi cũng giúp tôi duy trì thói quen đi bộ mỗi ngày. Ai đang giúp ai? Ai đang ban ân huệ cho ai? Khi nhìn từ một phía, tôi chăm sóc Wabi. Khi nhìn từ phía khác, Wabi góp phần chăm sóc đời sống của tôi. Hai bên không còn đơn giản là người cho và kẻ nhận.

Điều đó không chứng minh Nhất nguyên theo nghĩa triết học chặt chẽ, nhưng mở ra một cảm nhận đẹp về sự tương thuộc giữa các sinh vật.

5- Kết luận chủ quan

Tôi xin tóm lại bằng ba câu:

  • Nhị nguyên: Tôi đi bộ và công viên là nơi tôi đi bộ.
  • Nhất nguyên, theo cách diễn giải trải nghiệm: Tôi, bước chân và thiên nhiên cùng tạo nên một kinh nghiệm sống thống nhất.
  • Một cách nhìn thực tế: Tôi và nhà tôi không nhất thiết phải có cùng tâm cảnh mới có thể cùng đi bộ và cùng hạnh phúc.


Khi tôi nói “tôi đi bộ chỉ vì đi bộ”, tôi cảm thấy mình đang chủ động làm một việc mình thích, nhưng cũng có những lúc tôi quên cả ý nghĩ “tôi đang đi bộ”, chỉ còn bước chân, hơi thở và thiên nhiên?

Mời xem tiếp Phần II - Suy nghĩ Nhất nguyên và Nhị nguyên qua thời gian và tuổi tác

 

Mai Thanh Truyết

Đường về Chân tâm

Houston – Thu 2026

 

 

Friday, October 30, 2026

 Bốn mùa của thiên nhiên và nỗi niềm của tuổi già




Nhìn lại bốn mùa, ta hiểu rằng thiên nhiên không bao giờ giữ mãi một trạng thái. Cây không nở hoa suốt năm, ánh sáng không duy trì mãi một cường độ, và mỗi mùa đều có một ý nghĩa riêng trong vòng quay của sự sống. Hoa cần mùa xuân để nở, quả cần mùa hạ để chín, lá cần mùa thu để lìa cành, và đất cần mùa đông để nghỉ ngơi. Không mùa nào tồn tại mãi, cũng không mùa nào hoàn toàn vô ích.

Đời người cũng vậy. Có những năm tháng ta sống trong niềm vui, hy vọng và khát vọng; có những lúc phải đối diện với thất vọng, mất mát và cô đơn. Có khi ta muốn bước ra giữa cuộc đời, gặp gỡ mọi người, chia sẻ những điều mình tâm đắc; nhưng cũng có lúc chỉ muốn lặng im, tìm một góc bình yên để nhìn lại chính mình. Hiểu được những đổi thay ấy, ta sẽ bớt khắt khe với bản thân, bớt vội vàng phán xét người khác, và học cách đón nhận cuộc đời với một tâm hồn bao dung hơn.

Nhưng tuổi già có một mùa đông rất riêng, mà không phải ai cũng hiểu được.


Cái nặng trĩu của tuổi già không chỉ nằm ở những bước chân chậm lại, sức khỏe hao mòn hay những giới hạn của thân thể. Nó còn nằm trong những điều không thể lấy lại, những người không còn gặp được, những lời chưa kịp nói, những nơi chốn chỉ còn sống trong ký ức, và những ước mong mà thời gian đã âm thầm khép lại.

Khi còn trẻ, ta nhìn về phía trước và tự nhủ rằng một ngày nào đó mình sẽ trở về. Trở về quê cũ, đi lại con đường xưa, thăm lại những người thân, đứng trước mái nhà đã từng che chở tuổi thơ, thắp nén hương nơi phần mộ ông bà, cha mẹ. Ta cứ nghĩ rằng quê hương vẫn ở đó, rằng những gì thân thuộc vẫn chờ ta, rằng chỉ cần có thời gian và cơ hội, ta sẽ lại được trở về.

Nhưng rồi năm tháng trôi qua. Người thân lần lượt khuất bóng. Những mái nhà cũ có thể đã đổi chủ, những con đường xưa có thể không còn được nhận ra, và những người từng gọi tên ta bằng tất cả tình thương có thể đã nằm yên dưới lòng đất. Đến một lúc nào đó, ta chợt hiểu rằng cố quận vẫn còn trên bản đồ, nhưng quê hương của một đời người có thể đã không còn nguyên vẹn trong thực tại.




Và có lẽ, điều buồn nhất của tuổi già là khi ta không còn mong ngày trở về cố quận nữa.

Không hẳn vì đã hết thương quê hương, cũng không phải vì những kỷ niệm cũ đã phai mờ. Trái lại, có khi chính vì yêu quá sâu và quá lâu, nhớ quá nhiều, ta càng hiểu rằng có những cuộc trở về không thể đưa ta trở lại những ngày tháng cũ. Ta có thể trở về một địa danh, nhưng không thể trở về với tuổi thơ, có thể đứng trước một ngôi nhà, nhưng không thể gặp lại những người từng làm cho ngôi nhà ấy trở thành tổ ấm. Có thể thắp một nén hương, nhưng không thể nghe lại tiếng nói thân thương đã theo ta suốt một đời.

Cái nặng trĩu ấy là nỗi buồn của một người còn nhớ, nhưng không còn chờ đợi; còn thương, nhưng không còn hy vọng được gặp lại như xưa. Đó là lúc thời gian không chỉ lấy đi những gì ta yêu quý, mà còn âm thầm thay đổi cả cách ta nhìn về tương lai.

Thế nhưng, không mong trở về không có nghĩa là đoạn tuyệt với quê hương. Có những cuộc trở về không cần một chuyến bay, một con đường hay một ngày hẹn trước. Quê cũ vẫn có thể hiện diện trong một mùi hương, một câu ca dao, một món ăn thuở nhỏ, một giọng nói thân quen, hay trong ký ức về bàn tay cha mẹ từng dắt ta qua những ngày thơ dại. Có những người đã đi xa quê hương nửa vòng trái đất, nhưng quê hương vẫn ở lại trong cách họ yêu thương, trong những điều họ gìn giữ và trong những việc họ làm cho người khác.

Ở tuổi già, có lẽ ta không cần ép mình phải vui, cũng không cần tô hồng những mất mát bằng những lời an ủi dễ dàng. Buồn thì cứ nhận mình buồn. Nhớ thì cứ cho phép mình nhớ. Có những nỗi buồn không cần phải chữa lành hoàn toàn; chúng chỉ cần được thấu hiểu, được đặt xuống nhẹ nhàng hơn, để không còn đè nặng lên từng ngày sống.

Và nếu bốn mùa của thiên nhiên chỉ dạy ta điều gì, thì đó là bài học về sự chấp nhận, chấp nhận thời gian trôi qua và sẽ không bao giờ trở lại. Mùa xuân không thể ở mãi, nhưng những gì mùa xuân đã gieo vẫn có thể tiếp tục lớn lên. Những người thân yêu không còn bên cạnh, nhưng tình thương họ để lại vẫn có thể hướng dẫn cách ta sống. Những ước mơ không còn thực hiện được, nhưng ý nghĩa của chúng vẫn có thể được trao lại cho thế hệ sau.

Một đời người đi qua biết bao mùa xuân, hạ, thu, đông. Nhưng, một khi đến cuối cuộc  hành trình, điều đáng quý không phải là cố níu giữ mùa xuân đã xa, mà là biết trân trọng chút ánh sáng còn sót lại trong mùa đông của chính mình. Đó chính là nét tinh túy của chính mình!

Ta hãy chăm sóc khu vườn bình an trong lòng như giữ gìn những ký ức đẹp mà không để chúng trói buộc hiện tại; thương nhớ người đã khuất mà vẫn mở lòng với người đang sống; chấp nhận những điều không thể đổi thay mà không đánh mất khả năng làm những việc còn có ý nghĩa trong hiện tại.


Để rồi, sau cùng, tuổi già không chỉ là mùa của những điều đã mất, mà còn là mùa ta hiểu sâu kín hơn giá trị của những điều đã từng hiện hữu. Và dù không còn mong trở về cố quận, ta vẫn có thể sống những ngày còn lại sao cho xứng đáng với quê hương đã nuôi dưỡng mình, với những người đã đi qua đời mình, và với chính cuộc đời mà mình đã hơn một lần được sống.

Có lẽ, đó cũng là cách bình thản nhất để khép lại một cuộc hành trình dài, không cần oán trách thời gian, không đòi hỏi cuộc đời trả lại những gì mình đã mất, chỉ lặng lẽ mang theo lòng biết ơn, một chút thương nhớ, và sự thanh thản của người đã hiểu rằng mọi mùa đều có lúc kết thúc, nhưng tình thương chân thành thì không nhất thiết phải kết thúc cùng một mùa.

Và, điều đáng quý nhất không phải là ta đã đi qua bao nhiêu mùa đẹp, mà là ta đã học được cách sống tử tế với chính mình và với những người cùng ta đi qua các mùa trong cuộc đời.

Mai Thanh Truyết

Houston – Thu 2026

 

Tuesday, October 27, 2026

 

Chương trình Chuyện Đời Thường

Radio VVA Dallas - Ngày 10.27.2026


Phần I: Sống lâu bắt đầu từ những bữa ăn thường ngày

CHỊ LIÊN BÍCH: Chào mừng quý thính giả trở lại với chương trình Chuyện Đời Thường

Hôm nay, chúng ta cùng tìm hiểu vể “TUỔI THỌ” cùng với Gs. Mai Thanh Truyết

và chị Nguyễn Nguyên Thủy.

Chúng tôi - MAI THANH TRUYẾT và NGUYÊN THỦY, xin chào cô Liên Bích, cùng quý thính giả.

CHỊ LIÊN BÍCH: Thưa quý vị, ai cũng mong sống lâu,

nhưng có lẽ điều chúng ta mong hơn nữa là sống lâu

mà vẫn khỏe, vẫn vui, vẫn tự lo được cho mình.

Có bao giờ chúng ta tự hỏi: “Tại sao tuổi thọ trung bình của người Nhật cao?

Nhờ di truyền, nhờ ăn uống, hay còn do điều gì khác?

 

NGUYÊN THỦY: Cám ơn câu hỏi của chị Liên Bích. Thưa quý vị, đây là một thống kê năm 2025 của OECD, viết tắt của “The organization for Economic Co-operation and Development,

Đó là một Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế. Nhiệm vụ và công việc chính của tổ chức là tập trung vào việc thúc đẩy các chính sách nhằm cải thiện đời sống kinh tế và xã hội của người dân trên toàn thế giới.

OEDC gồm có 38 thành viên như Úc, Canada, Pháp, Đức, Ý, Do Thái, Nhật Bản, Nam Hàn, Mexico …. và dĩ nhiên là Hoa Kỳ cũng có tên trong danh sách này. Điểm đáng chú ý là chỉ có hai thành viên từ Á châu là Nhật Bản và Nam Hàn. Hiện đang có 8 quốc gia đang xin gia nhập và Thái Lan là một trong những quốc gia đang chờ được chấp thuận.

CHỊ LIÊN BÍCH: Vâng, cám ơn Nguyên Thủy giới thiệu về OEDC. Xin mời anh Mai Thanh Truyết cho biết thống kê của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế về đề tài hôm nay là: “Tại sao tuổi thọ trung bình của người Nhật cao?

MAI THANH TRUYẾT: Thưa cô Liên Bích và quý vị, Khi nói đến tuổi thọ của người Nhật, chúng ta thường tự hỏi: Tại sao người Nhật sống lâu như vậy? Có phải do gene? Có phải do thức ăn? Hay do hệ thống y tế? Tất cả đều có phần đóng góp, nhưng có một điều rất đáng chú ý: cách người Nhật ăn uống và duy trì những thói quen ấy trong suốt cuộc đời. Tuổi thọ trung bình của người Nhật là 84 tuổi, cao hơn 3 năm tuổi thọ, trên mức trung bình của các nước trong Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế.

Đây là so sánh với các nước trong tổ chức này, không phải mức trung bình toàn thế giới. Thành quả này có nhiều nguyên do: dinh dưỡng, vận động, điều kiện sống, chăm sóc y tế và yếu tố di truyền. Và để trả lời của đề tài hôm nay, tuổi thọ của người Nhật không phải chỉ là “do cách ăn uống” hay “do gene”, mà do thực phẩm. Hôm nay, chúng ta chú trọng đến một điều gần gũi nhất là: Bữa ăn hằng ngày.

 

CHỊ LIÊN BÍCH: Như vậy thì bí quyết có thể nằm ngay trong nhà bếp của chúng ta phải không ạ?

NGUYÊN THỦY: Thưa chị Liên Bích và quý thính giả, nhà bếp của chúng ta đóng một vai trò đáng kể. Khi nghe nói người Nhật sống lâu, nhiều người liền hỏi: “Họ ăn món gì vậy?” Có lẽ mình nên hỏi thêm: “Họ ăn bao nhiêu, ăn ra sao, và giữ cách thức này được bao lâu?” Ông bà mình dặn: “Ăn uống có chừng mực.” Lời khuyên ấy giản dị, nhưng trước một bàn đầy món ngon, kềm hãm được bao tử của mình cũng cần chút bản lãnh, phải không thưa quý vị?

 

CHỊ LIÊN BÍCH: Vậy thì bữa cơm Nhật có gì đáng cho chúng ta học?

MAI THANH TRUYẾT: Một bữa ăn truyền thống thường có cơm, canh, món chánh và những món phụ. Người Nhật có cách sắp các bữa ăn gọi là “một canh, ba món”, cùng với cơm. Chẳng hạn cá, rau và tàu hũ hoặc nấm. Điểm đáng chú ý là nhiều loại thực phẩm, mỗi thứ một lượng vừa phải. Cá và đậu nành cung cấp chất đạm; rau, nấm, củ quả góp thêm chất xơ

và các dưỡng chất khác. Văn hóa ẩm thực truyền thống ấy gọi là Washoku, được UNESCO

ghi danh năm 2013, với sự coi trọng thiên nhiên, mùa màng và những tập quán chung quanh bữa ăn. Tuy nhiên, danh hiệu văn hóa không có nghĩa mọi món Nhật đều tốt cho sức khỏe.

Người Nhật có một số thói quen khá đặc biệt là ăn vừa phải, ít béo phì, ít bệnh tim mạch. Ngoài ra, việc đi bộ và vận động hằng ngày khá phổ biến trong cộng đồng Nhật. Một nghiên cứu rất lớn trên hơn 62,000 người Nhật cho thấy những người không hút thuốc, uống rượu vừa phải, đi bộ trên 1 giờ/ngày, ngủ tương đối đủ, ăn rau xanh thường xuyên và giữ chỉ số khối cơ thể – BMI (Body Mass Index) bình thường, có tuổi thọ cao hơn đáng kể.

 

CHỊ LIÊN BÍCH: Điều đáng học là phối hợp giứa 3 bữa ăn, sự điều độ và chừng mực. Nguyên Thủy thấy mâm cơm của người Nhật có gần với mâm cơm Việt không?

NGUYÊN THỦY: Gần lắm, thưa chị. Mâm cơm chúng ta cũng có cá, rau, canh, tàu hũ. Đâu cần đổi quốc tịch cho nhà bếp của mình phải không quý vị? Vấn đề giữ chừng mực và điều độ như phong cách ẩm thực của người Nhật là lấy ít trước, ăn chậm lại, cần hỏi hỏi cái bao tử của chúng ta trước khi hỏi nồi cơm. Bứa ăn của người Nhật có rất nhiều loại thực phẩm, nhưng mỗi thứ một ít. Đây là điều rất đáng suy nghĩ. Bởi vì khi nói về dinh dưỡng, chúng ta thường hỏi: “Thực phẩm này có tốt không?” Nhưng có lẽ phải hỏi thêm một câu nữa: “Tôi ăn bao nhiêu?”.

 

CHỊ LIÊN BÍCH: Đúng vậy, Điều độ bắt đầu từ những lựa chọn nhỏ; giữ lâu ngày, nó trở thành nếp sống.” Xin anh Mai Thanh Truyết cho biết vai trò giữa các thực phẩm dinh dưỡng.

MAI THANH TRUYẾT: Cá cung cấp chất đạm; một số cá béo như cá hồi, cá thu, cá mòi còn cung cấp omega-3. Đậu nành cũng là nguồn đạm quan trọng, được dùng dưới nhiều hình thức: tàu hũ, đậu luộc, tương miso và đậu lên men natto.Nhờ vậy, nguồn đạm khá đa dạng, không chỉ trông cậy vào thịt đỏ. Một nghiên cứu theo dõi gần tám chục ngàn người Nhật nhận thấy những người ăn phù hợp hơn với hướng dẫn dinh dưỡng có nguy cơ tử vong thấp hơn trong thời gian theo dõi.

Đây là mối liên hệ được ghi nhận, chưa phải bằng chứng rằng một món riêng lẻ làm người ta sống lâu. Nhật có hệ thống y tế phát triển, khả năng tiếp cận chăm sóc y tế tốt và đặc biệt là việc phát hiện, điều trị các yếu tố nguy cơ như cao huyết áp, tiểu đường, bệnh tim mạch rất tiến bộ. Một nghiên cứu Nhật gần đây cho thấy ở tuổi 65, sự kết hợp của cao huyết áp nặng, béo phì, hút thuốc và tiểu đường có thể làm mất khoảng 10 năm sống khỏe mạnh so với người không có những yếu tố nguy cơ này.

Yếu tố Gene có ảnh hưởng, nhưng chưa có bằng chứng khoa học nào chứng minh cho thấy người Nhật sống lâu vì họ “có gene trường thọ”. Nhưng có một lý do rất thuyết phục là, Nhật Bản không phải lúc nào cũng đứng đầu về tuổi thọ. Có thể nói, Gene tạo một phần nền tảng trong di truyền. Thực phẩm có ảnh hưởng mạnh đến chuyển hóa và bệnh tim mạch. Văn hóa và lối sống làm định hình và ảnh hưởng hằng ngày, và theo nhau suốt cả đời. Trong lúc đó, Y tế và Môi trường xã hội giúp phòng bệnh và kéo dài tuổi thọ. Hay nói một cách khác là người Nhật không sống lâu chỉ vì họ “có gene tốt”, mà phần lớn vì một nền văn hóa sống đã tạo ra rất nhiều hành vi có lợi cho sức khỏe trong suốt cuộc đời.

 

CHỊ LIÊN BÍCH: Vậy có nghĩa là không có một món ăn gọi là “Món ăn trường thọ”?

NGUYÊN THỦY: Thưa chị Liên Bích, “Sức khỏe được vun bồi bằng nếp sống, qua từng bữa ăn.” Có người nghe trà xanh tốt, mua ngay một hộp lớn; nghe tàu hũ tốt, ăn liền mấy bữa. Nhưng rồi thức khuya, ít hoạt động, đi bộ, thuốc lá vẫn đều đều… thì chén trà xanh hoặc bao nhiêu gói đậu hũ cũng khó mà … cáng đáng cho hết!

Ăn uống tốt cần sự bền bỉ. Mỗi ngày sửa một chút, giữ lâu thành thói quen nề nếp, thì có lẽ thiết thực hơn chạy theo một thực phẩm được quảng cáo là món thần kỳ.

 

CHỊ LIÊN BÍCH: Giữ thành khuôn khổ nề nếp mới khó. Vậy thì người Nhật ăn gì và ăn như thế nào thưa anh chị?

MAI THANH TRUYẾT: Thiết nghĩ sự đa dạng là điều đáng học. Điều quan trọng không phải một món ăn thần kỳ, mà là cả một “cấu trúc ăn uống”. -  Một bữa ăn Nhật truyền thống thường có cấu trúc rất rõ: Theo mô hình kinh điển là “I-chi-jū Sansai”, nghĩa là Một món canh + Ba món ăn kèm, thường cùng với cơm. Ví dụ: Rau xanh, khoai củ tươi tạo nên bữa ăn quân bình.

Rong biển dùng như một món trong thực đơn, không cần xem là thuốc bổ để ăn thật nhiều. Nguyên tắc chung vẫn là thay đổi thực phẩm, ăn đủ nhu cầu, bớt lệ thuộc vào món quá ngọt, quá mặn hoặc nhiều chất béo không thuận lợi.

 

CHỊ LIÊN BÍCH: Nguyên liệu quen thuộc cũng đủ để bắt đầu mời mọc khẩu vị của chúng ta phải không anh chị?

NGUYÊN THỦY: Thưa chị Liên Bích và quý vị, Nhiều khi bụng đã đủ mà miệng chưa chịu… ký giấy nghỉ! Người mình hiếu khách, hay mời: “Ăn thêm chút nữa!” Người được mời lại sợ phụ lòng. Thành ra sự hiếu khách đi một vòng rồi đáp xuống bàn ăn. Nói về cách tổ chức của người Nhật, họ biến một bữa ăn có nhiều loại thực phẩm với một lượng nhỏ. Đây chính là đặc điểm nổi bật của Washoku. Washoku là văn hóa ẩm thực truyền thống của Nhật Bản, được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa Phi vật thể - Intangible Cultural Heritage, nhờ tinh thần tôn trọng thiên nhiên, tính bền vững và sự hài hòa.

 

CHỊ LIÊN BÍCH: Sự hài hòa trong ẩm thực của Nhật thật là hay. Cám ơn Nguyên Thủy.

Liên Bích thường nghe nói: Ăn “tám mươi phần trăm no” nghĩa là sao?

MAI THANH TRUYẾT: Thưa cô Liên Bích, “Hara hachi bu” là lời nhắc thường được gắn với

truyền thống Okinawa: Hãy dừng khi cảm thấy đã gần đủ, thay vì cố ăn đến căng bụng. Đó là cách nói giúp mình biết chừng mực, không phải con số để cân đo chính xác. Ăn chậm, lấy phần vừa phải rồi xem mình còn đói không là cách dễ kiểm soát. Đây là một tập quán văn hóa thường được nhắc đến trong nghiên cứu về Okinawa và chế độ ăn truyền thống Nhật. Với người Nhật, không chỉ hỏi:  “Tôi ăn cái gì?”, mà còn phải hỏi: “Tôi ăn bao nhiêu?” và “Tôi ăn như thế nào?” Một nghiên cứu lớn trên hơn 81% người Nhật cũng xác định một mô hình ăn uống lành mạnh đặc trưng bởi rau, trái cây, đậu nành, khoai, rong biển, nấm và cá … làm tăng tuổi thọ của họ.

 

CHỊ LIÊN BÍCH: Có nghĩa là ăn vừa đủ cho từng người, chớ không phải ai cũng ăn ít. Vậy thì có cách nào để giúp chúng ta dễ làm theo không anh chị?

NGUYÊN THỦY: Thưa chị, Nguyên Thủy nhớ câu nói này: “Ăn để nuôi mình, đừng ăn đến mệt mình.” Ăn chậm còn cho mình dịp thưởng thức. Nếu vừa ăn vừa xem TV, nghe điện thoại,

có khi ăn hết chén rồi mà chẳng nhớ ngon hay dở. Bữa ăn mang lại dinh dưỡng cho cơ thể và cũng là dịp người trong nhà “nuôi dưỡng” tình thân với nhau.

 

CHỊ LIÊN BÍCH: Nghe nói Trà Xanh của Nhật rất nổi tiếng và người Nhật uống rất nhiều trà Xanh. Vậy Trà Xanh có đặc điểm gì trong ẩm thực của người Nhật vậy anh chị?

MAI THANH TRUYẾT: Trà xanh là thức uống truyền thống quan trọng của người Nhật. Khác với trà Trung Hoa hay Việt Nam thường dùng phương pháp rang cho khô, lá trà Nhật Bản được hấp bằng hơi nước ngay sau khi hái để giữ lại trọn vẹn màu xanh tươi, hương thơm tự nhiên và các dưỡng chất chống oxy hóa (catechin). Hương vị đặc trưng: Trà có vị thanh mát, hậu ngọt sâu, thoảng hương rong biển/cỏ non và vị umami  là vị ngọt đậm đà tự nhiên.

Các loại trà xanh phổ biến:

  • Sencha: Trà xanh phổ biến nhất hàng ngày.
  • Matcha: Trà xanh nghiền mịn thành bột, dùng uống trực tiếp hoặc làm bánh.
  • Gyokuro: Trà cao cấp được che nắng trước khi hái, vị ngọt đậm và giàu umami nhất.

Triết lý thưởng thức trà: là gắn liền với sự tĩnh lặng, tinh tế và tính kỷ luật trong văn hóa trà đạo truyền thống của người Nhật. Điểm đáng nói là trà thường thay thế một phần các loại nước uống nhiều đường. Ngoài ra, một điều cần đặc biệt lưu ý: MUỐI. Đây, có thể nói là “mặt trái” của chế độ ăn uống của Nhật. Miso, nước tương, đồ muối chua, cá muối, súp... có thể chứa khá nhiều sodium. Người Nhật trong cách nêm nếm thức ăn, cho vào rất nhiều muối; lượng muối trung bình của người Nhật vẫn còn cao hơn mức được khuyến nghị của Tổ chức Y tế Thế giới. Vì vậy, chúng ta không thể nói đơn giản rằng “ăn kiểu Nhật là hoàn toàn tốt”.

 

CHỊ LIÊN BÍCH: Cám ơn anh Mai Thanh Truyết.

Chương trình sẽ trở lại sau phần thông tin thương mại.

 

Phần II - Công thức ăn uống của Nhật

- Japanese Food Guide Spinning Top

 

CHỊ LIÊN BÍCH: Liên Bích nghe nói về mô hình “con quay” của Nhật. Mô hình này là gì?

MAI THANH TRUYẾT: Mô hình này gọi là “Spinning Top”? Hình minh họa giống như một con quay/con vụ đang xoay.

Phần lớn nhất: Ở phía trên cùng của mô hình là cơm, bánh mì, mì Nhật, các loại ngũ cốc/tinh bột. Đây là nguồn năng lượng chính. Điều đáng chú ý là Nhật không loại bỏ carbohydrate. Đây là điểm rất khác với một số chế độ ăn hiện nay theo quan niệm “carb là kẻ thù” ở các quốc gia Tây phương. Nhưng thực ra, vấn đề nằm ở lượng ăn và loại carbohydrate. Một người Nhật truyền thống có thể ăn cơm hằng ngày nhưng đồng thời ăn: cá + rau + đậu + rong biển + nấm … chứ không phải một tô cơm thật lớn đi cùng rất ít rau. Mô hình không nói: “Không ăn thịt.” Mà đặt chung nhóm: cá + thịt + trứng + đậu nành và sản phẩm đậu nành.

Như vậy, trong kiểu ăn truyền thống Nhật, cá và đậu nành có vị trí rất quan trọng. Ví dụ: cá nướng, sashimi (cá sống), tofu, natto, đậu nành,  và trứng. Điều này tạo ra một nguồn protein đa dạng mà không cần phải dựa quá nhiều vào thịt đỏ

 

CHỊ LIÊN BÍCH: Vậy thì có ăn, có vận động thì con quay mới vững.

NGUYÊN THỦY: Điều này rất dễ nhớ, thưa chị. Mình chăm chút thực đơn đủ điều mà cả ngày chỉ đi từ bàn ăn qua ghế ngồi thì con quay cũng hơi… ngại xoay! Bài học thấm hơn từ cái “Spinning Top” Con quay muốn đứng vững phải xoay liên tục, điều đó gợi ra một ý nghĩ rất hay là, sức khỏe không phải là một trạng thái đạt được một lần rồi giữ mãi. Nó là một quá trình phải được duy trì mỗi ngày. Hôm nay ăn rất tốt nhưng ngày mai ăn quá mức, rồi cả tuần không vận động, thì, dĩ nhiên… “con quay” sẽ bị mất thăng bằng. Vì vậy, nếu nối với câu chuyện tuổi thọ Nhật Bản của chúng ta thì: Thực phẩm tốt chỉ là một phần. Khẩu phần vừa phải là một phần khác. Cách ăn lại là một phần khác nữa. Và cuối cùng là vận động đều mỗi ngày. Đó mới là toàn bộ triết lý phía sau Japanese Food Guide Spinning Top.

 

CHỊ LIÊN BÍCH: Một thay đổi nhỏ, rất dễ làm. Vậy thì “Bí quyết sống thọ tại Okinawa” là gì?

MAI THANH TRUYẾT: Bí quyết sống thọ tại Okinawa là chế độ ăn truyền thống của Okinawa chứa rất ít calori nhưng lại rất giàu chất chống oxy hóa và kháng viêm: Về chế độ ăn uống lành mạnh: Người dân ăn nhiều rau củ, khoai lang, tàu hũ, và các loại cá biển. Họ áp dụng nguyên tắc Hara Hachi Bu - ăn no 80% . Họ vận động thường xuyên, duy trì thói quen đi bộ và làm vườn hằng ngày.

Luôn giữ tinh thần lạc quan: Cư dân luôn có "Ikigai" (lẽ sống) rõ ràng, giúp họ vui vẻ và yêu đời mỗi ngày. Luôn gắn kết với cộng đồng: Họ có mạng lưới hỗ trợ xã hội vững chắc gọi là "Moai", giúp chia sẻ cả về vật chất lẫn tinh thần. Nếu muốn tìm hiểu sâu hơn, chi tiết hơn, chúng ta có thể chia sẻ thêm về: Khoai lang tím: Đây là loại khoai nhiều người ưa chuộng vì là nguồn

cung cấp tinh bột chính, chiếm đến 60% khẩu phần ăn hàng ngày của họ. Khoai lang tím Okinawa có chỉ số đường huyết thấp và chứa lượng lớn chất chống oxy hóa anthocyanin. Kế đến là: Đậu nành và Tàu hũ: Họ ăn khoảng 2 phần đậu nành mỗi ngày dưới dạng đậu hũ tươi, súp miso hoặc đậu edamame.

Tàu hũ Okinawa đặc biệt nổi tiếng là giàu protein hơn tàu hũ thông thường.

Các loại Rau Củ: Người dân ăn trung bình 7 phần rau mỗi ngày. Đặc biệt là khổ qua (mướp đắng), đu đủ xanh, rau biển và củ cải daikon. Và chỉ cần nhớ là giảm MUỐI trong các thức ăn.

 

CHỊ LIÊN BÍCH: Cám ơn anh Mai Thanh Truyết cho biết những chi tiết thú vị này. Nhắc chuyện bớt muối ngay trước mặt “Tiến sĩ Muối có làm cho Nguyên Thủy buồn không?

 

NGUYÊN THỦY: Chị Liên Bích nhắc lại thì Nguyên Thủy phải cám ơn chị đã tặng cho NT

Biệt danh “Tiến sĩ MUỐI” qua đề tài MUỐI trong một chương trình trước đây. Dạ thưa không buồn đâu chị! Bởi vì Muối trong tình nghĩa thì xin vừa đủ mặn mà; Muối trong thức ăn thì xin đừng quá dư thừa.

Chúng ta có thể dùng thêm chanh, gừng, hành, rau thơm cho món ăn tăng hương vị. Nước chấm cùng nên chấm nhẹ tay. Đừng để miếng rau phải bơi một vòng trong chén nước chấm rồi mới được lên đến miệng! Nguyên Thủy có biệt danh là Muối, nhưng hôm nay xin tình nguyện vận động quý vị bớt ăn mặn.

 

CHỊ LIÊN BÍCH: Thật là duyên dáng. Cám ơn Ts MUỐI. Một trong những yếu tố người Nhật sống thọ là cách giữ tinh thần lạc quan. Xin anh chị nói rõ thêm phần này.

MAI THANH TRUYẾT: Thưa cô Liên Bích và quý vị, ý chính của Tinh thần Lạc quan người Nhật gọi là Ikigai có nghĩa là điều khiến ta cảm thấy cuộc sống có ý nghĩa và có lý do để thức dậy mỗi sáng.

Điều ấy có thể rất giản dị: chăm sóc người thân, làm điều có ích, gìn giữ các mối thân tình và tìm niềm vui trong những việc nhỏ mỗi ngày. Để nuôi dưỡng Ikigai, hãy bắt đầu từ việc nhỏ, chấp nhận bản thân, sống trong hiện tại và kết nối với người khác. Sống có mục đích giúp ta giữ tinh thần lạc quan và có thể góp phần vào một cuộc sống khỏe mạnh, trọn vẹn hơn.

Mỗi sáng, có người để thương, có việc ý nghĩa để làm, có niềm vui để đón chờ. 🌻

 

NGUYÊN THỦY: Nguyên Thủy xin tiếp lời: Nếu chúng ta không biết nên bắt đầu từ đâu, Ken Mogi, một nhà thần kinh học và cũng là tác giả cuốn sách bán chạy mang tên “Awakening Your Ikigai”. Theo người Nhật, mỗi người đều có một Ikigai tiềm ẩn. Dan Buettner, tác giả của quyển sách: “Blue Zones: Lessons on Living Longer from the People Who’ve Lived the Longest”. “Những bài học về việc sống lâu hơn từ những người đã sống lâu nhất”. Tác giả cho rằng khái niệm Ikigai là điều mang lại ý nghĩa và niềm vui, giúp ta có lý do để thức dậy mỗi sáng, không dành riêng cho người Okinawa mà có thể áp dụng cho khắp mọi nơi trên quả địa cầu nầy.

 

CHỊ LIÊN BÍCH: Thật là một tinh thần lạc quan giản dị và tuyệt vời. Như vậy thì giá trị chính của tinh thần này là gì thưa anh chị?

MAI THANH TRUYẾT: Ông Dan Buettner, tác giả cuốn sách đề nghị lập ba danh sách:

1.    giá trị của bạn

2.    những điều bạn thích làm và

3.    những điều bạn giỏi.

Và điểm hội tụ của ba điều kể trên chính là: Ikigai của bạn.

Vậy, chúng ta bạn làm thế nào để học được cung cách ăn uống

Okinawa truyền thống nhằm giữ được sự cân bằng lượng cho cơ thể?

 

Ikigai là lý do để bạn thức dậy đầy phấn khởi vào mỗi sáng.

Trong cuộc sống hiện đại, Ikigai là điểm giao thoa hoàn hảo của

4 vòng câu hỏi nhưng KHÔNG nhất thiết phải có đủ cả 4 lãnh vực.

  1. Bạn yêu thích hoặc đam mê điều gì?

Những việc làm khiến bạn quên hết thời gian, mang lại niềm vui thuần khiết

(Ví dụ: vẽ tranh, viết lách, trồng cây, làm mộc).

  1. Bạn giỏi /ưu điểm của bạn là điều gì? (Thế mạnh):

Những kỹ năng bạn làm tốt một cách tự nhiên hoặc do rèn luyện lâu năm.

  1. Sứ mệnh của bạn là gì? (Sứ mệnh):

Những việc bạn có thể đóng góp để giúp đỡ cộng đồng hoặc giải quyết một vấn đề xã hội.

  1. Sự nghiệp/Việc gì giúp bạn kiếm ra tiền?

Những giá trị, sản phẩm hoặc dịch vụ mà người khác sẵn sàng chi trả cho bạn.

 

Lời khuyên từ người cao niên ở Okinawa:

Ikigai có thể đến từ những niềm vui giản dị hằng ngày:

-          làm điều mình yêu thích

-          chủ động trong cuộc sống và

-          gắn bó với những người thân yêu.

Thưa cô Liên Bích và quý thính giả, Nơi chốn của tuổi thọ, suy cho cùng, chưa bao giờ nằm ở những thực phẩm thần kỳ, mà ẩn sâu trong tinh thần điều độ và sự tự kỷ luật được nuôi dưỡng suốt một đời người. Nhìn lại truyền thống quê nhà, từ làn khói bếp bữa cơm gia đình với chén canh rau ngót, con cá muối xã ớt đạm bạc, cho đến lời dặn dò “ăn coi nồi, ngồi coi hướng”; Cha ông chúng ta từ ngàn xưa đã giữ sẵn sự chừng mực. Khi những giá trị thân thương ấy được soi sáng bởi ánh sáng khoa học, ta biết trân quý cái cũ, hòa cùng cái mới để nếp sống thêm phần tinh tế.

Học người Nhật, đâu phải tìm kiếm những món ăn xa vời, mà là học tấm lòng biết dừng lại đúng lúc: không buông thả, chẳng kiêng khem. “Biến hiểu biết thành thói quen, biến kỷ luật thành hơi thở tự nhiên.” Đó mới là cội nguồn của sự trường thọ."

Ông bà chúng ta đã dạy: "Ăn để sống, chứ không sống để ăn”.

Câu nói nằm lòng này giữ cho chúng ta một nhịp sống có chừng mực, có trách nhiệm, đó chính là cách đẹp đẽ nhất để ta tôn trọng và trân quý món quà của sự sống.

 

CHỊ LIÊN BÍCH: Cám ơn anh Mai Thanh Truyết chuyển lại những lời khuyên hữu ích của người Okinawa và kết hợp với văn hóa và triết lý sống của quê nhà. Mời Nguyên Thủy đúc kết bài nói chuyện hôm nay.

NGUYÊN THỦY: Thưa quý vị, sống lâu là điều đáng quý; còn đủ sức vui sống  với người mình thương yêu lại càng quý hơn. Đây là một câu nói gợi cảm hứng từ cố Tổng thống thứ 33 của Hoa kỳ - Harry Newman: "Điều quan trọng không phải là bạn sống được bao nhiêu năm,

mà là bạn đã mang lại bao nhiêu sự sống vào những năm tháng đó". Xin bắt đầu từ bữa cơm hàng ngày của chúng ta với: thêm rau, bớt mặn, bớt ngọt, ăn vừa bụng. Công thức cách ăn của người Nhật là: “ăn nhiều thứ – mỗi thứ một ít – ăn vừa đủ – ăn đều đặn”.

Mong rằng mỗi sáng thức dậy, chúng ta vẫn có: một điều để mong chờ, một việc để làm và một người để yêu thương.

 

Xin cảm ơn chị Liên Bích và quý vị đã cùng theo dõi chương trình.

Kính chúc quý vị: “Phúc như Đông Hải trường lưu thủy; Thọ bích Nam Sơn bất lão sơn."

(Tạm dịch: Chúc quý vị phúc lộc dồi dào như nước biển Đông chảy mãi không ngừng,

và tuổi thọ vững vàng, trường tồn như núi Nam Sơn không bao giờ già.)

 

CHỊ LIÊN BÍCH: Ô là la. Hôm nay tiến sỉ MUỐI lại xổ NHO.

Cám ơn lời chúc của Nguyên Thủy. Grand BouquetThưa quý thính giả, bài học từ người Nhật nằm trong những

thói quen giản dị được duy trì liên tục lâu dài.

 

Mai Thanh Truyết và Nguyên Thủy xin kính chào và cám ơn quý vị đã theo dõi chương trình.

 

Liên Bích kính chào và hẹn gặp lại quý vị trong câu chuyện kế tiếp của “Chuyện Đời Thường”.

 

Cám ơn Người Host tuyệt vời !!!

 

 


https://drive.google.com/file/d/19YMZxA49odaFYi4m_CJpC_E-V7BdodpT/view?usp=drive_link